PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
1. Lý do khách quan:
Đất nước ta đang trong thời kỳ mở cửa giao lưu kinh tế, văn hóa với các
nước trên thế giới, nền kinh tế ngày càng phát triển nhưng cũng có không ít hạn
chế làm ảnh hưởng, tác động đến đời sống của nhân dân đặc biệt là tầng lớp thanh
thiếu niên – chủ nhân của tương lai của nước nhà. Chính vì thế, vai trò giáo dục
của nhà trường, gia đình và xã hội là rất quan trọng giúp hình thành một thế hệ trẻ
năng động, góp phần đưa nước nhà đi lên. Làm được điều đó đòi hỏi phần lớn ở
những thầy giáo, cô giáo, đặc biệt là đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ Văn
-
người luôn truyền thụ kiến thức và hướng các em đến với cái Chân - Thiện – Mĩ
,
giúp các em học sinh hiểu và suy nghĩ đúng đắn, biết cách ứng xử phù hợp với
chuẩn mực đạo đức, thái độ tốt đối với xã hội, với mọi người và ngay với chính
bản thân các em.
2. Lý do chủ quan:
Đầu tháng 11 năm 2013, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ban hành Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI với nội dung đổi mới căn
bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo. Mục tiêu Giáo dục được thực hiện trong đề án
là: phát triển năng lực công dân, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Thực hiện
tốt các nguyên lí “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí
luận gắn với thực tiễn, giáo dục kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội”.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang tập trung phát
triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
Cùng với các môn học khác, với mục tiêu trang bị kiến thức cho học sinh THCS
mặt bằng tri thức và năng lực cảm thụ, phân tích tác phẩm văn chương, nhằm bồi
đắp, nâng cao nhu cầu và khả năng hưởng thụ thẩm mĩ cho học sinh cấp học này,
vấn đề đổi mới dạy học Ngữ văn cũng cần có những thay đổi căn bản nhằm đáp
ứng các mục tiêu trên.
Xuất phát từ mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng và đề cao ý
văn.
2. Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để tìm ra các cách khám phá văn bản có tính thực
tế.
- Tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, thái độ, sự ham thích học văn của học sinh.
- Phân loại đối tượng học sinh, khả năng tiếp thu kiến thức cũng như trình độ kiến
thức của các em.
- Dự giờ thăm lớp để nắm kĩ đối tượng học sinh và học hỏi những kinh nghiệm về
cách tạo hứng thú trong phương pháp giảng dạy.
- Có kế hoạch trao đổi với tổ chuyên môn để áp dụng kinh nghiệm vào tiết dạy
Ngữ văn ở các khối lớp.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9A1, 7A1, 6A1 - Trường THCS Nguyễn Huệ - Xã Ea Mnang –
Huyện CưMgar – Tỉnh Đăk Lăk.
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Do điều kiện và thời gian có hạn nên tôi chỉ áp dụng nghiên cứu phương
pháp này ở tiết học của các lớp chọn: 9A1, 7A1, 6A1 Trường THCS Nguyễn Huệ
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 3 Năm Học 2014-2015
- Xã Ea Mnang – Huyện CưMgar – Tỉnh Đăk Lăk.
V. Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này tôi đã chọn các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp tra cứu.
- Phương pháp quan sát thực nghiệm, phân tích sản phẩm.
- Phương pháp trò chuyện, đàm thoại .
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình.
- Phương pháp giao nhiệm vụ.
- Phương pháp đóng vai.
