BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
TIỂU LUẬN
MÔN: VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI
ĐỀ TÀI: CÁC VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA NƯỚC TA VÀ GIAO
LƯU VĂN HÓA NƯỚC TA VỚI CÁC NƯỚC TRONG XU THẾ TOÀN CẦU
HÓA HIỆN NAY
Học viên: Nguyễn Lê Dung
Lớp: Cao học khoá 8
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ VĂN HOÁ 3
II. CÁC VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VĂN HOÁ NƯỚC TA 5
1. Lịch sử hình thành và phát triển văn hoá Việt Nam 5
2. Các vấn đề về xây dựng văn hoá nước ta 9
III. GIAO LƯU VĂN HOÁ NƯỚC TA VỚI CÁC NƯỚC TRONG XU THẾ TOÀN
CẦU HOÁ HIỆN NAY 15
1. Khái niệm Toàn cầu hoá 15
2. Ảnh hưởng toàn cầu hoá tới văn hoá 16
3. Một số vấn đề chú ý về giao lưu văn hoá nước ta với các nước trong xu thế toàn cầu
hoá 17
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
2
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
LỜI NÓI ĐẦU
Trong vài thập kỷ gần đây, ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến văn hoá dân tộc là
một đề tài được nhiều người quan tâm, nhất là ở những quốc gia phương Tây. Việt
Nam chúng ta cần phát triển, và tự hào có một nền văn hoá bản địa lâu đời. Bởi lẽ
“văn hoá” lẫn “toàn cầu hoá” đều là những khái niệm phức tạp, đối với Việt Nam để
chỉ có ở loài người (loài vật dù có phát triển cao, có trí thông minh và trí không
tương đối cũng không có văn hóa), văn hóa là sức mạnh bản chất của con người thể
hiện trong hoạt động sống và phương thức sống của con người, thể hiện trong bản
thân con người và tầm vóc phát triển. Con người tồn tại trong một xã hội người nhất
định thì văn hóa là phương thức tồn tại độc đáo của xã hội người đó, hơn hẳn hình
thức quần thể, bầy đàn của động vật. Loài vật chỉ có thể tồn tại và di truyền theo con
đường sinh học nhưng văn hóa của loài người được truyền đạt trong xã hội, được bắt
chước, làm theo, học tập, cải tiến, phát triển qua các hệ thống biểu tượng, qua hoạt
động kế thừa, phát huy
UNESCO có định nghĩa về văn hoá như sau: Văn hoá hôm nay có thể coi là
tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính
cách xã hội, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, hệ thống các giá trị,
những tập tục và tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về
bản thân mình. Chính văn hoá làm cho con người được xem là những sinh vật đặc
biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và biết dấn thân theo đạo lý. Chính nhờ văn
hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức, tự biết mình; luôn tìm tòi những ý nghĩa
mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên trên bản thân".
4
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
II. CÁC VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VĂN HOÁ NƯỚC TA
1. Lịch sử hình thành và phát triển văn hoá Việt Nam
Nền văn hóa trên mảnh đất Việt Nam đã xuất hiện và bắt đầu, tích tụ từ hàng
nghìn năm trước. Thông qua các di chỉ, bằng chứng hiện vật khảo cổ khai quật và đã
được nghiên cứu, người ta đã chứng minh rằng con người và văn hoá đã xuất hiện
trên mảnh đất Việt Nam từ hàng vạn năm, từ văn hoá đồ đá cũ Núi Đọ qua văn hoá
đồ đá giữa Hoà Bình đến văn hoá đồ đá mới Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Hạ Long, để rồi
tích tụ và "bùng nổ" nền văn minh Đông Sơn rực rỡ. Nền văn hoá Đông Sơn tương
ứng với thời đại Hùng Vương là sự khởi đầu của lịch sử văn hoá Việt Nam đã được
lưu truyền không chỉ trong truyền thuyết mà còn thể hiện rõ ràng, sinh động qua các
vật chứng, các di tích lưu lại đến ngày nay.
khởi nghĩa Ngô Quyền năm 938 chúng ta vừa đánh đuổi được quân xâm lược ra khỏi
bờ cõi, khôi phục độc lập dân tộc, vừa tự cường, đổi mới văn hoá Đông Sơn hình
thành nền văn hoá Đại Việt, mở đầu là văn hoá Lý - Trần rực rỡ.
