Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
Thông tin chung về sáng kiến
1. Tên sáng kiến : Phơng pháp dạy - học hiệu quả phân môn vẽ
theo mẫu ở tiểu học.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Môn Mĩ thuật
3.Thời gian áp dụng sáng kiến : Từ ngày 15/9/2009 đến 5/5/2012
4. Tác giả :
Họ và tên : Nguyễn Phi Lân
Năm sinh : 14/08/1979
Nơi thờng trú : 106 đờng Nguyễn Văn Trỗi, phờng Năng Tĩnh,
TP Nam Định.
Trình độ chuyên môn : Cao đẳng s phạm Mĩ thuật.
Chức vụ công tác : Giáo viên Mĩ thuật.
Nơi làm việc : Trờng tiểu học A Đại Thắng
Địa chỉ liên hệ : 106 đờng Nguyễn Văn Trỗi, phờng Năng Tĩnh,
TP Nam Định.
Điện thoại : 0949482475
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến :
Tên đơn vị : Trờng tiểu học A Đại Thắng
Địa chỉ : xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Điện thoại : 03503.987652
- -
1
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
i. điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
1. Cơ sở lí luận.
Vẽ theo mẫu là một phân môn quan trọng, còn có thể nói là xơng
sống, trọng tâm và là nòng cốt của bộ môn mĩ thuật. Hơn nữa, với môn mĩ
thuật ở tiểu học chúng ta đang hớng dẫn học sinh cảm thụ mĩ thuật ở mức
Phi Lân
là vẽ hình chung trớc (tổng thể mẫu), sau rồi mới vẽ chi tiết (các bộ phận
nhỏ), và chu trình vẽ này đều đợc vận dụng trong tất cả các phân môn của bộ
môn mĩ thuật. Nói nh vậy để thấy rằng vẽ theo mẫu sẽ tạo đợc thói quen cơ
bản cho học sinh, đó là vẽ từ phần chung trớc, phần riêng sau; vẽ phần chính
trớc, phụ sau; vẽ đơn giản trớc, chi tiết sau; vẽ nét thẳng trớc, nét cong sau và
vẽ mảng chính trớc, mảng phụ sau.
Nói tóm lại vẽ theo mẫu có thể là kim chỉ nam cho các phân môn
còn lại của bộ môn mĩ thuật. Và đây sẽ là kiến thức cơ bản tạo đà để học
sinh tiếp tục khám phá và làm chủ cái đẹp trong chơng trình mĩ thuật đồng
tâm ở các cấp cao hơn , đặc biệt là biết vận dụng cái đẹp vào cuộc sống hằng
ngày.
2. thực trạng
a/ Đối với giáo viên.
Trong thực tế của ngành giáo dục, giáo viên của bộ môn mĩ thuật
trong những năm gần đây đã đợc chuyên biệt hoá cao. Tức là đã tơng đối đủ
chỉ tiêu giáo viên chuyên bộ môn mĩ thuật cho các trờng tiểu học. Nh vậy, ở
các trờng tiểu học, học sinh đã đợc học môn mĩ thuật do giáo viên chuyên
phụ trách. Nhng trong chơng trình giáo dục mĩ thuật tiểu học lại có tới 5
phân môn nhỏ, đòi hỏi ngời giáo viên phải vận dụng linh họat nhiều phơng
pháp giảng dạy thì mới có hiệu quả. Riêng đối với phân môn vẽ theo mẫu
phần nào đó bị tác động bởi điều kiện dạy học mà giáo viên cha chú ý tới ph-
ơng pháp hiệu quả của phân môn này. Giáo viên dạy còn phụ thuộc vào nói
suông hay còn gọi là dạy chay, mà dạy chay kiểu này rất không hiệu
quả, mà còn ảnh hởng lớn tới ý thức ban đầu về bộ môn. Yêu cầu của phân
môn vẽ theo mẫu là cho học sinh vẽ mẫu thực, quan sát mẫu thực. Nhng
cũng có nhiều lí do mà giáo viên vẫn cha chuẩn bị mẫu thực cho học sinh vẽ
đợc. Chính điều đó, khiến mỗi học sinh không nhận thức đợc đầy đủ kiến
thức, cũng nh kết quả của bài vẽ kém hiệu quả. Ngoài thực trạng trên vẫn
còn nhiều giáo viên sử dụng phơng pháp cũ mà giờ đây đã trở thành lạc hậu,
từ đó mô phỏng đợc gần giống với mẫu thực, không có sai sót chính về tỉ lệ,
hình dáng của mẫu; có ý thức bớc đầu về đậm nhạt.
b/ Đối với học sinh.
