Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
KHOA ĐÔ THỊ
TIỂU LUẬN:
SINH THÁI VÀ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT THỦY SINH VÀ
QUẦN THỂ VI SINH VẬT TRONG VIỆC XỬ LÝ NƯỚC HỒ
VĂN QUÁN
GVHD: Ths. Nguyễn Hồng Vân
Sinh viên thực hành: Nguyễn Xuân Nhất
Lớp 11M
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 1
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
DANH MỤC VIẾT TẮT
ATP Adenosin Triphosphat
BOD Biochemical Oxygen Demand
CFU Clonny Form Unit
COD Chemical Oxygen Demand
N Ni tơ
P Photpho
TSS Total Suspended Solids
TVTS Thực vật thủy sinh
VSV Vi sinh vật
BTNMT Bộ Tài Nguyên Môi Trường.
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 2
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Kết quả phân tích các thông số của nước Hồ Văn Quán
Bảng 2. Số lượng VSV phân lập được trong nước được lấy mẫu ở Hồ Văn Quán
Bảng 3. Số lượng VSV phân lập được trong hộ rễ TVTS đối với mẫn nước trong Hồ Văn
của các đối tượng nghiên cứu theo
thời gian
Hình 11. Biểu đồ thể hiện sự biến đổi giá trị P-PO
4
3-
của các đối tượng nghiên cứu theo
thời gian
Hình 12. Biểu đồ thể hiện sự hiệu quả xử lý các thông số của nước Hồ Văn Quán của các
loại thực vật nghiên cứu theo thời gian thí nghiệm.
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 4
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1. Giới thiệu chung về hồ
1.1. Hồ và hệ thống hồ ở Hà Nội
1.2. Bản chất các quá trình xảy ra trong hồ
1.3. Hiện trạng môi trường nước hồ tại Hà Nội
2. Xử lý nước thải bằng VSV
2.1. Vai trò của TVTS trong việc xử lý nước thải
2.2. Cơ chế xử lý ô nhiễm nước thải của TVTS
2.3. Quá trình làm sạch nước thải bằng VSV
2.3.1.1. Sơ lược về VSV
2.3.1.2. Vai trò của VSV trong việc xủ lý và làm sach nước thải
3. Tình hình nghiên cứu về xử lý nước thải bằng vi sinh vật và TVTS
3.1. Tình hình và các kết quả nghiên cứu trên thế giới
3.2. Tình hình và các thành tựu có được ở Việt Nam
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
1.1. Đối tượng nước nghiên cứu
MỞ ĐẦU
Môi trường – một vấn đề lớn, ngày nay nó đã trở thành vấn đề chung của toàn
nhân loại, được cả thế giới quan tâm. Bên cạnh nhưng đột phá mới của các ngành công-
nông nghiệp để phát triển kinh tế, nâng cao chât lượng cuộc sống thì kéo theo đó là
những vấn đề môi trường được nãy sinh và gây ảnh hưởng rất lớn. Nằm trong vòng quay
chung của thế giới, môi trường ở Việt Nam cũng đang xuống cấp, có nơi môi trường bị
hủy hoại nghiêm trọng gây mất cân bằng sinh thái, cùng với việc khai thác không hợp lí
các nguồn tài nguyên cũng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và
sự phát triển bền vững của đất bước. Trong các vấn đề của môi trường thì vấn đề ô nhiễm
nước cũng đang là mối quan tâm của toàn xã hội; đặc biệt, ô nhiễm nước thải sinh hoạt là
vấn đề đáng lo ngại, nó ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp tới sức khỏe con người.
Xử lý nước thải bằng phương pháp sử dụng các loại thực vật thủy sinh (TVTS) và
vi sinh vật (VSV) đã và đang được áp dụng tại nhiều nơi trên thế giới với nhiều ưu điểm.
