Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
A . PHẦN MỞ ĐẦU
I/- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1/- Chủ quan :
Việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề được đề cập và
bàn luận rất sôi nổi từ trước đến nay.Trong những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu
cầu học tập ngày càng cao của học sinh, đáp ứng nhu cầu phát triển đổi mới của xã
hội đòi hỏi người giáo viên và học sinh cần có những phương pháp dạy và học theo
hướng tích cực hoá: Thầy chỉ đạo tổ chức cho học sinh hoạt động, trò tích cực hoạt
động để chiếm lónh kiến thức mới. Ở bậc trung học cơ sở, kiến thức toán lớp 6 sẽ là
vốn kiến thức hỗ trợ quan trọng trong việc học toán sau này và có ảnh hưởng liên
quan trực tiếp đến việc học tốt môn toán ở lớp 7, 8, 9.
Do đó, phương pháp học tập hiệu quả sẽ giúp ích rất nhiều trong việc tiếp thu
kiến thức của học sinh.
2/- Khách quan:
Phầøn đông học sinh cho rằng toán là môn học khó nhất trong các môn, khô
khan chỉ toàn là những con số tính toán đến đau đầu … . Vì vậy, giáo viên dạy toán
cần phải làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của toán trong đời sống và hướng dẫn
các em biết nỗ lực vươn lên, biết tìm được niềm vui khi giải xong một bài toán khó,
biết học tốt môn toán để nâng cao hiệu quả các môn học khác.
Ngày nay, do yêu cầu phát triển của xã hội nên việc giảng dạy gặp nhiều khó
khăn hơn bởi “căn bệnh thành tích” và nạn “ngồi nhầm lớp” thì học sinh trường tôi
cũng đâu ngoại lệ. Học sinh bò mất kiến thức từ những phép toán cộng, trừ đơn giản
thì làm sao các em có nền tảng để bước lên tiếp tục mà không bò ngã! Chính vì thế
giáo viên chúng ta cần phải nỗå lực nhiều hơn trong việc nghó và chọn ra những
phương pháp dạy học thích hợp nhất, hiệu quả nhất. Đặc biệt là đối với học sinh ở
vùng sâu, vùng xa như trường Trung học cơ sở Bưng Bàng-Huyện Tân Châu chúng
tôi.
Để đạt được điều đó chúng ta cần đổi mới phương pháp dạy học một cách triệt
để, khoa học, áp dụng mọi lúc mọi nơi.Bên cạnh đó, người học sinh cũng cần phát
huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong học tập. Nhưng thực tế học sinh chỉ quen với
tìm được niềm vui khi tham gia học toán bản thân tôi quyết tâm nghiên cứu đề tài.
Sau khi trao đổi vơi các đồng nghiệp, chúng tôi cùng nhau xây dựng phương pháp học
tập tối ưu nhất để giúp học sinh đạt được những yêu cầu cần thiết trong học tập. Mặt
khác, học sinh trường tôi thiếu tính mạnh dạn, tự chủ trong mọi hoạt động nên muốn
kích thích học sinh phát huy tính tư duy, sáng tạo, chủ động học tập không gì khác
hơn là phải tìm ra phương pháp học tập khắc phục được tính tự ti, mặc cảm. Ngoài ra,
chúng tôi cũng quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ nước nhà giao phó.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã kết hợp nhiều phương pháp sau:
1/- Phương pháp nghiên cứu tài liệu :
Tham khảo các tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục, Phòng Giáo
dục và các tài liệu chỉ đạo của Ngành, tài liệu bồi dưỡng thường xuyên và các loại tài
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 2
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
liệu hỗ trợ giáo viên làm sáng kiến kinh nghiệm; cùng với sự hướng dẫn giúp đỡ
nhiệt tình của BGH nhà trường đặc biệt là đ/c Hiệu trưởng.
2/- Phương pháp điều tra :
- Điều tra trên thực tế các tiết học toán ở khối lớp 6, kiểm tra theo dõi quá
trình hoạt động của lớp, so sánh kết quả trước và sau khi ứng dụng sáng kiến kinh
nghiệm.
-Thống kê điểm các bài kiểm tra thường xuyên , điểm kiểm tra đònh kỳ… để so
sánh đối chiếu kết quả.