Bộ môn mĩ thuật nhìn chung học sinh đều có ý thức tích cực học tập,
yêu thích bộ môn. nhng xét về chuyên môn thì những ý thức ấy, sở thích ấy
cũng chỉ dừng ở trào lu đơn thuần do học môn này học sinh đợc tự do sáng
tạo, không khí học thoải mái hay nói đúng hơn học sinh đợc giải trí sau
nhiều tiết học căng thẳng khác. Chính vì điều này, mà chất thực sự của học
sinh qua bộ môn này cha hiệu quả cao. Tới tiết học mĩ thuật thờng học sinh
rất mong đợi nhng khi thực hành thì lại không tuân thủ (làm theo) các bớc cơ
bản đã đợc giáo viên hớng dẫn. Đặc biệt là phân môn vẽ theo mẫu nếu giáo
- -
4
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
viên chuẩn bị đợc mẫu thì học sinh cũng dờng nh không cần chú ý đến vật
mẫu đợc bầy ở trên bảng, cũng không cần vẽ theo góc nhìn của mình đối với
mẫu. Tôi đã nhận thấy một số tiết vẽ theo mẫu (có mẫu) nhng học sinh lại vẽ
theo hình minh họa bảng của giáo viên chứ không vẽ theo những gì mình
nhìn thấy.
Do ý thức vẽ nh vậy nên kết quả bài vẽ thờng không vẽ theo hớng tại
vị trí mình ngồi (bên trái, bên phải và ở giữa đề vẽ cùng một góc vẽ giống
nhau). Điều này cho ta thây học sinh không hề chú ý tới hình dáng của mẫu
một chút nào.
Một điều nữa, chứng tỏ học sinh tiểu học cha vợt ra khỏi vở ô ly, đó là
vẽ ở vở mĩ thuật (không có ô ly) học sinh thờng thấy trống trếnh bởi trang
giấy trắng lại rộng, do đó thờng vẽ hình rất nhỏ so với trang giấy. Có khi vẽ
ở mãi trên đỉnh trang, có khi vẽ lệch sang trái, sang phải, thậm chí có khi lại
vẽ tụt xuống tận dới đáy của trang vẽ khiến bài vẽ bị lệch lạc về bố cục,
không cân đối với trang giấy. Qua thực tế giảng dạy rôi nhận thấy yếu điểm
trang trí; vẽ theo đề tài và vẽ tự do (nay là vẽ tranh); xem tranh (nay là thờng
thức mĩ thuật) và tập nặn (nay là tập nặn tạo dáng tự do). Trong năm phân
môn này chúng ta thấy vẽ theo mẫu là phân môn rất quan trọng và cần thiết
cho các phân môn còn lại. Bởi vì, nắm vững cách vẽ của vẽ theo mẫu thì vẽ
các phân môn khác sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn nhiều và đặc biệt sẽ hình
thành cách nhìn tổng thể (định hình đợc trớc khi vẽ). Học sinh sẽ vẽ theo
mẫu theo một qui trình: Quan sát - So sánh - cảm nhận - nhận biết mẫu -
Hình thành thói quen, kĩ năng. Nói tóm lại vẽ theo mẫu giúp các em có óc
quan sát tinh tế, có cách nhìn đúng khi vẽ, dạy các em lối vẽ đúng (từ cơ bản
đến cụ thể).
Với vai trò quan trọng của phân môn và yêu cầu cần thiết của bộ môn
mỗi giáo viên cần tìm tòi, sáng tạo và vận dụng nhiều phơng pháp truyền
thống cùng với hiện đại nhằm đa tới học sinh cách học đơn giản và dễ hiểu
nhất , nhằm ngày càng nâng cao chất lợng cho bộ môn mĩ thuật ở tiểu học để
góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu giáo dục của ngành chúng ta, đã đợc
ghi cụ thể trong Luật giáo dục tại Điều 2 mục tiêu giáo dục: Đào tạo con
ngời Việt Nam phát triển một cách toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,
thẩm mĩ và nghề nghiệp
2/. Những vấn đề cần giải quyết.
Trớc thực trạng khó khăn, điều kiện dạy học cha đầy đủ và đồng bộ,
phơng pháp giáo dục cha phát huy mạnh đợc vai trò của học sinh, để phân
môn vẽ theo mẫu thực sự trở thành xơng sống của bộ môn, để học sinh học
mĩ thuật ngoài hứng thú ra còn có khả năng biểu hiện cái đẹp và cảm thụ cái
- -
6
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
đẹp. Để học sinh hoàn thành xuất sắc các bài tập theo chơng trình chúng ta
cần tậo trung vào giải quyết một số vấn đề cụ thể sau.
+ Công tác chuẩn bị cần thiết cho bài giảng.
bản của bộ môn mĩ thuật. Vì thế, để dạy tiết học vẽ theo mẫu cần phải chú ý
nhiều tới ĐDDH và phơng pháp sử dụng đồ dùng dạy học.
Khi nói tới dạy mĩ thuật tức là nói tới việc sử dụng phơng pháp trực
quan. Vì học sinh phải quan sát, nhận xét thì mới hình thành đợc khái niệm.
Hơn thế vẽ theo mẫu lại phải trực quan cụ thể, thực tế. Thực tế ở chỗ vẽ theo
mẫu phải có mẫu thực không thể cho học sinh vẽ theo mẫu mà giáo viên
minh họa trên bảng đợc, đối với một số phân môn khác thì làm nh vậy các
em vẫn có thể tiếp thu bài và vẽ đợc bài.