Xử lý nước bằng thực vật và vi sinh vật là công nghệ xử lý trong môi trường tự
nhiên, thân thiện vơi môi trường, cho phép đạt hiệu suất cao, chi phí thấp và ổn định,
đồng thời bên cạnh đó còn tăng giá trị về đa dạng sinh học, cải tạo cảnh quan môi trường,
hệ sinh thái của địa phương. Sinh khối thực vật, bùn phân hủy, nước thải sau khi xử lí còn
gián tiếp mang lại nhiều giá trị kinh tế. Mặt khác, Việt Nam là nước nhiệt đới, khi hậu
nóng ẩm, rất thích hợp cho sự phát triển của các loài thực vật thủy sinh và vi sinh vật.
Do vậy, em chọn đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá vai trò của thực vật thủy sinh và
quần thể vi sinh vật trong việc xử lý nước ở hồ Văn Quán” làm đề tài nghiên cứu của
mình.
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 7
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
Khách thể nghiên cứu:
Hồ Văn Quán – Khu đô thị Văn Quán – Hà Đông – Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu:
Thực vật thủy sinh (cây bèo tây, cây bèo cái, cây thủy trúc ) và quần thể vi sinh vật ở hồ
Văn Quán.
Phạm vi nghiên cứu:
nguông phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động khác của đo thị. Các hồ tạo
thành một hệ thống kết nối với các sông tiêu thoát nước cho thủ đô.
Do các đô thị có địa hình tương đối bằng phẳng nên mật độ các hồ ao và kênh
thoát nước trong thành phố tương đối cao, chiếm khoảng 10-15% diện tích đô thị. Các hồ
nội thành có diện tích từ một vài ha đến hàng trăm ha ( hồ lớn nhất là hệ thống hồ Tây –
hồ Trúc Bạch có diện tích gần 500 ha) . Đây là khung sinh thái đo thị đảm nhận các vai
trò: tiếp nhận, điều hòa nước mưa, xử lý nước thải thông qua quá trình tự làm sạch, nuôi
cá và là nơi vui chơi giải trí của người dân. Chức năng chính của các hồ là phục vụ thoát
nước, xử lý nước thải sơ bộ.
Theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu môi truongf và cộng đồng ( CECR) năm
2010, Hà Nội hiện có 120 hồ, ao, đầm, thủy vực lớn nhỏ trong 6 quận nội thành. Trong số
80/120 hồ thì có 76% số hồ có diện tích lớn hơn 1.000m
2
, 17,5% hồ có diện tích dưới
500m
2
và 6% hồ có diện tích từ 500- 1.000 m
2
. Hầu hết các hồ trong nội thành là nơi tiếp
nhận trục tiếp nước thải, nước mưa của hệ thống thoát nước quanh đó sau đó tiêu thoát
qua các mương thoát nước chung của thành phố. Trừ Hồ Tây và Hồ Hoàn Kiếm được sử
dụng cho mục đích tham quan du lịch, điều hòa nước mưa, tiếp nhận nước thải có hạn
chế thì các hồ còn lại đóng vai trò chứa và thoát nước thải, nước mưa của khu vực. Các
hồ ngoại thành như Hồ Yên Sở, Hồ khu đô thị mới Định Công, Linh Đàm đóng vai trò
như các hồ đầu mối tiếp nhận nước điều hòa nước mưa.
Theo số liệu thống kê, hiện nay trong nột thành Hà Nội ( trên địa bàn 9 quận) chỉ
có 17 hồ thuộc ở khu vực nội thành chịu sự quản lý của Công ty Thoát nước Hà Nội.
Theo tổng kết, hiện trạng các hồ như sau:
- 15 hồ đã xây dựng hệ thống cửa phai hoặc lắp đặt tuyến cống bao để
tách nước thải và 2 hồ ở vườn Bách Thảo không nhận nguồn thải.
do vi
khuẩn tạo thành để phát triển tăng sinh khối và thải oxi.