Giai đoạn chuyển tiếp và tiếp biến văn hoá này vô cùng quan trọng và diễn ra
trên nhiều phương diện với nội dung phong phú: chính trị, luật pháp, tổ chức nhà
nước, giáo dục, ý thức hệ, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục, văn học, nghệ thuật. Đây
là quá trình không phải "Hán hoá" mà là "bản địa hóa", "nội sinh hoá" văn hoá
Trung Hoa. Văn hoá Đại Việt ra đời giai đoạn sau chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá
Hán, nhưng không phải là văn hoá Hán. Nền văn hoá Đại Việt hình thành và phát
triển trên nền tảng của kinh tế nông nghiệp tiểu nông phong kiến và hệ tư tưởng
thoát thai từ Tam giáo: Phật - Đạo - Nho, trong đó Nho giáo là trụ cột. Cơ cấu xã hội
cơ bản là Nhà - Làng - Nước. Trong đó Nhà (gia đình, gia tộc) và Làng (làng xã) là
nhân tố xã hội tảng nền, từ đó chuẩn mực ứng xử là sự mở rộng từ gia tộc ra toàn xã
hội.
6
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
Tôn giáo tín ngưỡng Đại Việt dựa trên cơ sở Tam giáo đồng nguyên (Phật -
Đạo - Nho), kết hợp nhuần nhuyễn với tín ngưỡng bản địa, tạo nên một môi trường
đời sống tâm linh phong phú, đa dạng, mang nặng tính ứng xử hơn là triết lý, lấy sự
hoà nhập, khoan dung làm cốt cách, xa lạ với sự xung đột và bài xích giữa các tôn
giáo.
Chủ nghĩa yêu nước là một hệ ý thức xã hội cơ bản, từ đó sản sinh và tích hợp
nhiều hình thức và giá trị văn hoá - nghệ thuật dân tộc. Do vậy, bên cạnh khuynh
hướng dân gian hoá, địa phương hoá vốn là thế mạnh của một đất nước lấy nông
nghiệp nông thôn và nông dân làm cơ sở, thì lịch sử hoá cũng là một khuynh hướng
vượt trội của một đất nước tồn tại và phát triển dựa trên sức mạnh yêu nước và cố
kết cộng đồng.
Thời kỳ phong kiến Đại Việt là thời kỳ định hình và phát triển ở trình độ cao
văn hoá cổ truyền Việt Nam. Tất cả những hình thức và giá trị văn hoá của các dân
tộc ở Việt Nam gắn với nền nông nghiệp tiểu nông phong kiến trước khi bước vào
chữ quốc ngữ và chế độ giáo dục mới hiện đại, đội ngũ tri thức mới, các ngành khoa
học hình thành, nhiều hình thức văn hoá nghệ thuật mới nảy nở và phát triển: tiểu
thuyết, thơ mới, sân khấu kịch, âm nhạc, phim ảnh, thể thao, Đó là kết quả quá
trình đổi mới từ văn hoá Đại Việt sang văn hoá Việt Nam.
Nền văn hoá Việt Nam ngày nay, mang tên quốc gia Việt Nam xuất hiện từ
cuối thời Nguyễn, tuy nhiên nó gắn với sự ra đời nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà từ 1945. Đó là nền văn hoá hình thành trên nền tảng văn hoá Đại Việt và quá
trình đổi mới của văn hoá Việt Nam trong khung cảnh tiếp xúc văn hoá Đông Tây
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nếu nền văn hoá Đại Việt hình thành và định hình
từ hai nhân tố tạo hệ thống là nông nghiệp tiểu nông phong kiến và ý thức hệ tam
giáo, trong đó nổi trội là Nho giáo, thì nền văn hoá Việt Nam hình thành và định
8
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
hình trên cơ sở nền kinh tế công nghiệp hoá, ý thức hệ Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Nền văn hoá này đã trải qua quá trình chuyển tiếp từ cuối thế kỉ XIX đến năm
1945, mà nội dung cơ bản của nó là tiếp xúc văn hoá Đông Tây như đã trình bày ở
trên. Thực ra quá trình chuyển biến này vẫn còn tiếp tục kể cả trong thời kỳ sau cách
mạng tháng Tám năm 1945, thậm chí tới tận ngày nay. Trong quá trình chuyển tiếp
ấy, các nhân tố nội lực của nền văn hoá cổ truyền và các nhân tố ngoại sinh của thế
giới bên ngoài đang cùng tác động và chuyển hoá lẫn nhau. Có thể nói đây là lần thứ
ba Việt Nam mở cửa và hội nhập với thế giới hiện đại, mà hệ quả của nó sẽ ra đời
một nền văn hoá Việt Nam mới tiến bộ và mang đậm bản sắc dân tộc
2. Các vấn đề về xây dựng văn hoá nước ta
a) Định hướng xây dựng văn hoá của Đảng
Nhận định rõ vai trò, vị trí và ảnh hưởng của văn hóa, bản sắc văn hóa, hình
thành và các đặc trưng, đặc điểm, xu hướng phát triển của nền văn hóa Việt Nam,
năm 1986 Đảng cộng sản Việt Nam đổi mới tư duy phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng đời sống mới. Từ đây, cùng với các lĩnh
vực khác, văn hoá được Đảng chú trọng quan tâm bằng những quyết sách cụ thể.