Trong chơng trình giáo dục mĩ thuật ở tiểu học có 45 bài vẽ theo mẫu
giáo viên cần chuẩn bị đủ mẫu theo đơn vị bài và trực quan cho các bài đó.
Từ những mẫu đơn giản nh các khối hình (khối hộp, khối trụ, khối cầu) tới
những mẫu cụ thể hơn (nh quả cây, đồ dùng vật dụng). Khi giáo viên đã
chuẩn bị chu đáo thì lúc đó giáo viên mới có thể dạy tốt đợc. Đây là phân
môn vẽ theo mẫu, nếu không có mẫu thì không phải là vẽ theo mẫu.
Sự chuẩn bị của giáo viên còn căn cứ theo thực tế của từng bài. Một
mặt do tiết học thờng đợc tổ chức ở tại lớp học thông thờng một mặt sĩ số
học sinh/ một lớp đông khiến các em khó quan sát mẫu nếu bày một mẫu
trên bảng. Do đó giáo viên có thể chuẩn bị nhiều mẫu để cho học sinh họat
động theo nhóm, tổ.
Ví dụ: Để dạy bài Vẽ quả (có dạng tròn) bài 10 MT lớp 1 trang 15 vở
tập vẽ. Nếu học sinh từ 30 em trở lên ngồi trong một phòng học bàn ghế kê
sát nhau theo một hớng lên bảng thì việc bầy mẫu một quả cây trên bảng là
điều không thể hoặc khó có thể chấp nhận đợc, bởi vì những học sinh ngồi
cuối lớp hoặc bàn dới sẽ không thể thấy rõ đợc mẫu. Nh vậy sẽ vô hiệu khi
giáo viên hớng dẫn quan sát nhận xét. ở bài này do quả quan sát khó (vì
nhỏ) cho nên giáo viên có thể chuẩn bị 3, 4 mẫu và bầy mẫu theo nhóm, theo
tổ giúp học sinh quan sát và vẽ hiệu quả hơn.
Nếu trờng có điều kiện trang bị đầy đủ thiết bị cho phòng giáo dục
nghệ thuật cụ thể nh giá vẽ cho học sinh. Thì với sĩ số trên (trên 30 em/lớp),
cùng với phòng học cha đủ tiêu chuẩn về diện tích và ánh sáng thì học sinh
hiệu quả nhất. Phần chuẩn bị này giáo viên có thể chỉ việc phóng hình lớn từ
các hình minh họa trong sách giáo khoa đợc in cùng với phần lí thuyết (sách
học sinh).
* Đối với việc chuẩn bị phơng pháp giảng dạy của giáo viên: Để
soạn bài và giảng bài tốt, giáo viên tập trung vào những phơng pháp hiệu quả
khi dạy vẽ theo mẫu nh: Phơng pháp trực quan; phơng pháp so sánh; gợi mở;
vấn đáp và luyện tập. Giáo viên phải biết cách kết hợp linh họat giữa các ph-
ơng pháp này với nhau, tạo thành một phơng pháp tổng hợp phù hợp với tất
- -
9
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
cả các đối tợng, phù hợp với bài giảng, gắn liền với thực tiễn. Để phơng pháp
của mình chuẩn bị có hiệu quả thì giáo viên nhất thiết cần dự kiến đợc các
tình huống dạy học, có những tình huống đơn giản thì giáo viên có thể sử lý
tốt trong bất kì hoàn cảnh nào, nhng cũng có những tình huống khó giáo
viên cần có sự chuẩn bị tốt để sử lí nh: Cách so sánh mẫu, cách vẽ thông qua
quan sát mẫu thực, có thể học sinh không hiểu thế nào là bố cục; không
hiểu thế nào là dựng hình chung; ớc lợng tỷ lệ. Giáo viên cần phải
chuẩn bị những tình huống khi học sinh không hiểu và cần phải đơn giản hoá
những cụm từ mang tính chuyên môn tối thiểu này. Giáo viên có thể chuẩn
bị theo những gợi ý sau: Bố cục nên giải thích đơn giản đó là sự sắp xếp hình
vẽ vào trang giấy, bố cục đẹp là sự sắp xếp hình vẽ cân đối, bố cục lệch, xấu
là sự sắp xếp hình vẽ trên trang giấy cha hợp lý; Tỷ lệ ta có thể hiểu đơn giản
là chiều cao so với chiều ngang, xem các chiều này hơn kém nhau bao nhiêu
lần, từ đó giữ đợc tỷ lệ chuẩn của mẫu khi vẽ sẽ không bị sai lệch. Ví dụ:
Mẫu vẽ cái xô có tỷ lệ chiều cao bằng hai lần chiều ngang, nh vậy hình vẽ có
to bằng bao nhiêu đi nữa thì chúng ta vẫn phải hớng dẫn học sinh vẽ chiều
cao của cái xô bằng hai lần chiều ngang, có nh vậy hình vẽ mới cân đối, cái
xô sẽ không bị thấp quá hay không bị cao quá hay chúng ta nói là tỷ lệ của
đó, khi Dạy-Học vẽ theo mẫu ở tiểu học giáo viên còn cần phải chú ý những
đặc điểm sau:
+ Tạo đợc không khí học tập tốt để học sinh háo hức chờ đón bài học.