Vùng tùy nghi với hệ VSV khá phong phú với các loại vi khuẩn. Các vi khuẩn này
phân giải các chất hửu cơ thành nhiều chất trung gian khác, cuối cùng là CO
2
va H
2
O
đồng thời tạo ra các tế bào mới, chúng sử dụng O
2
do tảo và các loài thức vật trong nước
sinh ra.
Các VSV phân hủy các chất hữu cơ thành các chất vô cơ, cung cấp cho các TVTS,
trước hết là tảo. Tảo và các TVTS khác lại cung cấp ooxxi cho vi khuẩn. Các loài TVTS
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 10
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
như tảo, rong, bèo, có rễ, thân tạo điều kiện cho VSV bám vào mà không bị chìm xuống
đáy. Chúng cung cấp oxi cho vi khuẩn hiếu khí, ngoài ra còn cung cấp cho VSV những
hoạt chất sinh học cần thiết, ngược lại vi khuẩn cung cấp ngay tại chỗ cho thực vật
những sản phẩm trao đổi chất của mình, đồng thời thực vật cũng che chở cho vi khuẩn
khỏi bị chết dưới ánh nắng mặt trời. Tảo khi sống là nguồn thức ăn cho cá và các loại
thủy sản khác, khi chết sẽ là dinh dưỡng cho VSV.
Vùng kị khí sẽ sảy ra quá trình phân giải các chất hữu cơ ở diểu kiện kị khí có
trong lớp bùn hoặc ở trong nước đáy. Các sản phẩm phân hủy kị khí trước tiên là các axit
hữu cơ, sau đó thành NH
3
, CH
4
, H
2
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 11
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
nghiệp, bệnh viên, Phần lớn các nguồn nước thải này đều chưa qua xử lí đổ ra sông và
hồ, gây ô nhiễm cho hồ ngày càng nặng.
Theo Sở Tài Nguyên – Môi Trường Hà Nội, tổng lượng nước thải sinh hoạt và
nước thải sản xuất công nghiệp ở khu vực nội thành khoảng 500,00m
3
/ngày, đều tiêu
thoát qua hệ thống cống và 4 sông tiêu chính là Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu. Nước thải
từ hoạt động sản xuất, bệnh viện và cơ sở dịch vụ chứa nhiều chất gây ô nhiễm chưa
được sử lí chiếm tới 90% tổng lượng nước thải công nghiệp, dịch vụ xả thẳng vào vào
nguồn nước mặt. Hiện Hà Nội chỉ mới có 40 cơ sở sản xuất công nghiệp, 29 cơ sở sản
xuất dịch vụ và 5 bệnh viện có trạm sử lí nước thải.
Hiện tượng đổ phế thải dựng, đổ đất, lấn chiếm ao hồ, làm giảm đáng kể diện
tích ao hồ, nhiều hồ đang dần dần biến mất. Các hồ chưa kè đều đứng trước nguy cơ bị
lấn chiếm, việc kè hồ giúp chấm dứt việc lấn chiếm. Tuy nhiên, nhiều hồ đã kè những
cũng rất ô nhiễm, nước đục đen, làm nất đi nền tảng sinh thái và thảm động , thực vật tự
nhiên ven bờ rất quan trọng đối với nhiều hồ. Nhiều ao, hồ đã bị san lấp để lấy đất xây
dựng, diện tích mặt ao, hồ đã giảm đi rất nhiều, có nhiều ao, hồ đã hoàn toàn biến mất,
nhiều nới trước kia là hồ thì bây giờ được thay thế bẳng những khu đô thị hay những nhà
chung cư. Theo thống kê sơ bộ của Sở Xây dựng Hà Nội, giai đoạn 1986 – 1994 diện tích
mặt hồ bị giảm hơn 16 ha. Một năm sau, năm 1995 đã có thêm 23 mặt hồ bị biến mất.