3/-Phương pháp dự giờ :
- Dự giờ đồng nghiệp, trao đổi với giáo viên và học sinh về tiết dạy, tiết học,
tiết kiểm tra.
- Dự các tiết chuyên đề, các tiết dạy mẫu của trường, của trường bạn hay của
cấp trên tổ chức.
4/ Phương pháp đàm thoại :
- Đàm thoại với học sinh : tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của học sinh trong các
tiết học cũng như những lúc học ngoại khoá, những lúc rãnh rỗi để tiếp thu ý kiến
chững bước vào không gian quá ư là rộng lớn liệu các em có vững vàng ở mai sau
không? !!!
Từ những trăn trở thực tế và chứng kiến những khó khăn về mọi mặt mà học
sinh trường tôi phải chòu như thiếu thốn về vật chất, về tinh thần, về điều kiện giao
tiếp với xã hội … . Tôi cảm thấy rằng bản thân mỗi giáo viên chúng ta phải tìm ra
phương pháp dạy học tối ưu nhất phục vụ cho công cuộc giảng dạy hiện nay.
Chính vì thế, sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài “Phương pháp dạy
học hợp tác theo nhóm ở môn toán lớp 6” này nếu được áp dụng thành công thì sẽ
giúp giáo viên rất nhiều trong dạy học và cũng giúp học sinh rất nhiều trong việc
chiếm lónh tri thức học tập.
II/- CƠ SỞ THỰC TIỄN :
Trên thực tế giảng dạy, giáo viên trường tôi nói chung và bản thân tôi nói
riêng có một số khó khăn và thuận lợi như sau:
1/- Về phía học sinh :
a/- Thuận lợi :
- Đa số học sinh có đủ sách giáo khoa.
- Học sinh có phẩm chất đạo đức tốt, ngoan hiền, lễ phép.
- Một số học sinh siêng năng, cần cù, chòu khó học tập.
- Học sinh tích cực tham gia các phong trào học tập như phong trào đôi bạn
cùng tiến, phong trào học nhóm, học tổ …
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 4
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
b/- Khó khăn :
- Học sinh ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện tiếp cận với xã hội còn hạn hẹp
thiếu thốn nhiều về vật chất cũng như tinh thần, không có sách tham khảo, không có
tài liệu học tập … . Mặc dù đã được sự hỗ trợ của nhà trường nhưng các em cũng còn
thiếu sách giáo khoa ở mỗi lần chuyển tiếp học kỳ do không mua sắm kòp.
Theo thống kê đầu năm, học sinh khối lớp 6 có 48 em trong đó có sách bài tập
30 em, có vở bài tập 20 em.
- Phần lớn học sinh xuất thân từ gia đình lao động nên sau mỗi buổi đi học về
- Đồ dùng dạy học còn thiếu rất nhiều như giác kế, hình ảnh, mô hình …
4/- Bản thân giáo viên :
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 5
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
a/- Thuận lợi :
- Bản thân đã tham gia giảng dạy hai mươi năm và dự giờ nhiều đồng nghiệp
nên có chút ít kinh nghiệm trong công tác.
- Tham gia đầy đủ các buổi triển khai chuyên đề, các buổi hội họp chuyên
môn, các buổi bàn bạc thảo luận về phương pháp dạy học.
- Bản thân đã đúc kết được một số phương pháp tổ chức cho học sinh thảo luận
đạt hiệu quả ở môn học của mình.
- Mạnh dạn đưa phương pháp hoạt động nhóm theo hình thức thi đua (ở phần
củng cố luyện tập) đạt hiệu quả cao trong tiết dạy.
- Bản thân tự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo một số đồ dùng dạy học phục vụ
cho tiết dạy hay hơn, sinh động hơn.
b/- Khó khăn :
- Được đào tạo Cao đẳng Sư phạm tại chức nên kiến thức về bộ môn chưa sâu
rộng.
- Chưa có điều kiện tham khảo nhiều tài liệu hoặc nhiều loại sách có liên quan
đến bộ môn.
- Điều kiện đi lại khó khăn nên việc sưu tầm tài liệu cũng rất ít.