+ Tạo điều kiện cho học sinh suy nghĩ, tìm tòi những vấn đề mà giáo
viên giảng giải.
+ Tổ chức bài học sao cho học sinh tham gia vào quá trình nhận thức
một cách tự giác.
+ Động viên khích lệ nhằm giúp học sinh làm bài bằng khả năng và
cảm xúc riêng.
Việc chuẩn bị phơng pháp tốt cho giáo viên cũng không thể thiếu việc
sắp xếp, tổ chức giờ dạy thông qua giáo án, qua kế họach giảng dạy tiết vẽ
theo mẫu đó một cách rõ ràng, cụ thể. Phơng pháp chủ đạo là lấy học sinh
làm trung tâm và thầy giáo là ngời hớng dẫn cũng đợc thể hiện rõ trên giáo
án. Mọi họat động của giáo viên mang tính chất gợi mở, cũng nh vậy mọi
họat động tích cực của học sinh đợc lập kế họach theo từng bớc của tiến
trình giảng dạy. Và đặc biệt giáo viên cần chú ý tới phần minh họa bảng
cũng cần đợc thể hiện rõ trong giáo án theo một cột riêng (bên phải của phần
kiến thức và diễn biến giờ dạy).
b/. Sự chuẩn bị đối với học sinh.
Học vẽ theo mẫu đối với học sinh tiểu học vốn vẫn là kiến thức trừu t-
ợng nhất trong bộ môn mĩ thuật. Trừu tợng bởi lẽ học sinh bắt đầu dần hình
thành khái niệm về khối, về hình thể. Khi học sinh vẽ vẫn thờng có suy nghĩ
- -
11
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
vẽ vật đó chứ cha bao giờ có khái niệm về khối của vật đó, mà vẽ theo mẫu
thì yếu tố khối hình mới là trọng tâm. Tuy nhiên vẽ theo mẫu ở tiểu học
không đòi hỏi học sinh diễn tả đợc khối rõ ràng mà chỉ yêu cầu học sinh có
khái niệm về khối mà thôi. Vì lý do này, học sinh cần chuẩn bị tốt điều
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
b/. Vấn đề thứ hai: Hớng dẫn học sinh quan sát, nhận
xét mẫu
Dạy mĩ thuật nói chung và vẽ theo mẫu nói riêng, phải thực hiện theo
hớng để học sinh làm bài thực hành là chính (thời gian khoảng 20 - 25 /40
phút của tiết học).Thế nhng thời gian đầu giờ (10 -15 phút) là thời gian giảng
lý thuyết. Phần này tuy chiếm ít thời gian nhng lại là một việc vô cùng quan
trọng trong quá trình hình thành kiến thức mĩ thuật, kiến thức vẽ theo mẫu
đối với học sinh.
a/. Thực tế:
Lâu nay dạy vẽ theo mẫu thờng là qua loa nhất trong tất cả năm phân
môn của bộ môn mĩ thuật. Bởi một lẽ đồ dùng dạy học thiếu rất nhiều, mẫu
vẽ hầu nh không có trong suốt chơng trình tiểu học. Mà giáo viên thì việc
chuẩn bị mẫu cho học sinh quá nhiều là điều không thể.
Mặt khác học sinh ngồi học 30 - 40 học sinh /lớp, bàn thẳng kê xếp cố
định theo hớng lên bảng. Với điều kiện nh thế thì việc học sinh quan sát mẫu
là một điều tơng đối phức tạp và hiệu quả là cả một vấn đề cần bàn tới. Song
song với hai thực trạng trên thì việc học sinh có cần quan sát mẫu hay không
lại là một vấn đề khác bức xúc không kém. Bởi vì, kết quả của các bài vẽ nh
vậy thờng đơn điệu, cứng nhắc.Từ những thực tế ấy trong lúc ta chuẩn bị
điều kiện cơ sở vật chất cho môn học còn cha đồng nhất thì mỗi ngời giáo
viên chúng ta cần đa ra những phơng pháp cụ thể, một mặt để khắc phục,
một mặt để nâng cao hiệu quả dạy vẽ theo mẫu là tất yếu.
b/. Phơng pháp.