Trong đó, Hồ Tây với diện tích khoảng hơn 500 ha, chiếm gần 50% diện tích ao, hồ toàn
thành phố nay chỉ còn 446 ha. Cũng rơi vào tình trạng như vậy, hồ Linh Quang (Đống
Đa) cũng từ diện tích 6 ha giờ đã giảm xuống, còn 5,2 ha.
Ngoài việc hồ bị lấn chiếm do đổ đất, phế thải xuống bờ hồ và rác thải vào hồ, các
hồ còn bị lắng rất nhiều do không được nạo vét thường xuyên, mặt hồ phủ kín đầy rau
muống, bèo các loại gây mất mĩ quan, không phát huy được vai trò điều hòa nước mưa.
Diện tích các hồ ao đang ngày càng thu hẹp, làm giảm khả năng điều hòa. Bên cạnh đó,
do tốc độ đô thị hóa rất nhanh và ý thức của bộ phân dân cư còn thấp nên các hồ nằm
nuôi, làm phân bón, sản xuất protein, khi metan
Một số vai trò chủ yếu của TVTS:
a. Làm giá thể cho VSV sống
Quần thể VSv thực hiện các giai đoạn khác nhau trong quá trình xử lý. TVTS cung cấp
cho VSV bề mặt hay giá thể để sinh trưởng, phát triển và tạo ra màng sinh học, lớp màng
này tạo bởi VSV sống trên rễ và phần thân thực vật kể cả á rụng. Hệ thống màng sinh học
do VSV tạo thành có vai trò chính trong quá trình xủ lý. Diện tích bề mặt và số lượng cá
thể cang lớn thì hiệu quả xử lý càng cao.
b. Tạo điểu kiện cho quá trình nitrat hóa và phản nitrat hóa
Chức năng quan trọng của hệ thống đất ngập nước dùng để xử lý nước thải là loại
bỏ nito trong liên kết. Nước thải đi vào hệ thống thường có lượng Õi hòa tan rất thấp có
đôi khi bằng 0. Do đó nito trong nước thải chử yếu tồn tại ở dạng ni tơ hữu cơ hoặc NH
3
.
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 13
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
Sự chuyển hóa NH
3
thành NO
3
-
không thể xảy ra trừ khi chất thải được sục khí, khi đố các
vi khuẩn hiếu khí sẽ thực hiện quá trình này. Nếu như ở điều kiện kị khí thì sẽ tạo ra sự
ức chế quá trình oxi hóa NH
3
thành NO
3
-
. Do đó 1 lượng õi khuếch tán sẽ đẩy nhanh quá
trình nitrat hóa và phản nitrat hóa để xử lý nước thải.
chất rắn sẽ bị lắng xuống. Bởi vậy, thực vật tạo điều kiện cho việc phát huy việc xử lý các
chất hữu cơ bằng cách kéo dài thời gian cho quá trình biến đổi sinh hóa.
e. Nguồn che sáng
Với sự che mát cho nước, TVTS đã giúp điều hòa nhiệt độ của nước và làm giảm
quần thể tảo, qua đó hạn chế được sự dao dộng lớn của pH và lượng oxi hòa tan giữa ban
ngày và ban đêm. Điều đó cũng làm giảm lượng chất rắn lơ lửng trong nước.
f. Cung cấp lớp đất và trầm tích mới
Theo thời gian, một lớp giống như bùn được tích tụ dần trên mặt nên đáy. Các chất
này đôi khi tạo ra một lớp đất hoặc trẩm tích lắng đọng mới, chứa cặn bã thực vật, sản
phẩm trao đổi chất của VSV và chất rắn phân giải chậm hoặc không phân giải được sẽ
được thực vật giữ lại. Nếu tính toán được sự tích tụ này sẽ cho phép thiết kế độ sâu của
bể hay ao xử lý có hiệu quả và ổn định.
g. Ảnh hưởng về vật lý
Sự có mặt của thực vật làm giảm vận tốc nước, tạo điều kiện tốt hơn cho các chất rắn
lơ lửng lắng đọng, giảm xói mòn và tăng thời gian tiếp xúc giữa nước và vùng bề mặt của
cây. TVTS cũng làm ổn định bề mặt đất trong hệ thống xử lý khi hệ thống rễ làm giảm
xói mòn.