- Phương pháp tổng kết giáo dục.
và trò trở nên gần gũi, cùng chia sẻ những hiểu biết, những cảm xúc…
Như vậy, phương pháp này xây dựng cho học sinh khả năng tự học, đánh thức
tư duy nghiên cứu độc lập, tạo dựng khả năng liên kết nhóm, sự tự tin và kĩ năng
thuyết trình vấn đề….Đặc biệt nó còn giúp cho học sinh hiểu bài sâu, nhớ bài lâu
do các em được sống và thể nghiệm vào tác phẩm. Đúng như một nhà giáo dục học
người Mỹ từng nói : “Trước một vấn đề, thầy nói cho tôi, tôi sẽ quên, cho tôi xem,
có thể tôi sẽ không nhớ, nhưng cho tôi tham gia thì tôi sẽ hiểu. Tôi hiểu bởi thầy
đã dạy cho tôi cách học mà tôi không bao giờ thấy trong bất kì quyển sách nào”…
2. Cơ sở thực tiễn.
Chúng ta thấy rằng việc đổi mới phương pháp dạy học đã đem lại nhiều kết quả
khả quan, tuy nhiên trong những năn gần đây, học sinh các trường THCS trên địa
bàn Huyện Cư Mgar nói chung và học sinh trường THCS Nguyễn Huệ nói riêng
rất yếu môn Ngữ văn, không mấy mặn mà với môn học từng một thời làm kim chỉ
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 5 Năm Học 2014-2015
nam cho mọi hoạt động. Có một thực tế không thể phủ nhận là mặc dù đã học tới
cấp THCS nhưng vẫn còn khá nhiều em chưa đọc thông viết thạo, vốn từ ngữ
nghèo nàn, diễn đạt kém, đây là trở ngại lớn trong quá trình tìm hiểu, khám phá
những kiến thức cao hơn, trừu tượng hơn. Bên cạnh đó cách học của các em
thường là đọc thuộc, sao chép, nói lại ý của thầy cô cho ghi trong vở mà không
hoặc ít có sự sáng tạo. Mặt khác thị trường sách hiện nay rất đa dạng và phong
phú, thêm vào đó, mạng Internet đã vào tới từng bản làng ngõ xóm nên khả năng tư
duy của các em lại càng mai một dần khi tiếp cận một tác phẩm văn chương.
Hơn nữa hiện nay đứng trước cơn lốc của cơ chế thị trường, nhiều giá trị
nhân văn có nguy cơ bị xói mòn, mai một. Từ thực tế đó, đòi hỏi người giáo viên
nói chung và giáo viên dạy Văn nói riêng phải nhận thức được những thử thách
khốc liệt phía trước. Bối cảnh đó cũng khiến cho con đường dẫn dắt học sinh tiếp
cận với tác phẩm văn chương, tìm hiểu giá trị truyền thống trở nên nhọc nhằn hơn,
đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt hơn về phương pháp giảng dạy mới có thể
tạo hứng thú cho các em được.
II. Thực trạng của vấn đề
năng nghiên cứu khoa học, khả năng nói trước đám đông, khả năng diễn xuất, kĩ
năng thuyết trình, tổ chức …từ đó giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp và
sinh hoạt.
2. Mặt mạnh – mặt yếu:
a. Mặt mạnh:
Vừa qua, Phòng Giáo dục có tổ chức cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp, qua
cuộc thi tôi có cơ hội được tham khảo một số giáo án hay, có tính thực tiễn cao nên
tôi đã vận dụng làm tư liệu cho bài viết của mình.
Hơn nữa, được công tác gần nhà nên việc soạn giảng, cũng như lên kế hoạch và
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 7 Năm Học 2014-2015
phương pháp, biện pháp giảng dạy có phần thuận lợi.
Khối lớp tôi giảng dạy là các em học sinh lớp 7, 9 nên đã có ý thức học tập tốt.
Các em tích cực chủ động trong cách chuẩn bị bài ở nhà, lên lớp lĩnh hội bài học có
phần hào hứng hơn, mạnh dạn trao đổi ý kiến với thầy cô và các bạn hơn.
b. Mặt yếu:
Do những khó khăn nhất định mà không phải tiết học nào cũng áp dụng được
hình thức này, mỗi kì chỉ chọn một vài tác phẩm hay ở các khối lớp để học sinh có
đất diễn. Mặt khác, việc thực hiện phương pháp này đòi hỏi học sinh phải có học
lực khá, giỏi, khả năng tư duy nhanh nhẹn, thế nhưng ở một địa phương là vùng
sâu, vùng xa như trường chúng tôi thì trình độ tiếp thu của các em không đồng đều,
điều kiện vật chất còn thiếu thốn nên không thể áp dụng hết được tất cả các lớp học
ở tất cả các khối.