5/- Sự cần thiết của đề tài :
Do yêu cầu phát triển của xã hội cần có những con người mới phù hợp với nền
khoa học hiện đại, có trình độ năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt, biết giải quyết
những tình huống xảy ra trong thực tế một cách tốt nhất không gì khác hơn là tính
năng động, linh hoạt sáng tạo của các em học sinh lớp 6 trường THCS Bưng Bàng.
Muốn có đầy đủ những điều kiện đó học sinh cần phải rèn luyện ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường bằng cách: chủ động hoạt động nhóm, tổ chức nhóm thảo luận,
phân công nhiệm vụ, giải quyết vấn đề và hướng dẫn hợp tác cùng nhau làm việc đạt
được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ cá nhân.
= 457
- Đối với bài tập b cũng tương tự như vậy, các em sẽ nhanh chóng tìm được kết
quả.
(72 + 128) + 69
= 200 +69
= 269
- Bài tập c : Đây là bài tập tìm tích của nhiều số nên học sinh có thể tùy ý
chọn. Có thể hai học sinh không thống nhất với nhau về cách chọn nhưng cuối cùng
kết quả phải là giống nhau. Sau khi trao đổi kết quả, các em nhận ra được cách nào
làm hữu hiệu nhất, nhanh nhất và dễ nhẩm nhất.
Giả sử, em A chọn cách tính (25 . 2) . (5 . 4) . 27
em B thì chọn cách là (25 . 4) . (5 . 2) . 27
Hai em cùng nhau nhẩm kết quả nhưng rõ ràng cách làm của em B nhanh hơn,
dể nhẩm hơn.
- Bài tập d : 28 . 64 +28 . 36
Loại bài tập này sử dụng tính chất phân phối của phép nhân và phép cộng.
Nếu học sinh không nhận ra mà thực hiện theo kiểu nhân chia trước, cộng trừ sau sẽ
dẫn đến tốn nhiều thời gian, thiếu chính xác do nhân số lớn nên dễ sai kết quả.
Tốt nhất là giáo viên nên gợi ý cho các em nhớ lại tính chất cần sử dụng trước
khi các em bắt tay vào thực hiện.
Sau khi đã xác đònh tính chất sử dụng là tính chất phân phối giữa phép nhân
đối với phép cộng, hai học sinh này lại phải hội ý để đưa số về đúng dạng và xác
đònh đâu là a ? đâu là b ? và đâu là c ? .
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 7
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
Khi đã xác đònh được, các em sẽ thiết lập được a.b + a.c = a .(b +c) và ứng
dụng ngay :
28.(64 +36)
= 28 .100
= 2800
nhanh chóng hoàn thành.
Ví dụ 1 : Trong các số sau đây số nào chia hết cho 2, số nào chia hết cho 5: 652,
850 ,1546 , 785 , 6321.
(Bài tập 91 trang 38- sách giáo khoa toán 6-tập I)
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 8
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
Trước hết nhóm trưởng nhận nhiệm vu ïtừ giáo viên, nhóm trưởng phân công
cho các bạn trong nhóm : Hai bạn tìm số chia hết cho 2, hai bạn tìm số chia hết cho 5.
Sau đó, hai bạn lần lượt trao đổi kết quả với nhau để kiểm tra. Khi đã thống
nhất kết quả, một bạn đại diện nhóm ghi vào bảng nhóm. Các thành viên khác xem
xét lại lần nữa, nếu không có ý kiến thì cử đại diện trình bày trước lớp.
Kết quả được ghi lần lượt như sau:
Các số chia hết cho 2 là 652 , 850 , 1546.
Các số chia hết cho 5 là 850 , 785.
Cuối cùng, giáo viên gọi học sinh nhóm này nhận xét bài làm của học sinh
nhóm kia và đi đến kết quả chính xác của bài toán.
Ví dụ 2: Có 36 học sinh vui chơi. Các bạn đó muốn chia đều 36 người vào các
nhóm. Trong các cách chia sau đây, cách nào thực hiện được?
Cách chia Số nhóm Số người ở một nhóm
Thứ nhất
Thứ hai
Thứ ba
Thứ tư
4
8
12
………
6
2cm, VT = 3 cm. Hỏi điểm nào nằm giữa hai điểm còn lại ?