2.3Các loại vi sinh vật và vai trò của chúng trong việc xử lý nước thải
Xạ khuẩn là nhóm VSV phân bố rộng rãi trong đất, chúng tham gia vào các quá
trình phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất như xenluloza, tinh bột… góp phần làm
tăng độ phì của đất.
Nấm men: Là tên chung chỉ nhóm vi nấm thường có cấu tạo đơn bào và thường sinh
sôi nảy nở bằng phương pháp nảy chồi. Nấm men thường có hình cầu hoặc hình bầu dục,
một số loại có hình que và một số hình dạng khác. Kích thước trung bình của nấm men
là 3-5 x 5-10mm. Khác với vi khuẩn và xạ khuẩn, nấm men có cấu tạo tế bào khá phức
tạp, gần giống như tế bào thực vật. Có đầy đủ các cấu tạo thành tế bào, màng tế bào chất,
tế bào chất, ty thể, ryboxom, nhân, không bào và các hạt dự trữ.Ở 3 nấm men có 3 hình
thức sinh sản:
-Sinh sản sinh dưỡng: là hình thức sinh sản đơn giản nhất của nấm men. Có 2 hình
thức sinh sản sinh dưỡng: nảy chồi và hình thức ngang phân đôi tế bào như vi khuẩn.
-Giai đoạn chậm dần(pha sinh trưởng chậm dần): Trong giai đoạn này, cơ chất dinh
dưỡng trong môi trường đã cạn gần hết cùng với sự biến mất một hay vài thành phần cần
thiết cho sự sinh trưởng của VSV. Trong một số trường hợp, phát triển chậm dần là do
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 16
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
môi trường tích tụ các sản phẩm ức chế được sinh ra trong quá trình chuyển hóa chất
trong tế bào VSV.
-Giai đoạn ổn định(pha ổn định): Mật độ tế bào đạt tới trị số cực đại. Sự sinh trưởng
dừng lại ngay khi các tế bào vẫn còn hoạt động chuyển hóa nào đó.
-Giai đoạn suy giảm(pha suy vong hay nội sinh): Ở giai đoạn này, các chất dinh
dưỡng đã hết. Mật độ tế bào giảm do các tế bào già bị chết và tỷ lệ chết cứ thế tăng lên.
Tế bào bị phân hủy nội sinh hoặc hô hấp nội bào và bị tự phân.
Vai trò của vi sinh vật trong làm sạch nước thải
VSV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thiên nhiên cũng như trong cuộc sống
con người. Nó biến đá mẹ thành đất trồng, nó làm giàu chất hữu có trong đất, nó tham gia
vào tất cả các vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Nó là các khâu quan trọng trong
chuỗi thức ăn của các hệ sinh thái. Nó đóng vai trò quyết định trong quá trình tự làm sạch
các môi trường tự nhiên.
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng VSV trong đời sống hằng ngày. Các quá trình
làm rượu, làm dấm, làm tương, muối chua thực phẩm… đều ứng dụng đặc tính sinh học
của các nhóm VSV. Khi khoa học phát triển, biết rõ vai trò của VSV, thì việc ứng dụng nó
trong đời sống sản xuất ngày càng rộng rãi và có hiệu quả. Ví dụ như việc chế vắc xin
phòng bệnh, sản xuất chất kháng sinh và các dược phẩm khác quan trọng khác… Đặc biệt
trong bảo vệ môi trường, người ta đã sử dụng VSV làm sạch môi trường, xử lý các chất
thải độc hại. Sử dụng VSV trong việc chế tạo phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật
không gây độc hại cho môi trường, bảo vệ mối cân bằng sinh thái.