Tiếp tục đường hướng nói trên, năm 1998 Đảng ta tổ chức Hội Nghị Trung
ương V, chuyên bàn về vấn đề văn hoá. Xác định xây dựng nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn phát triển mới. Nền văn hoá tiên
tiến không có nghĩa là xoá bỏ truyền thống mà nó là nền văn hoá mang những đặc
trưng cụ thể như: yêu nước, tiến bộ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh
sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhân văn, phong phú cả về
nội dung và hình thức. Tính chất tiên tiến phải đảm bảo được nội dung nhân văn,
nhân đạo sâu sắc, nhưng đồng thời phải thể hiện sự đa dạng và phong phú về hình
10
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
thức. Tính chất đậm đà của nền văn hoá dân tộc đảm bảo giữ gìn và phát huy những
giá trị mang bản sắc dân tộc như lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, sự bao dung, độ
lượng, quý trọng nghĩa tình, đạo lý, dũng cảm và đặc biệt giữ gìn tinh thần đoàn kết
dân tộc.
Để xây dựng nền văn hoá vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc, Hội Nghị
TW V đã xác định:
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội;
Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc;
Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam;
Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo,
trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng;
Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách
mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
Đảng ta coi văn hoá là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển và
yếu tố quyết định nội lực là chất lượng con người. Vì vậy, xây dựng nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa với
những đặc trưng cơ bản: dân tộc, hiện đại, nhân văn là nhiệm vụ rất quan trọng trong
Thứ ba, nét đặc trưng của đời sống tinh thần, của phẩm giá của con người Việt
Nam là truyền thống cộng đồng, lòng nhân ái, những tình cảm vị tha và khoan
dung vẫn được giữ vững, phát huy trong điều kiện mới của đất nước. Những giá trị
mang tính nền tảng cốt lõi ấy là cơ sở để phát triển tính nhân văn và xây dựng văn
hoá Việt Nam hiện đại, tiên tiến, mang bản sắc dân tộc. Có thể khẳng định rằng, đây
là một thuận lợi căn bản của chúng ta hiện nay và mai sau.
Thứ tư, con người Việt Nam vẫn giữ được truyền thống hiếu học, tôn sư trọng
đạo, và sự hình thành, phát triển các giá trị mới của văn hoá và con người đã chứng
minh sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại trong thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ năm, mặc dù mô hình gia đình truyền thống đang có những biến đổi lớn,
phức tạp do sự tác động của kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường, do những biến đổi
của xã hội đang quá độ lên CHXH nhưng những giá trị tinh thần, đạo lý của gia
đình truyền thống vẫn được giữ vững, có ảnh hưởng tích cực trong đời sống gia đình
12
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
Việt Nam, vẫn là nhân tố quan trọng đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của
xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh trên đây, chúng ta cũng cần phải nhận
diện một số yếu kém trong văn hoá và con người Việt Nam hiện nay. Điều này được
thể hiện ở chỗ:
Phong cách sản xuất nhỏ biểu hiện trong thói quen, tập quán, lối sống và cách
ứng xử, nếp suy nghĩ, lề thói làm ăn của người Việt Nam vẫn đang là những hạn
chế không nhỏ trong việc thay đổi, hình thành và phát triển những giá trị văn hoá
tích cực.