Đây là bài tập hình học tuy đơn giản nhưng lượng công việc khá nhiều. Muốn
giải được bài tập này, học sinh phải biết phân chia công việc và hợp tác cùng nhau.
Nhóm trưởng sẽ chỉ đònh một bạn khéo tay nhất trong nhóm giữ nhiệm vụ vẽ hình,
một bạn đọc đề bài và hai bạn theo dõi kiểm tra kết quả của nhóm.
Khi các em thảo luận, giáo viên theo sát các nhóm và hướng dẫn nhắc nhở khi
cần thiết.
Sau khi các nhóm đã hoàn thành, giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng vẽ hình
và trình bày kết quả trước lớp. Học sinh đại diện nhóm lên bảng, cả lớp theo dõi nhận
xét bài làm. Giáo viên nhận xét, đánh giá kết quả .
Giải
Điểm A nằm giữa hai điểm V và T.
Ưu điểm của phương pháp này :
- Học sinh thảo luận vấn đề khá phức tạp nhưng vẫn đảm bảo được tính nhanh
chóng, chính xác.
- Học sinh phát huy được năng lực làm việc cá nhân, nâng cao tinh thần tập
thể.
- Học sinhø biết tự mình đưa ra lập luận và bảo vệ ý kiến của mình.
Hạn chế :
Do số lượng học sinh là 5 em nên có thể không đồng đều về kiến thức giữa các
nhóm dẫn đến mất khá nhiều thời gian cho thảo luận một bài tập.
2/ Chia nhóm theo đặc điểm HS :
• Nhóm theo đặc điểm giới tính, cùng giới hoặc cân bằng giới.
• Nhóm theo trình độ học lực: tương đương trình độ, cân bằng trình độ.
Nhóm theo đặc điểm giới tính hoặc cân bằng giới tính được thực hiện như sau
:
- Cho học sinh chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm khoảng 7 đến 9 học sinh đều
là nam hoặc đều là nữ.
- Chia học sinh đều vào các nhóm có nam và nữ với số lượng bằng nhau.
Ưu điểm của phương pháp này:
c/
39
14
13
6 −
+
d/
18
4
5
4
−
+
Đối với bài tập này mức độ của các yêu cầu ngang bằng nhau nên với trình độ
học lực ngang bằng nhau của học sinh ở mỗi nhóm sẽ dễ dàng giải quyết bài toán.
Khi đó mỗi nhóm thực hiện một bài tập sẽ hoàn thành trong một lượng thời gian
tương đương nhau.
Khi thực hiện loại hình này đầu tiên nhóm trưởng nhận nhiệm vụ từ giáo viên
phân công và đưa cho cả nhóm thực hiện.
+ Bài tập a: Những học sinh khá giỏi yêu cầu cả nhóm thảo luận xem đề bài
có gì cần biến đổi và những học sinh yếu kém có thể sẽ nhận ra mẫu số âm sẽ biến
đổi thành mẫu số dương. Học sinh khá giỏi đoán ngay được kết quả nhưng những học
sinh yếu kém phải sắp xếp bài toán, nhắc lại cách làm và tính kết quả.
25
8
25
7
−
+
−
6
1
−
=
−
=
−+
=
−
+
+ Bài tập c : Với bài tập này học sinh khá giỏi cần gợi ý học sinh trong nhóm
về cách qui đồng mẫu số. Vì mẫu số là 13 và 39 nên các em dễ dàng nhìn và nhận ra
được vì 39 là bội của 13. Cả nhóm thống nhất chọn 39 là mẫu số chung. Sau đó nhóm
trưởng phân công các bạn có học lực trung bình yếu thực hiện qui đồng mẫu số, các
em còn lại theo dõi và bổ sung nếu sai sót. Cả nhóm hoàn thành bài tập, học sinh khá
giỏi đã vừa hoàn thành thêm một nhiệm vụ nữa là giúp đỡ các bạn cùng tiến bộ.