3. Thành công – hạn chế:
a. Thành công:
Trong các năm học gần đây nhờ sự đầu tư về cơ sở vật chất của nhà trường,
sự quan tâm sát sao của phụ huynh trong việc học của con cái, ý thức học tập, tính
tự giác của các em được nâng cao dẫn đến kết quả học tập cũng thu được thành
công nhất định. Chất lượng đại trà được ổn định, chất lượng mũi nhọn có sự khởi
sắc.
b. Hạn chế:
SL TL% SL % SL % SL %
9A1 31 04 12,9% 17 54,8% 10 32,3% 0 0%
6A1 29 05 17,2% 16 55,2% 8 27,6% 0 %
Tôi đã khảo sát trên tổng số 60 học sinh của hai lớp 9A1, 7A1 và trên cơ sở ấy
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 9 Năm Học 2014-2015
trong năm học, chúng tôi đã bước đầu áp dụng dạy học văn bằng phương pháp
“Trả tác phẩm về cho học sinh” ở ba nhóm văn bản là văn bản nhật dụng (Ngữ
Văn 7), văn bản truyện hiện đại (Ngữ Văn 9) và trong đợt thi chọn giáo viên dạy
giỏi cấp trường tôi có thử nghiệm trên một tiết dạy văn bản truyện ngụ ngôn (Ngữ
văn 6). Cũng trong năm này, để tham gia cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp,
tôi có điều kiện được tham khảo một số giáo án của các chị đồng nghiệp, đây là cơ
hội cho tôi được học hỏi thêm kinh nghiệm để bổ sung vào sáng kiến này. Các
hoạt động dạy – học trong bài đều được tổ chức theo tinh thần của phương pháp
“Trả tác phẩm về cho học sinh” phù hợp với đặc điểm, tình hình của học sinh
trường chúng tôi cụ thể như sau :
2.1. Áp dụng phương pháp “Trả tác phẩm về cho học sinh” trong dạy – học văn
bản truyện hiện đại (Ngữ Văn 9) :
Để có 02 tiết học trên lớp theo thời khóa biểu, chúng tôi đã tiến hành dạy – học
văn bản “ Lặng lẽ Sa Pa” theo tiến trình sau :
Bước 1: Chuẩn bị : (Hoạt động này được tiến hành trước 02 tuần so với thời gian
diễn ra bài học trên lớp theo phân phối chương trình). Lớp 9A1 gồm 31 học sinh
được chia thành 4 nhóm :
* Nhóm viết : Chịu trách nhiệm soạn thảo văn bản về các vấn đề sau :
- Tác giả Nguyễn Thành Long ( Ngoài những thông tin trong SGK, các em có thể
thu thập thêm những kiến thức liên quan tới tác giả ở trên mạng Internet hoặc các
sách tham khảo để cho bài nói của mình thêm phong phú.)
- Hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. ( Đặc biệt chú ý hoàn cảnh
đất nước ta trong giai đoạn tác phẩm ra đời để nhấn mạnh vẻ đẹp của con nười
trong giai đoạn này.)
- Những nét chính về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 12 Năm Học 2014-2015
vườn rau, anh cán bộ khí tượng chuyên tâm nghiên cứu, thiết lập bản đồ sét…
- Tâm trạng của ông họa sĩ khi đứng trước “bức chân dung” mà cả đời sáng tác nay
mới bắt gặp?
- “Bó hoa” mà cô kĩ sư nhận được có ý nghĩa gì đối với cuộc hành trình của cô?
- Tại sao các nhân vật trong tác phẩm đều không có tên?
- Nhan đề của tác phẩm có gì đặc biệt? Nếu được đặt thêm nhan đề cho tác phẩm
thì bạn sẽ đặt nhan đề như thế nào?
- Văn bản có giá trị như thế nào trong thời điểm nó ra đời?
- Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Hoạt động 5: Hướng dẫn học sinh thực hiện phần “Luyện tập”.