Trong 45 bài vẽ theo mẫu ở tiểu học đợc chia đều cho 5 lớp là những
bài vẽ từ đơn giản và nâng cao dần theo cấu trúc chơng trình đồng tâm. Vì
vậy ở những lớp nhỏ (lớp 1,2,3) thờng là những mẫu vẽ hết sức đơn giản nh:
hình vuông, hình tam giác, hình tròn, cái túi xách, cái cốc, cái xô Còn ở
lớp cao hơn (lớp 4,5) nhìn chung những mẫu vẽ đều là các đồ dùng vật dụng
Vì lý do này, giáo viên cần hình tợng, cụ thể hoá mẫu vẽ thành những hình
phải đơn giản, cụ thể và dễ mô phỏng. Ví dụ: Vẽ cái cốc trớc hết phải hớng
dẫn học sinh vẽ một hình học giống cái cốc đã, nh hình chữ nhật chẳng hạn.
Vậy để vẽ đợc hình cái cốc cần phải vẽ hình chữ nhật trớc, nh vậy chúng ta
thấy cụ thể hoá hình vẽ rất quan trọng, đó chính là quá trình qui đổi mẫu vẽ
thành một hình học có tên, dễ vẽ, từ đó việc biểu hiện mẫu trên bài vẽ là rất
dễ dàng, đơn giản.
- Trớc đây giáo viên hay cho học sinh nhận xét hay so sánh mẫu bằng
lời không (phơng pháp này cha hợp với học sinh tiểu học chỉ phù hợp với
- -
14
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
học sinh trình độ cao hơn). Vì các em còn rất nhỏ, khái niệm về mĩ thuật còn
hạn chế nhiều, nên giáo viên cần hớng dẫn học sinh so sánh mẫu ngoài bằng
lời ra còn bằng cả hành động (động tác). VD: Khi hớng dẫn các em quan sát
để tìm ra hình chung của mẫu giống hình gì ? . Nếu giáo viên chỉ sử dụng
câu hỏi không, buộc học sinh phải hình dung khó hơn, lâu hơn, nhng nếu
giáo viên hỏi xong rồi dùng thớc kẻ chặn hai chiều, theo chiều ngang và
chiều dọc. Lúc đó học sinh sẽ đợc cụ thể hoá hình chung của mẫu là hình
học gì? Bằng phơng pháp này học sinh sẽ nhận xét nhanh hơn và hiệu quả
hơn, tỷ lệ hình dễ chuẩn xác hơn.
- Khi đặt câu hỏi quan sát cần sử dụng những cụm từ ít chuyên môn
(từ khó) mà sử dụng những cụm từ đơn giản nhng dễ hiểu nh: Đối với từ khó:
Các em cho biết tỷ lệ của vật mẫu nh thế nào ? ; Thay bằng cụm từ dễ hơn:
Em hãy so sánh xem chiều cao của mẫu với chiều ngang của mẫu nh thế nào
? Khi giáo viên đặt câu hỏi nh vậy thì học sinh sẽ tập trung vào so sánh,
nhận xét và đa ra kết quả ngay, đã giản đơn đợc một bớc phải suy nghĩ tỷ lệ
là gì đối với học sinh.
Căn cứ vào thực tế cùng phơng pháp giảng dạy cải tiến đối với phân
cá), những trực quan đều phải bắt nguồn (giống hình tam giác). Tới lúc này,
sau khi giáo viên cho học sinh kể đợc tên của nhiều đồ vật giống hình tam
giác, giáo viên sẽ treo một số tranh gợi ý mà giáo viên đã chuẩn bị nh: Tranh
vẽ một thuyền buồm, học sinh sẽ nhận xét phần nào của thuyền buồm gống
hình tam giác. Tơng tự nh vậy đối với các hình khác giáo viên cũng đa học
sinh vào hoàn cảnh có vấn đề (tức là cho học sinh nhận xét và nêu lên nhận
xét riêng của mình).
Nh vậy đối với tiết học vẽ theo mẫu này mặc dù học sinh đông (35
học sinh/ 1 lớp vẫn ngồi học ở lớp học thông thờng, nhng do mẫu vẽ là hình
tam giác cho nên việc hớng dẫn học sinh không mấy khó khăn gì, chỉ đòi hỏi
giáo viên cần đa học sinh vào hoàn cảnh có vấn đề, để các em chủ động tích
cực quan sát nhận xét mẫu, so sánh và nhận biết nhanh, có nh vậy kiến thức
đến với học sinh không bị áp đặt, không bị gò ép.
+ Bài 24: Vẽ cái ấm tích và cái bát - MT 5 trang 50.
Đối với bài này mục tiêu đặt ra đó là học sinh tập quan sát, so sánh, ớc
lợng tỷ lệ mẫu ghép (hai mẫu) để tìm ra vị trí, kích thớc các bộ phận của
mẫu và biết cách vẽ mẫu ghép. Riêng về kĩ năng yêu cầu học sinh vẽ đợc
gần đúng mẫu (diễn tả đợc đặc điểm, tỷ lệ chính của mẫu).