Những mặt trái của kinh tế thị trường đang tác động tiêu cực tới sự phát triển
văn hoá và con người Việt Nam. Sự suy giảm về mặt đạo đức của không ít người,
nhất là lớp trẻ. Cùng với đó là sự xuất hiện các yêu tố tiêu cực khác, như chủ nghĩa
cục bộ, địa phương, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, đề cao quá mức tiện
nghi vật chất, xa hoa, lãng phí, sự phát triển chủ nghĩa cá nhân vị kỷ biểu hiện trong
tàng văn hoá phi vật thể được lưu giữ qua trí nhớ, chữ viết, truyền khẩu, truyền
nghề, hoặc các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, kể cả tiếng nói, tác phẩm văn học,
khoa học, truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, trang phục,
tri thức dân gian… UNESCO cũng đã công nhận các kiệt tác phi vật thể của văn hoá
Việt Nam, có thể kể ra một vài ví dụ như: Nhã nhạc Việt Nam – Âm nhạc cung đình
Triều Nguyễn; Cồng chiêng Tây Nguyên.
Mặc dù kho tàng văn hoá Việt Nam phong phú như vậy nhưng thực trạng hiện
nay, vấn đề trau dồi, giữ gìn và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá, các di sản văn
hoá vật thể và phi vật thể của Việt Nam còn rất nhiều bất cập. Các di sản văn hoá vật
thể phần lớn đã mai một theo thời gian, với các di sản văn hoá phi vật thể lại có một
bộ phận không nhỏ người Việt Nam thờ ơ, không quan tâm đến nó. Muốn giữ gìn và
bảo tồn, phải được chính người Việt Nam kế thừa và phát huy trong cộng đồng,
trong xã hội trước khi những giá trị tốt đẹp nhất vĩnh viễn mất đi.
14
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
III. GIAO LƯU VĂN HOÁ NƯỚC TA VỚI CÁC NƯỚC TRONG XU THẾ
TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY
1. Khái niệm Toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá đã tạo ra một bộ mặt mới của thế giới, cùng với và dựa vào
những tiến bộ khác, mà trước hết là tiến bộ khoa học - công nghệ, tiến bộ kinh tế.
Sức mạnh của toàn cầu hoá là sức mạnh có thật được tạo ra từ những liên kết, hợp
tác, cạnh tranh, và cả đối đầu. Trong vòng 10 năm qua, giá trị thương mại thế giới đã
tăng gần gấp đôi, vượt quá con số 10.000 tỷ USD năm 2005 với tốc độ tăng trưởng
thực tế ở năm cao nhất (2004) là 9%. FDI toàn cầu năm 2000 là 1.400 tỷ USD, và
năm 2007 là 1.538 tỷ USD. Ở châu Á, toàn cầu hoá đã góp phần làm giảm đáng kể
tình trạng đói nghèo (đặc biệt ở Việt Nam, tỷ lệ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993
xuống còn 24,1% năm 2004 và 14,8% năm 2007).
Vậy toàn cầu hóa là gì?
Từ "toàn cầu hóa" tuy phổ biến và lâu đời nhưng thật sự người ta lại rất khó
trả lời và đi đến thống nhất một khái niệm về toàn cầu hóa.
các nước công nghiệp. Nghĩa là sự thua thiệt rơi vào các nước kém phát triển, sức
ảnh hưởng từ kinh tế, chính trị, văn hoá… của các nước phát triển có áp lực lớn hơn.
Toàn cầu hoá về kinh tế tất yếu sẽ kéo theo toàn cầu hoá văn hóa (ít nhất là ở
một số góc độ của văn hoá). Khắp nơi, từ Đông Á đến Tây Âu, từ Mỹ Latinh đến
Trung Đông, từ vùng văn hoá Kitô giáo đến vùng văn hoá Phật giáo, Hồi giáo… đâu
đâu người ta cũng thấy văn hóa kiểu Mỹ (không nhất thiết phải có nguồn gốc Mỹ)
tràn ngập và lấn chiếm thị phần: đồ ăn nhanh McDonald’s, hệ điều hành Windows,
phim Mỹ, quần bò Levis, nhạc Rock, Rap…, thậm chí, cả dân chủ theo tiêu chuẩn
16
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
Mỹ… tất cả, dường như đang bị cuốn theo hệ thống những giá trị kiểu Mỹ, phương
Tây. Một bộ phận không nhỏ (có thể là chủ động hoặc bị động) khai thác và khuyến
khích phát triển tâm lý hưởng lạc vật chất tầm thường, đánh vào thị hiếu thấp hèn
làm thay đổi quan niệm về giá trị văn hóa truyền thống, đồng hóa văn hóa bởi cái gọi
là giá trị của "thế giới tự do".