- Trong bài học này, chúng tôi hướng dẫn học sinh làm việc cá nhân bằng cách yêu
cầu các em viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ về điều đã để lại ấn tượng sâu sắc
nhất cho các em sau khi được đọc, xem tiểu phẩm và học truyện ngắn “Lặng lẽ Sa
Pa”.
- Từ việc cảm nhận về thiên nhiên và con người nơi đây, em hãy vẽ một bức tranh
phác họa lại vẻ đẹp đó. (Sản phẩm này sẽ nộp vào tiết học sau.)
2.2 Áp dụng phương pháp “Trả tác phẩm về cho học sinh” trong tiết dạy truyện
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 13 Năm Học 2014-2015
ngụ ngôn: (Ngữ văn 6)
Cũng với cách làm như trên, trong kì thi chọn giáo viên dạy giỏi cấp trường, tôi
có thực hiện tiết dạy truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đấy giếng, cách tiến hành như sau:
Bước 1: Chuẩn bị. Tôi chia nhóm cho học sinh trước một tuần để chuẩn bị:
* Nhóm 1: Viết kịch bản Ếch ngồi đáy giếng, xây dựng kịch bản thành một tiểu
phẩm. Phân vai nhân vật. (Có sự hỗ trợ của giáo viên).
Các vai: Ếch, nhái, cua , trâu vàng và người dẫn truyện.
Người dẫn: Thưa bà con, câu chuyện chúng tôi sẽ kể là chuyện một chú ếch trong
giếng sâu, quen thói hung hăng coi trời bằng vung. Về sau ếch bị một tai hoạ, từ đó
mới tỉnh ngộ, bỏ thói hung hăng, kiêu ngạo. Vở kịch xin được bắt đầu.
Ếch: Ê nhóc! Cái vàu xanh xanh kia là gì mày?
Ốc: Là trời chứ là gì? Hỏi vớ vẩn.
Ếch: Bố láo! Trời bằng cái vung cơ mà. Ta ngu gì mà tin ngươi.
Ốc: Thôi, thôi! Buông áo tôi ra cho tôi đi học.
Ếch: Đi học…hi!Hi…đi học là cái gì hả mày?
Người dẫn: Ốc bò đi, ếch nhìn theo bĩu môi.
Ếch: Học với chả hành. Cua cóc trăm nhà. Cứ như ta đây. Thấy ta nem nép. Chúa
cả một cõi. Thấy ta là thấy trời…haha.
Người dẫn: Ếch đang say sưa thì bị một con trâu vàng đi qua giẫm bẹp dí xuống
đất. Ếch nhắm tịt mắt kêu la.
Ếch: Á! A! A! giẫm chết ta rồi hu …hu.Thằng mù nào…(quay lại nhìn).
Trâu vàng: Con ếch ranh này làm bẩn chân ta.
Ếch: Ối!ối! Giời ơi! Quỷ ma ơi, cứu ta với…
Người dẫn: Ếch ngất xỉu. Nhái ,cua, ốc chạy ra, nhặt ếch nằm bệp giữa đường đem
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 15 Năm Học 2014-2015
về giếng. Vừa đi vừa than:
Cua, nhái, ốc: (đồng thanh) Rõ khổ ông ếch. Học hành qua loa. Đất gần trời xa.
Tưởng mình bá chủ. Nên nông nỗi này!
* Nhóm 3: Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, bám vào phần đọc hiểu trong sách giáo
khoa, ngoài ra bổ sung thêm một số câu hỏi khác.
* Nhóm 4: Chuẩn bị kĩ phần nội dung và nghệ thuật để trả lời các câu hỏi của
nhóm 3.
* Nhóm 5: Xây dựng sân khấu, trang phục biểu diễn (cắt hình nộm các con vật
bằng giấy rôki).
Bước 2: Hoạt động dạy và học trên lớp.