Trong thiên nhiên ngoài những nhóm VSV có ích như trên, còn có những nhóm
VSV gây hại. Ví dụ như các nhóm VSV gây bệnh cho người, động vật và thực vật, các
nhóm VSV gây ô nhiễm thực phẩm, gây ô nhiễm các nguồn nước, đất và không khí…
Trong nước thải các chất nhiễm bẩn chủ yếu là các chất hữu cơ hòa tan, ngoài ra
O. Đây là quá trình
hô hấp hiếu khí diễn ra trong môi trường đủ oxi tự do.
Quá trình phân hủy hay quá trình oxi hóa khử không phải là tất cả đều bị oxi hóa
hoàn toàn thành sản phẩm cuối cùng là CO
2
và H
2
O, một số sản phẩm trung gian của quá
trình này được tham gia vào quá trình đồng hóa hay là quá trình sinh tổng hợp vật chất tế
bào để hình thành tế bào mới phục vụ cho sinh trưởng. đồng thời với quá trình đồng hóa
là quá trình dị hóa(tự oxi hóa) các chất liệu tế bào khi đã già tạo ra vật liệu và năng lượng
phục vụ cho quá trình đồng hóa.
3. Tình hình nghiên cứu về xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh và VSV
3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới việc sử dụng TVTS được biết đến từ lâu và đã ứng dụng rộng rãi trên
các nước như Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, New Zeland, Châu Âu và Bắc Mỹ.
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 18
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
Các loại thực vật nổi đã được nghiê cứu để xử lý nước thải sinh hoạt(Ran và cộng
sự-2004), xử lý nước thải đô thị(Greenway và Woolley-1999; Daulu và Ndamba-2003)
cũng như nước thải công nghiệp(Miretzky et al 2004).
TVTS đang phát triển tự nhiên có thể được sử dụng để loại bỏ nitrat, photphat và
các kim loại nặng, bằng cách tiêu thụ chúng ở dạng dinh dưỡng thực vật.
Các thực vật như bèo tây và bèo cái đã được sử dụng rộng rãi để nân cao chất lượng
nước thải. Hệ thống xử lý nước thải sử dụng bèo tây đã được tiến hành ở các bang
California, Florida, Massachusetts và Texas. Hiệu suất xử lý nói chung là tốt. BOD hiệu
quả loại bỏ dao động khoảng 37-91% trong khi đó TSS dao động từ 21-92% .
Kutty, Ngatenah, Isa, Malakahmad của trường đại học Teknologi PETRONAS,
Malaysia năm 2009 đã nghiên cứu hiệu quả xử lý của bèo tây trong việc xử lý nước và
nhận ra rằng bèo tây là loại TVTS có khả năng loại bỏ chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và
mẫu đối chứng, hiệu suất xử lý của tất cả các loại thực vật ở thời gian 12 ngày đạt cao
nhất, dao động từ 50% đến trên 98%. Khả năng xử lý nito của ngổ tốt hơn một chút so
với bèo cái và thủy trúc tốt hơn sậy.
Lê Thị Hiền Thảo(2005) nghiên cứu khả năng làm sạch nước thải hồ Bảy Mẫu của
một số loài thực vật nước. Kết quả cho thấy một số loài thực vật bậc cao như bèo tấm và
rong đuôi chó có khả năng làm sạch nước, giảm hàm lượng các chất bẩn và một số kim
loại nặng trong nước hồ. Hiệu quả xử lý đối với các kim loại nặng của rong đuôi chó cao
hơn bèo tấm .
Nguyễn Việt Anh(2005) nghiên cứu xử lý nước thải sinh hoạt bằng bãi lọc ngầm
một bậc trồng cây, nước đầu ra đạt tiêu chuẩn cột B về các chỉ tiêu COD, SS, TP. Với hệ
thống xử lý 2 bậc nối tiếp nhau, nước đầu ra đạt tiêu chuẩn cột A của TCVN 5945- 1995.