Toàn cầu hoá gây áp lực lên những bản sắc văn hóa đã được tạo dựng hàng
ngàn năm ở các xã hội truyền thống bắt đầu bằng việc xóa nhòa hoặc thương mại
hóa bản sắc độc đáo của từng dân tộc, làm cùn mòn và mai một các truyền thống
mang nặng giá trị trách nhiệm xã hội…
3. Một số vấn đề chú ý về giao lưu văn hoá nước ta với các nước trong xu thế
toàn cầu hoá
a) Chủ trương của Đảng
“Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Lời tuyên bố đó của nguyên Tổng Bí thư Đỗ
Mười đã mở ra một thời kỳ mới trong qua trình giao lưu và hội nhập văn hoá. Giao
lưu và hội nhập văn hoá là nhằm mục đích phát triển cho nên nó phải được xây dựng
trên những nguyên tắc được đúc kết bằng kinh nghiệm lịch sử đấu tranh dựng nước
và giữ nước của dân tộc, bảo đảm phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh”.
b) Nhận thức và chủ động trong cuộc chơi toàn cầu hoá
căng bởi văn hoá độc hại, ngoại lai, đánh mất bản sắc của mình. V.I. Lênin cũng đã
từng có những quan điểm rất cởi mở: “trong bất kỳ triết học nào, người nghệ sỹ cũng
đều có thể rút ra được những điều bổ ích cho mình”
3
.
3
V.I Lênin, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.47,tr.183
18
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
Kinh nghiệm của thế giới cũng như của các nước trong khu vực cho thấy rõ,
phải ra sức bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc, giữ vững bản sắc văn hoá, bảo vệ
các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Đương nhiên là không được khép kín, bài
ngoại mà luôn luôn tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá thế giới và cũng
không phải là tiếp thu ồ ạt, tiếp thu cả những cái không phù hợp hoặc thậm chí đi
ngược lại, huỷ hoại bản sắc văn hoá dân tộc. Mỗi dân tộc đều có truyền thống văn
hoá của mình, phát triển văn hoá dân tộc chính là góp phần làm cho văn hoá của các
dân tộc trong khu vực và trên thế giới thêm phong phú. Sự giao lưu văn hoá giữa các
quốc gia là cần thiết và có lợi cho mỗi dân tộc. Điều mà chúng ta cần lưu ý là đề
phòng khuynh hướng du nhập thiếu chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại lai, thậm
chí những cặn bã, những chất phế phẩm thải của các loại sản phẩm văn hoá thô lậu
và nhiều nước văn minh đã bài trừ, những yếu tố này cần phải kiên quyết ngăn ngừa,
đấu tranh để bài trừ.
Trong lịch sử, văn hoá Việt Nam về nội sinh đã rất giàu sức sống, đã thâu hoá
được những yếu tố ngoại sinh ưu việt và đã Việt hoá các yếu tố văn hoá của phương
Bắc (Hán tự, các đạo Nho, Lão, Khổng ), của phương Nam (Phật giáo) và của
phương Tây (Chữ quốc ngữ, khoa học, nghệ thuật hiện đại). Do đó, có cơ sở mà có
thể khẳng định rằng văn hoá Việt Nam sẽ liên tục phát triển, ngày càng hoà nhập vào
khu vực và thời đại mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc đậm đà.
d) Tăng cường trao đổi, hợp tác, giao lưu văn hoá, nâng cao vị thế và nhận biết
về Việt Nam (lịch sử, đất nước, con người, văn hoá…) trên trường quốc tế
Tiểu luận Văn hoá đối ngoại - Nguyễn Lê Dung - CH8
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6,7,8,9,10,
Nxb. Chính trị quốc gia.
2. Ban Tư tưởng văn hoá trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội,
2003.
3. Dominique Wolton, Toàn cầu hoá văn hoá, Nxb. Thế giới, 2006.
4. VS.Hồ Sĩ Vịnh, Giao lưu văn hoá thời hội nhập, Nxb.Chính trị quốc gia, 2008.
5. GS.TS. Phạm Xuân Nam, Văn hoá vì phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, 2005.
6. Tập Bài giảng môn Văn hoá đối ngoại, Lớp Cao học khoá 8, Học viện Ngoại giao.
7. Trang báo điện tử của Viện Nghiên cứu văn hoá, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
/>8. V.I Lênin, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
22