39
4
39
(-14)18
39
14
39
18
39
14
13
6
=
45
26
45
)10(36
45
10
45
36
9
2
5
4
18
4
5
4
18
4
5
4
=
−+
=
−
+=
−
+=
−
+=
−
6
c/
30
7
;
60
13
và
40
9−
d/
60
17
;
18
5−
và
90
64−
Khi tiến hành làm bài tập này giáo viên cần lựa chọn phân công nhiệm vụ cho
thích hợp với trình độ học sinh. Nhóm học sinh yếu kém thực hiện bài tập a và c,
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 13
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
nhóm học sinh khá giỏi làm bài tập b và d. Khi nhóm trưởng nhận nhiệm vụ từ giáo
viên thì bắt tay vào phân chia nhiệm vụ cho các bạn trong nhóm.
+ Đối với nhóm học sinh kém: nhóm trưởng phân công các bạn cùng nhau
phân tích các mẫu số của bài tập a, tìm bội chung nhỏ nhất của 120 và 40. Khi các
bạn đã chọn xong mẫu chung thì cần trao đổi kết quả để kiểm tra độ chính xác. Nếu
cả nhóm đều phân tích giống nhau và cùng chọn 120 làm mẫu chung thì tiến hành
vào tìm thừa số phụ của cả hai phân số. Sau đó các em sẽ hoàn thành bài tập một
11
và
40
7
qui đồng thành
120
11
và
120
21
+ Đối với nhóm học sinh yếu: Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ đến từng bạn,
do số lượng công việc của bài tập c nhiều hơn so với bài tập a. Mỗi bạn sẽ phân tích
một mẫu số ra thừa số nguyên tố có sự theo dõi kiểm tra của bạn cùng nhóm. Các em
cũng tiến hành phân tích rồi đi đến thống nhất là bội chung nhỏ nhất của 30, 60 và 40
là 120. Ở nhóm học sinh yếu này kiến thức các em có phần khá hơn học sinh kém
nên có thể các em không cần đi vào qui trình tìm thừa số phụ mà có thể nhẩm được.
Các em hoàn thành công việc nhanh hơn nhóm kia nhưng do số lượng bài tập nhiều
nên các em có thể làm bài xong cùng một lúc với nhau.
30 = 2 .3 .5
60 = 2
2
. 3 .5
40 = 2
3
.5
BCNN(30;60;40) = 2
3
.3.5 = 120
Vậy
30
6
13.73
13.12
959
156
=
và
73.13
73.6
959
438
=
+ Nhóm học sinh giỏi: Các em được phân công thực hiện bài tập d có các mẫu
số tương đối lớn nên mất nhiều thời gian phân tích tìm bội chung nhỏ nhất của 60, 18,
90. Nhưng với trình độ học lực giỏi các em sẽ hoàn thành nhanh chóng và chính xác.
60
17
180
51
=
18
5−
180
50−
=
90
64−
180
128−
=
-Học sinh hệ thống được kiến thức ôn tập
-Học sinh giúp đỡ nhau về tinh thần lẫn vật chất.
-Học sinh luôn có nhóm hoạt động mới ở mỗi tiết học.
Hạn chế :
-Một số học sinh lười biếng sẽ thụ động vì đã có các bạn khác làm hết các
công việc.
-Học sinh có tính ỷ lại vào người khác và không chuẩn bò tốt cho việc học tập.
B/- Qui trình dạy học hợp tác theo nhóm có thể chia thành 3 bước :
*Bước 1: Làm việc chung cả lớp : HS nhận nhiệm vụ nhận thức, thực hiện yêu
cầu tổ chức nhóm.
*Bước 2: Hoạt động nhóm : Từng nhóm làm việc riêng cá nhân trao đổi và
thực hiện nhiệm vụ được phân công, khuyến khích thi đua có bàn bạc hỗ trợ nhau.
*Bước 3: Thảo luận tổng kết trước lớp: Đại diện nhóm báo cáo kết quả, giáo
viên nhận xét đánh giá, khen ngợi, nhắc nhở những cá nhân trong nhóm.
Ví dụ: Hãy tính các tổng sau đây:
a/
4
1
30
10
+
b/
8
7
3
5 −
+
−
c/
2
* Học sinh biết làm việc cá nhân, làm việc tập thể, điều hành và phân công
nhiệm vụ.
* Học sinh có sự tương tác lẫn nhau khi ngồi quay mặt vào nhau, đó là sự
tương tác giữa người làm, người nói, người nghe.