* Hoạt động 1:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh chỗ ngồi, cách sắp xếp bàn ghế, tạo không gian
rộng thoáng, học sinh có thể quan sát được. (Vì là đối tượng học sinh lớp 6 còn
nhỏ, chưa quen với cách làm việc năng động nên GV cần hỗ trợ nhiều hơn.)
- Giáo viên giới thiệu thể loại truyện ngụ ngôn, một thể loại của truyện dân gian.
- Những thông tin về văn hóa Huế được 2 lần thế giới vinh danh.
- Không gian và thời gian biểu diễn ca Huế.
- Trang phục và nhạc cụ, nhạc công biểu diễn.
* Nhóm 2: Sưu tầm một số bức tranh về phong cảnh ở Huế, tranh biểu diễn ca Huế,
tranh một số di tích lịch sử, văn hóa đang bị xâm hại…
* Nhóm 3: Sưu tầm clip ca Huế, viết bài thể hiện vẻ đẹp của ca Huế và việc gìn
giữ, bảo tồn, và phát huy những nét đẹp của ca Huế.
* Nhóm 4: Vận dụng kiến thức liên môn Âm nhạc để biểu diễn một tiết mục dân ca
Huế ( có thể là một điệu hò, điệu lí mà các em đã học.)
Bước 2.Tổng hợp kết quả chuẩn bị của các nhóm trước khi tiến hành tổ chức các
hoạt động dạy học trên lớp:
- Học sinh các nhóm trình bày phần chuẩn bị như đã được phân công.
- Các nhóm thống nhất và cử 04 học sinh đại diện trình bày trước lớp theo bốn vấn
đề đã đặt ra ở phần chuẩn bị.
- Giáo viên bộ môn kết hợp với 4 học sinh đại diện thống nhất cách trình bày, lựa
chọn hình ảnh đưa vào giáo án trình chiếu trên máy chiếu.
Bước 3. Tổ chức các hoạt động dạy - học trên lớp :
* Hoạt động 1 : Giáo viên giới thiệu bài, mục đích, yêu cầu và phương pháp của
bài học. Hướng dẫn HS đọc –tìm hiểu chung về văn bản.
* Hoạt động 2 : Đại diện học sinh nhóm 1 trình bày:
- Vị trí địa lí, truyền thống lịch sử của Huế: Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở Duyên
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 18 Năm Học 2014-2015
hải miền Trung Việt Nam. Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp Lào, phía Bắc giáp
tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng. Chính vì có vị trí địa lí thuận
lợi như vậy Huế vừa là nơi giàu thắng cảnh, là địa bàn đa văn hóa, quy tụ nhiều di
tích lịch sử, di tích văn hóa, công trình kiến trúc độc đáo và bảo tồn không ít giá trị
văn hóa phi vật thể khác nhau.
Huế là kinh đô của quốc gia Việt Nam thống nhất từ năm 1802, sau khi Nguyễn
Ánh lên ngôi hoàng đế mở đầu cho nhà Nguyễn, vương triều cuối cùng trong lịch
sử Việt Nam. Huế kết thúc sứ mệnh là kinh đô vào năm 1945 khi hoàng đế cuối
Như vậy, “Ca Huế trên sông Hương” là tác phẩm thứ ba trong năm học 2014 –
2015 chúng tôi đã “trả” về cho học sinh của mình. Trong suốt thời gian chuẩn bị
cũng như trong tiến trình dạy – học trên lớp, chúng tôi đã đóng vai trò của người tư
vấn, hướng dẫn học sinh phát huy vai trò chủ động, tích cực để đọc sáng tạo tác
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 21 Năm Học 2014-2015
phẩm. Và qua hoạt động này, chúng tôi còn đạt được một thành công nữa đó là đã
bước đầu xây dựng được môi trường học tập thân thiện, hợp tác giúp cho các em
học sinh lớp 6 làm quen với nhiều cách học mới, các em học sinh lớp 7 có thêm
nhiều kĩ năng trong học tập và giao tiếp hằng ngày, các em học sinh lớp 9 ngoài
những kĩ năng trên thì có được những kỉ niệm đẹp về bạn bè, thầy cô và mái
trường thân yêu trong năm học cuối cùng của bậc học THCS….