Bài vẽ theo mẫu này có thể nói là kiến thức cuối của chơng trình mĩ
thuật tiểu học về phân môn vẽ theo mẫu. Bởi vì, vẽ mẫu ghép (hai mẫu) chỉ
đợc áp dụng khi học sinh đã có vốn kiến thức tơng đối hay nói cách khác chỉ
dành cho học sinh cuối cấp. Nh vậy, cũng là bài vẽ theo mẫu ở tiểu học nhng
- -
16
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
ở mỗi bài, mỗi lớp giáo viên lại chọn phơng pháp riêng sao cho phù hợp, ở
đây ta thấy bài 4 (vẽ hình tam giác) của mĩ thuật lớp 1, chỉ cần chuẩn bị, áp
dụng phơng pháp linh họat là bài dạy đã đạt đợc hiệu quả cao, nhng bài này
đòi hỏi giáo viên phải sử dụng nhiều phơng pháp, đặc biệt là vấn đề quan sát
17
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
so sánh, cho biết hình chung, hình riêng thì e rằng học sinh ớc lợng, tính
toán rất khó chính xác đợc. Việc đục lỗ miếng bìa làm đơn giản ở chỗ học
sinh sẽ chỉ nhìn thấy một lỗ thủng mà trong nó (phía sau) chứa trọn vẹn mẫu
vẽ, đơng nhiên khái niệm về hình chung, hình riêng hình thành rất nhanh.
- Đối với việc quan sát so sánh từng phần của từng vật mẫu: Do đây là
mẫu ghép (hai mẫu) nên hai đồ vật sẽ có rất nhiều chi tiết: Nh miệng của
tích, vòi tích, quai sách của tích, miệng bát, chôn bát. Và đặc biệt chú ý (học
sinh hay mắc phải) hớng dẫn học sinh quan sát khi ngồi ở những vị trí khác
nhau sẽ thấy mẫu thay đổi rõ rệt. Cái ấm tích ngồi ở vị trí khác nhau sẽ thấy
vòi và quai khác nhau. Có những vị trí không thấy vòi. Do đó, giáo viên sẽ
đặt câu hỏi ở ba vị trí (chủ động chọn theo ý đồ) để có ba hình vẽ tơng ứng:
Thấy vòi ở bên trái tích, thấy vòi ở bên phải tích và thấy vòi ở chính giữa
tích. Tơng tự nh vậy giáo viên cần đặt câu hỏi để học sinh nhận xét cái bát
với cái tích cũng có vị trí thay đổi khi học sinh ngồi ở vị trí khác nhau. Giáo
viên cho học sinh nhận xét theo vị trí nhìn thấy: tích che mất một phần của
bát, và vị trí thấy bát che mất một phần của tích. ở những phơng pháp này
mục đích cho học sinh nhận ra mẫu vẽ sẽ thay đổi khi nhìn ở những vị trí
khác nhau, nhng lại đòi hỏi giáo viên quan sát vị trí học sinh ngồi để học
sinh nhận xét hình nhìn thấy đúng nh ý đồ chuẩn bị của giáo viên, việc này
không khó nếu khi giáo viên bầy mẫu đã đi quan sát trớc một lần.
- Đối với việc quan sát, nhận xét mầu sắc (đậm nhạt) của vật mẫu. Hệ
thống bài vẽ theo mẫu ở tiểu học, về vấn đề quan sát để nhận biết đậm nhạt
cũng rất quan trọng. Khi nhận xét học sinh hiểu đợc đậm nhạt thì sẽ hiểu và
mô phỏng đợc khối. Tuy nhiên đối với những lớp nhỏ nh lớp 1,2,3 việc vẽ
đậm nhạt thực sự cha cần thiết, nhng học sinh cũng phải hình thành đợc khái
niệm đậm và nhạt. Vì thế, ở bài này giáo viên cần hớng dẫn học sinh quan
sát mẫu và nêu nhận xét của mình về đậm nhạt. Bởi vì đối tợng của bài này
a/. Hớng dẫn về bố cục (cách sắp xếp): Trớc hết bài vẽ bao giờ giáo
viên cũng cần phải hớng dẫn học sinh xây dựng ý đồ với một bố cục đẹp, tức
là sắp xếp phải cân đối, thuận mắt. ở phần hớng dẫn này giáo viên vẫn thờng
xuyên không chú ý tới vai trò của nó, mà thờng hớng dẫn qua loa, không cơ
bản và nhất quán khiến cho các em hay vẽ nhỏ quá (phổ biến) và vẽ lệch
trang giấy. Nh vậy kết quả bài vẽ cha đẹp mắt không dám nói nhiều bài còn
thấy khó chịu. Vì vậy, tôi đa ra một phơng pháp để thay đổi cách tiếp nhận
kiến thức của học sinh. Nhằm khắc phục một số yếu điểm của phơng pháp
cũ. Nếu trớc đây giáo viên thờng chỉ nói áp đặt cho học sinh các em không
đợc vẽ nhỏ quá, to quá hoặc lệch trái, lệch phải. Nh vậy học sinh sẽ không
khắc sâu, thậm chí nhiều em không chú ý, dẫn đến tác dụng của lời nhắc
đó ít hiệu quả. Còn theo tôi để hớng dẫn học sinh vào vấn đề thì nên đặt học
sinh trong hoàn cảnh đó: Giáo viên treo trực quan bao gồm 4 hình vẽ vật
- -
19
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
mẫu trong đó có: một hình đợc vẽ rất nhỏ ở giữa trang giấy; một hình có
hình vẽ lệch sát sang một mép của trang giấy; một hình vẽ thật lớn kín hết cả
chiều cao giấy và cuối cùng một hình vẽ cân đối đẹp mắt. Sau đó cho học
sinh tự chọn và nhận xét bài đẹp nhất (các bài đợc đánh số từ 1 - 4 theo thứ
tự nh trên). Khi học sinh đợc quan sát, nhận xét thì việc tìm ra bài vẽ thứ 4
đẹp là điều rất dễ dàng. Qua đó giáo viên đặt câu hỏi ngợc lại: Tại sao hình
1,2,3 lại là hình cha đẹp ?. Và tất cả những lý do ấy đợc học sinh nêu ra một
cách rõ ràng, nếu trả lời cha đầy đủ giáo viên có thể bổ sung (vẫn theo hớng
gợi ý) nhằm phát huy tính tích cực ở học sinh.