* Nâng cao tinh thần tập thể khi thống nhất cách làm và thống nhất kết quả.
* Học sinh mạnh dạn hơn khi đóng góp ý kiến cũng như phân công nhiệm vụ.
Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại vấn đề học sinh dễ mất trật tự, giáo viên phải
nhắc nhở học sinh thảo luận trong phạm vi nhóm không để ảnh hưởng đến nhóm
khác.
C/- Biện pháp thực hiện:
Giáo viên cần có sự chuẩn bò và phương án tốt nhất để tiết dạy đạt hiệu quả
tối ưu. Giáo viên cần suy nghó lựa chọn phương pháp, chuẩn bò đồ dùng dạy học, cách
tạo tình huống, cách nêu câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp…làm sao cho học sinh từ
yếu kém đến khá giỏi đều tham gia hoạt động tích cực. Muốn đạt được điều đó, giáo
viên cần chú ý một số việc cần thiết như sau:
- Soạn giáo án một cách chi tiết, nêu câu hỏi gợi mở cho từng phần: Có câu
hỏi dễ,câu hỏi khó,câu hỏi mở rộng,câu hỏi có tính lôgic một cách có hệ thống và
khoa học.
- Nghiên cứu kỹ nội dung và kiến thức cần dạy ở tiết học đó, mục đích cần đạt
được ở tiết học đó là gì ?
- Phương pháp sử dụng cho mỗi phần là phương pháp gì ?Thảo luận,tự luận,
quan sát … Phần nào diễn giải, phần nào vấn đáp …
- Thảo luận sẽ dùng cách nào ? Dùng ở bài tập gì ? Nếu sử dụng phương pháp
thảo luận đó sẽ có kết quả ra sao ? Giáo viên phải lường trước được ưu điểm và
khuyết điểm của mỗi phương pháp mà mình đưa ra.
- Giáo viên cần hết sức lưu ý xem nội dung bài có chỗ nào liên hệ đời sống
thực tế học sinh được, có mở rộng kiến thức chưa ?
- Đồ dùng dạy học sẽ sử dụng là những dụng cụ hay thiết bò gì ? (bảng nhóm,
bảng phụ, thước thẳng, mô hình, giấy gấp …)
D/- Quá trình nghiên cứu và kết quả thực tế:
Biểu đồ mô tả số lượng về kết quả của học sinh
lớp 6 trường
THCS Bưng Bàng trước và sau khi áp dụng đề tài
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 19
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
C . KẾT LUẬN:
* Sau khi thực hiện nghiên cứu đề tài này , tôi tích luỹ được một số kinh nghiệm
và vận dụng vào giảng dạy môn Toán ở khối lớp 6 cũng như một số lớp khác do tôi
đảm nhiệm. Nội dung dạy Toán là một quá trình dạy học từ cơ bản đến nâng cao, từ
thực tiễn đến khoa học nên đòi hỏi người giáo viên là phải không ngừng đổi mới
phương pháp dạy học. Đổi mới ở đây là biết lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy
học thích hợp nhằm phát huy tính tích cực trong học tập ở học sinh,kích thích học
sinh tìm tòi, tư duy và sáng tạo trong mọi tình huống. Giáo viên phải là người đóng
vai trò chủ đạo quản lý học sinh,tạo điều kiện cho các em hoạt động để tiếp thu kiến
thức một cách chủ động và linh hoạt sáng tạo. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ
chức còn mọi hoạt động là do học sinh thực hiện.
Từ kết quả thực tế cho thấy việc học sinh mạnh dạn, chủ động hoạt động học
tập tự chiếm lónh tri thức là điều rất quan trọng. Muốn đạt được điều đó,giáo viên
cần cho học sinh hoạt động hợp tác theo nhóm nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh theo phương diện tăng cường hợp tác trong học tập với những thành tố thiết yếu.
* Đề tài “Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm-môn Toán lớp 6 trường
Trung học cơ sở Bưng Bàng” cần được nhân rộng vào tất cả các bộ môn nhất là
phần ôn tập chương, thảo luận nhanh giữa hai học sinh cùng bàn. Vận dụng một cách
linh hoạt thông qua những giờ học sẽ mang lại hiệu quả đáng kể góp phần vào việc
đổi mới phương pháp dạy học theo nhu cầu xã hội hiện nay.