Và còn nhiều nghiên cứu lớn nhỏ khác.
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 20
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1. Đối tượng nước nghiên cứu
Nguồn nước được lựa chọn để xử lý là nước hồ Văn Quán (Hình 2). Hồ rộng
khoảng 2000m
2
nằm giữa khu đô thị Văn Quán thuộc địa phận quận Hà Đông - Thành
phố Hà Nội. Nguồn nước này chủ yếu là từ các nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ khác
ở gần hồ và từ các khu dân xung quanh chảy vào hồ theo 2 đường cống:
- Một cống ở phía trước của nhà hàng O
2
Garden
- Một cống nằm thông với hồ Văn Yên
Nước thải chảy vào hồ chủ yếu là nước phát sinh từ quá trình ăn uống, tắm rửa,
giặt với thành phần ô nhiễm chính là BOD
5
Tên khoa học: pistia stratiotes
Bèo cái là một loài TVTS trong họ Ráy, sống nổi trên mặt nước trong khi rễ chìm
dưới nước gần các đám lá trôi nổi. Bèo cái là loại cây một ỉá mầm với các lá dầy, mềm
tạo ra hình dáng giống một cái nơ. Các lá xếp hình hoa thị và khồng cỏ cuống, có màu
xanh lục nhạt với các gân lá song song, các mép lá gợn sóng và bề mặt lá có lớp lông
mịn(Hình 4). Loài bèo này là một loài thực vật đơn tính, có các hoa nhỏ ẩn ở đoạn giữa
của cây trong các đám lá, có thể sinh sản vô tính. Các cây mẹ và cây con liên kết với
nhau bằng một thân bò ngắn, tạo ra các cụm bèo cái dầy đặc. Điều này làm cản trở sự
trao đổi khí trong mặt phân giới nước - không khí dẫn đến làm giảm lượng oxi trong
nước và giết chết nhiều loại cá, chúng cũng ngăn cản sự chiếu sáng và giết chết nhiều loại
thực vật sống ngầm dưới nước, làm thay đổi cộng đồng thực vật sổng nổi trên mặt nước
bằng cách chèn ép chúng.
Bẻo cái thông thường được sử dụng trong các ao nuôi cá ở các vùng nhiệt đới để
tạo nơi trú ẩn cho cá bột và cá nhỏ. Bèo cái canh tranh thức ăn với tảo trong nước vì thế
nó có ích trong việc ngăn ngừa sự bùng nổ của loài cây này.
Nguyễn Xuân Nhất- 2011M HAU Page 24
Tiểu luận sinh thái và môi trường đô thị GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Vân
1.2.3. Cây thủy trúc
Tên khoa học: Cyperus involucratus
Thủy trúc là loại thực vật thuộc họ Cói (Cyperaceae), có nguồn gốc xuất xứ từ
Madagasca. Cây thủy trúc có thân tròn màu xanh đậm. Lá giảm thành các bẹ ở gốc, thay
vào đó các lá ở đỉnh lại lớn, xếp vòng xòe ra, dài, cong xuống. Cụm hoa tán ở nách lá,
nhiều. Bông chét hình bầu dục ngắn, dẹp, dài chừng 8mm,thông thường không có cuống,
hợp thành cụm hoa đầu ở đỉnh các nhánh hoa. Hoa lúc non màu tráng, sau chuyển sang
màu nâu. Thủy trúc sinh trường rất nhanh, là cây ưa sáng, chịu được úng, có thể nhân
giống dễ dàng từ tách bụi ( Hình 5).
2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Tiến hành lấy mẫu:
• Thời điểm lấy mẫu: 8 - 8h30 sáng ngày 15/03/2013.
• Đặc điểm thời tiết: Trời không mưa, gió mát và có nắng nhẹ.