Bên cạnh nhóm văn bản nhật dụng, văn bản truyện hiện đại trong chương trình
Ngữ Văn THCS còn nhiều nhóm văn bản khác có thể áp dụng phương pháp “Trả
tác phẩm về cho học sinh” như: các văn bản truyện dân gian (đặc biệt là truyện
cười, truyện ngụ ngôn), các văn bản kịch (chèo Quan âm Thị Kính – Ngữ Văn 7,
trích đoạn kịch Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục – Ngữ Văn 8, trích đoạn kịch Bắc
Sơn – Ngữ Văn 9), một số văn bản thơ, truyện khác … Tuy nhiên, các văn bản áp
dụng phương pháp này cần phải được chọn lọc kĩ càng để đạt hiệu quả cao nhất.
3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
Để quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ Văn thành công, giáo viên cần phải xác
định rõ các nguyên tắc sau:
Khi dạy văn bản thì các bước tiến trình thường hay giống nhau giữa các văn
bản. Đó là giáo viên cho học sinh đọc phần chú thích sách giáo khoa để rút ra
những nét chính về tác giả và tác phẩm, sau đó đọc lướt qua những từ khó rồi đọc
văn bản để cuối cùng là đi tìm hiểu văn bản thông qua hệ thống câu hỏi sách giáo
khoa. Giáo viên cứ lập đi, lập lại các bước tiến trình ấy trong mỗi giờ dạy học văn
bản sẽ tạo ra một đường mòn trong cách suy nghĩ, cách tiếp cận, khám phá một văn
bản ở học sinh. Có nhiều khi, giáo viên đã bỏ qua khâu đặt vấn đề để lôi kéo sự
chú ý của các em vào giờ học nên làm cho tiết dạy học văn trở nên nhàm chán, mệt
lượng lượng lượng lượng
9A1 31 6 19,4% 18 64,5% 4 16,3% 0 0
6A1 29 8 27,6% 19 65,5% 2 6,9% 0 0
Như vậy, Trong quá trình giảng dạy tại trường THCS Nguyễn Huệ trong năm
học 2014-2015, tôi đã áp dụng những kinh nghiệm này vào trong một số giờ giảng
văn của lớp 9A1, 7A1, 6A1 bước đầu tôi thấy kết quả thật khả quan.
1. Về phía học sinh :
- Phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ chức của một số em học sinh khá giỏi để
các em huy động và giúp đỡ các em còn hạn chế tham gia bài học cũng như trong
các phong trào chung của lớp. Giúp các em hào hứng hơn, say mê hơn trong học
tập.
- Rất nhiều kĩ năng được hình thành ở học sinh: kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng
nghiên cứu khoa học, kĩ năng nói trước đám đông, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng
vận dụng kiến thức liên môn để hiểu một bài học Ngữ Văn và giải quyết một tình
huống trong thực tiễn…
- Học sinh hiểu bài sâu, nhớ kỹ văn bản, lưu giữ những hình ảnh đẹp về giờ học,
bạn bè, thầy cô, mái trường.
- Học sinh hiểu biết về nhau hơn, gắn bó, đoàn kết, có trách nhiệm với nhau và
với công việc.
2. Về phía giáo viên :
- Hướng dẫn học sinh theo phương pháp này, bản thân người dạy cũng được
thành thạo hơn về kĩ năng nghiên cứu, tổ chức hội thảo khoa học…
- Để hướng dẫn học sinh làm việc, người dạy cũng có hiểu biết về các phương
diện liên quan, để vừa định hướng, vừa điều chỉnh, vừa sáng tạo cùng các em.
- Qua quá trình thực hiện bài học, thầy trò trở nên gần gũi, học sinh tin tưởng và
thêm yêu quý thầy cô của mình.
GV thực hiện: Trần Thị Hương Mai 24 Năm Học 2014-2015
- Các sản phẩm do học sinh tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo sẽ là nguồn bổ sung
cho hồ sơ bài giảng và là những gợi ý tiếp theo cho người giáo viên trong quá trình