Nh vậy cái hình ảnh gọi là, không đẹp, cha đẹp ấy (hình 1,2,3) sẽ đợc
học sinh ghi đậm trong trí nhớ của mình, thờng thì tâm lý trẻ hình tợng bao
giờ cũng dễ nhớ hơn và nhớ lâu hơn. Điều đó sẽ dẫn đến kết quả học sinh khi
vẽ phải nghĩ ngay tới bài đẹp nhất để bắt trớc hay làm theo. Nh vậy, tránh đ-
nên giáo viên không uốn nắn ngay từ bây gì thì các em sẽ tạo thành thói
quen, lối mòn khó gỡ bỏ. Phân môn vẽ theo mẫu luyện tập khả năng vẽ nét
và đậm nhạt, trong đó vẽ nét là yếu tố rất quan trọng. Khi tay đã vẽ luyện nét
thuần thục rồi thì việc vẽ các phân môn khác là rất khả dĩ. Chính vì vậy , mà
giáo viên không đợc để các em (học sinh) dùng thớc kẻ hoặc compa để vẽ
theo mẫu nếu vẽ nh vậy thì nét vẽ của học sinh không mềm mại, thay vào đó
là nét vẽ cứng nhắc, đơn điệu, việc tạo nên nét vẽ đơn điệu và cứng nhắc là
điều gây cản trở lớn khi học sinh học cao lên, đòi hỏi vẽ mẫu khó hơn.
c/.Tìm và xác định vị trí của các bộ phận chi tiết trên mẫu vẽ.
Khi hoàn thành đợc hình chung của mẫu rồi, việc tiếp theo của giáo
viên trong phần hớng dẫn cách vẽ là hớng dẫn học sinh xác định một số bộ
phận chi tiết. VD nh: Đối với các khối cơ bản cần xác định các mặt, đối với
các vật dụng thì cần xác định các bộ phận chi tiết trên vật dụng đó. Phần này
học sinh sẽ làm tơng đối nhanh, giáo viên cũng không nên hớng dẫn nhiều
bởi nó sẽ thừa vì phần hớng dẫn quan sát nhận xét giáo viên đã cụ thể rõ
ràng. Nh vậy, giáo viên cần tập trung hớng dẫn học sinh một số thao tác vẽ
(cách dựng hình cơ bản), những thao tác này vẫn còn nhiều giáo viên bỏ qua,
hoặc xem nhẹ dẫn đến học sinh cũng vẽ đại khái.
Trớc hết giáo viên cần hớng dãn học sinh vẽ đợc trục đối xứng cho bài
vẽ có mẫu cân đối, đối xứng, có chiều đứng nh một số mẫu: Cái cốc, khối
hộp, cái phích, cái bát khi học sinh xác định đợc trục đối xứng thì việc vẽ
mẫu sẽ không bị đổ ngả đổ nghiêng.
Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh nêu lại những gì ở phần quan sát
nhận xét tìm ra và cho một học sinh lên bảng đánh dấu vị trí các bộ phận
riêng lẻ của mẫu. Lúc này cái mới ở đây là đã đa học sinh thực sự vào hoàn
cảnh có vấn đề. Với khung hình chung và trục đối xứng (nếu có) giáo viên
- -
21
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
giáo viên vẽ phác nét thẳng thì mình cũng bắt trớc vẽ nét thẳng nhng bằng
bút mực, khiến hình vẽ bị bẩn và rất rối mắt nếu vẽ tiếp các bớc khác. Điều
- -
22
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
đó chứng tỏ học sinh vẫn cha hiểu thật sâu là nét thẳng chỉ để làm khung x-
ơng sau lại tẩy đi ngay.