* Ở trường Trung học cơ sở, việc vận dụng phương pháp dạy học bằng cách
thảo luận nhóm chưa được sử dụng nhiều, chưa đồng bộ giữa các bộ môn. Tôi mong
rằng ý tưởng của tôi sẽ được các đồng nghiệp đón nhận, nghiên cứu, phân tích, bổ
sung thêm để đưa vào vận dụng một cách hiệu quả nhất.Nếu được sự ủng hộ của các
cấp lãnh đạo, của bạn bè đồng nghiệp xa gần tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu đề tài phương
3. Tình hình trang thiết bò dạy học của nhà trường 5
4. Bản thân giáo viên 5
5. Sự cần thiết của đề tài 5
III. Nội dung đề tài 6
A. Vấn đề đặt ra 6
1. Chia nhóm theo qui mô 6
2. Chia nhóm theo điều kiện học sinh 10
3. Chia nhóm theo nội dung học tập 15
B. Qui trình dạy học hợp tác theo nhóm 15
C. Biện pháp thực hiện 16
D. Qui trình nghiên cứu và kết quả thực tế 17
C. KẾT LUẬN 20
1. Bài học kinh nghiệm 20
2. Hướng phổ biến và áp dụng đề tài 20
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 22
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI :
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HP TÁC THEO NHÓM
MÔN TOÁN LỚP 6
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BƯNG BÀNG-TÂN CHÂU-
TÂY NINH.
A . PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
-Do yêu cầu đổi mới giáo dục của nước nhà.
-Nâng cao chất lượng dạy học theo phương pháp thầy chỉ đạo tổ chức, trò chủ động
sáng tạo.
II/ ĐỐI TƯƠNG NGHIÊN CỨU
Từ thực tiễn giảng dạy môn Toán khối 6 qua nhiều năm công tác, từ quá trình tích
cực đổi mới các phương pháp trong khi dạy và học bộ môn, từ sự tham mưu với
BGH, bàn bạc với Tổ CM dạy Toán.Từ sự kết hợp với phụ huynh học sinh để nghiên
-Nhóm theo giới tính hoặc cân bằng giới.
-Nhóm theo trình độ học lực các tổ, nhóm.
-Nhóm những học sinh có trình độ ngang bằng nhau.
3/ Phương pháp chia nhóm theo nội dung học tập.
-Nhóm theo khu vực chỗ ngồi.
-Nhóm theo dụng cụ học tập.
B / QUI TRÌNH DẠY HỌC HP TÁC THEO NHÓM.
-Làm việc chung cả lớp.
-Hoạt động nhóm.
-Thảo luận tổng kết trước lớp.
C/ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
-Soạn giáo án chi tiết, lôgic, có hệ thống, khoa học.
-Nghiên cứu bài dạy tỉ mỉ, cẩn thận,dự đoán được những tình huống có thể xảy ra
-Phương pháp cần sử dụng cho mỗi phần kiến thức có phù hợp với học sinh, với nội
dung bài dạy
-Thảo luận theo hình thức nào để mang lại hiệu quả cao nhất.
-Nội dung bài dạy liên hệ thực tế đời sống học sinh.
-Đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết dạy là những gì
D/ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ THỰC TẾ.
-Nghiên cứu đúng theo kế hoạch đã nêu.
-Kết quả học sinh khá giỏi tăng, giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém.
C . KẾT LUẬN.
-Học sinh mạnh dạn và hứng thú học tập hơn.
-Phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh.
-Chất lượng được nâng cao rõ rệt.
-Mong muốn phổ biến và sử dụng rộng rãi đề tài nhằm nâng cao chất lương giáo dục
theo yêu cầu đổi mới của nước nhà.
-Nghiên cứu thêm nhiều phương pháp hơn nữa để phục vụ cho công tác giảng dạy.
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 24
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm môn Toán lớp 6_Trường THCS Bưng Bàng – Tân Châu.
CHỦ TỊCH HĐKH
TRƯỜNG
Người thực hiện : Lê Thò Kim Duyên Trang 25