Vì vậy, mà giáo viên nên cho học học sinh đợc trả lời vấn đáp nhiều
giúp các em hiểu rõ tác dụng cũng nh hiệu quả của vẽ phác nét thẳng, để
tránh tình trạng học sinh vẽ vu vơ, hay vẽ nét tự do.
e/. Hớng dẫn vẽ chi tiết (vẽ mô phỏng giống mẫu):
Bớc vẽ này có thể coi là bớc cuối (hoàn thiện hình) đối với các lớp nhỏ
(1,2,3), còn đối với các lớp lớn (4,5) chúng tta sẽ hớng dẫn thêm một bớc
nữa (vẽ đậm nhạt). Vẽ chi tiết tức là học sinh sẽ vẽ những gì các em quan
sát, so sánh, nhận xét và nhìn thấy trên vật mẫu. Đích cuối cùng của bài vẽ
theo mẫu đối với học sinh tiểu học là mô phỏng đợc mẫu. Sau các bớc quan
sát, dựng hình, phác hình thì bớc này có thể nói là bớc hoàn thiện. Từ những
nét vẽ phác trông bản thân nó đã gần giống mẫu, giáo viên chỉ cần hớng dẫn
học sinh vẽ bám theo các nét thẳng để hoàn thiện. Việc hớng dẫn học sinh,
giáo viên cần chú ý tới đối tợng của mình dới lớp. Cũng có nhiều em có năng
khiếu hoặc tiếp thu nhanh và dễ dàng vẽ bài, nhng cũng có nhiều em do khả
năng của bản thân và yêu cầu của bộ môn vẫn cha đáp ứng đợc hay vẽ còn
lúng túng, thao tác còn vụng về. Chính vì điều đó mà giáo viên phải sử dụng
những phơng pháp phù hợp để các em giỏi, có năng khiếu vẫn thích thú, các
em yếu lấy đó làm lời động viên, khích lệ và có hứng thú học tập hơn. Phần
này giáo viên không nên giảng áp đặt: Giả dụ các bớc trớc giáo viên đã minh
họa xong (đã vẽ bằng nét thẳng rồi). Trên cơ sở mẫu, giáo viên đặt câu hỏi
tập trung vào các bộ phận chi tiết của mẫu. VD: bài vẽ cái cốc (bài 13 MT2
trang 28) khi phác nét thẳng xong giáo viên đặt câu hỏi: Phần miệng của cốc
Đậm nhạt là một khái niệm tơng đối trừu tợng đối với học sinh mới
học mĩ thuật. Vả lại, vẽ theo mẫu về sau này (các cấp học cao hơn) thì không
thể thiếu đợc vẽ đậm nhạt. Do đặc diểm đó, giáo viên cũng không nên đòi
hỏi quá cao ở học sinh và cũng không nên quá coi nhẹ vấn đề này. ở tiểu
học yêu cầu học sinh bớc đầu nhận biết đợc đậm nhạt khi vẽ theo mẫu tức là
cần vẽ đợc ba độ đậm nhạt: Sáng, tối, trung gian. Nhng vấn đề ở đây là giáo
viên làm thế nào để hớng dẫn học sinh hiểu đợc ba sắc độ tối thiểu ấy.
Cũng nh nhiều phần hớng dẫn trớc giáo viên sẽ sử dụng một số phơng
pháp tích cực rất đặc thù của bộ môn để các em tiếp thu bài một cách hiệu
quả. Giáo viên vẫn sử dụng phơng pháp trực quan, vấn đáp, nhng vấn đáp
nên hỏi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Cụ thể ở phần này giáo viên
nên đặt câu hỏi để học sinh tìm đợc phần nào là phần đậm nhất, phần nào là
phần sáng nhất, giữa đậm và nhạt (sáng) là độ đậm gì? Nó không phải là
đậm và cũng không phải là nhạt vậy sẽ là độ đậm trung gian của sáng - tối.
Khi giáo viên đặt câu hỏi tìm độ đậm nhất: VD: Em hãy tìm trên mẫu phần
nào trông đậm nhất ?. Nh vậy, học sinh sẽ quan sát và nhận xét sau đó đa ra
- -
24
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nguyễn
Phi Lân
kết quả ngay. Tơng tự nh vậy, giáo viên hỏi các độ đậm nhạt khác học sinh
cũng sẽ tìm ra dễ dàng. Tới lúc đó giáo viên sẽ giảng giải độ đậm nhạt có do
đâu? và tại sao lại cần độ đậm nhạt?: Giáo viên treo bài mẫu (đã chuẩn bị)
hoàn thiện có đậm nhạt lên bảng để học sinh quan sát.
Trớc khi giảng giáo viên nên đặt câu hỏi gợi t duy của học sinh: Em
biết độ đậm nhạt trên mẫu do đâu mà có không? (*do ánh sáng chiếu vào
mẫu). Câu hỏi này nếu học sinh chú ý nghe giảng và t duy một chút các em
sẽ hiểu đợc ngay. Khi học sinh trả lời xong giáo viên tiếp tục giảng cho học
sinh hiểu hơn về đậm nhạt: Đậm nhạt do ánh sáng chiếu vào mẫu, có chỗ
ánh sáng chiếu đợc vào có chỗ không chiếu vào đợc và tạo ra ranh giới sáng