BÁO CÁO THỰC TẬP-MỘT SỐ NÉT KHÁC BIỆT CƠ BẢN GIỮA NGÔN NGỮ BÁO CHÍ VÀ NGÔN NGỮ VĂN HỌC - Pdf 27

MỘT SỐ NÉT KHÁC BIỆT CƠ BẢN GIỮA
NGÔN NGỮ BÁO CHÍ VÀ NGÔN NGỮ VĂN
HỌC

Nhà phê bình văn học thiên tài người Nga V.G. Bêlinski, khi phân tích
cuốn “Ai có lỗi? ” - một tập sách chính luận nổi tiếng của nhà văn, nhà tư
tưởng lỗi lạc Herxen, đã viết như sau:
"Sức mạnh chủ yếu của tác giả không phải ở trong sự sáng tạo, trong
tính nghệ thuật, mà ở tư tưởng - một tư tưởng được cảm nhận sâu sắc, mang
tính ý thức và phát triển cao. Tầm vóc lớn của tư tưởng đó chính là sức
mạnh cơ bản của tài năng tác giả ,còn phong cách nắm bắt các hiện tượng
thực tiễn theo kiểu nghệ thuật - chỉ là sức mạnh thứ yếu, mang tính bổ trợ
của tài năng của ông ta”
1
.
Những dòng chữ ngắn gọn này của Bêlinski, dù chỉ ở mức độ khái quát
nhất, đã khắc hoạ khá rõ sự khác biệt về phong cách biểu hiện trong báo chí
và văn học nghệ thuật.
Ai cũng biết rằng báo chí và văn học nghệ thuật đều dùng ngôn từ như
là thành tố số một trong việc xây dựng tác phẩm. Nhưng tính chất, đặc điểm
và cách thức sử dụng ngôn từ ở chúng lại khác xa nhau. Nguyên do là bởi
báo chí và văn học là hai hình thái ý thức xã hội hoàn toàn biệt lập đối với
nhau.
Văn học có chức năng cơ bản là chức năng thẩm mỹ. Nó phản ánh
thực tế bằng những hình tượng nghệ thuật vốn thoát thai từ cuộc sống nhưng
lại in đậm dấu ấn riêng về quan niệm thẩm mỹ của tác giả. Nhà văn tiếp cận
thực tiễn bằng cách miêu tả cái cụ thể, cái cá nhân (các tính cách cá thể
trong hoàn cảnh cá thể), để rồi từ đó tạo dựng nên những hình ảnh điển hình
(những tính cách điển hình trong các hoàn cảnh điển hình).
Còn báo chí có chức năng chủ yếu là thông tin. Nó phản ánh hiện thực
thông qua việc đề cập các sư kiện nóng hổi, những vấn đề bức xúc có thực

phương tiện đánh giá của nó phong phú và đa dạng hơn nhiều so với văn học
.Trong ngôn ngữ báo chí, chúng ta có thể gặp những nhóm từ vựng chuyên
biệt chỉ phục vụ cho việc đánh giá (những nhóm từ kiểu này thường được
xem là của riêng văn phong báo chí, còn nếu chúng xuất hiện ở các văn
phong khác thì đó là kết quả của sự vay mượn). Chẳng hạn, để thể hiện sự
đánh giá tích cực, người ta lựa chọn những từ ngữ như: có nhiều triển vọng,
tín hiệu đáng mừng, chuyển biến tích cực, hợp tác hiệu quả, thành tựu nổi
bật, bàn thắng thuyết phục ; còn nếu muốn biểu lộ sự đánh giá tiêu cực,
người ta có thể lựa chọn các từ như: tiếp tay, câu kết, ngóc đầu, rùm beng,
trả đũa, dính líu Bên cạnh đó, để phục vụ cho mục đích đánh giá, báo chí
còn sử dụng cả nhiều nhóm từ vựng khác như từ ngữ thông tục, từ ngữ hội
thoại, từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài, tiếng lóng, v,v.
2
Rồi về mặt cú
pháp, ngôn ngữ báo chí cũng dùng một số kiểu câu có cấu tạo đặc biệt,ví dụ:
- Câu có đề ngữ: “Hà Nội: Còn đâu những khu phố cổ” (Lao động);
“Lũ đồng bằng sông Cửu Long: Sao chưa đến hẹn đã lên? ” (Báo An
Giang); “Ma tuý: Quằn quại những nẻo về” (Thương mại); “Bạn đọc trẻ:
Bâng khuâng đứng giữa ; Bạn viết trẻ :Những kẻ theo nghề bỏ cuộc chơi ”
(Sinh viên Việt Nam), v.v.
- Câu được đảo ngữ: “Nổi nênh nghiệp rối ” (Văn nghệ trẻ); “ Lặng lẽ
quá liên hoan phim ” (Văn hoá); “Sôi nổi các cuộc tuyển quân” (Nhân
dân); “Nhộn nhịp đường lên biên giới “ (Lao động)
Với những kiểu câu trên, thái độ của tác giả đối với sư kiện hay vấn
đề trở nên rõ ràng và ấn tượng hơn.
Song, có lẽ trong số các thủ pháp nhằm tạo sắc thái đánh giá cho ngôn
ngữ báo chí, nổi bật nhất vẫn là việc sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ,
hoán dụ, so sánh, chơi chữ, nói lái, v.v., trong đó không thể không kể đến ẩn
dụ như một phương tiện đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt bởi tính phổ
cập rộng rãi và tính hiệu quả cao của nó.

cảnh hẹp. Nếu bị tách ra khỏi ngữ cảnh đó chúng chỉ còn là những từ ngữ
thông thường biểu đạt các ý nghĩa thông thường mà không còn mang sắc
thái biểu cảm - đánh giá nữa.
Nếu so với ẩn dụ báo chí, ẩn dụ trong văn học nghệ thuật trước hết là các
hình tượng, ví dụ:
Phượng những tiếc cao, diều hay liệng
Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi.
(Nguyễn Trãi)
-Rằng: Trong ngọc đá vàng thau
Mười phân ta đã tin nhau cả mười
(Nguyễn Du)
Nghe rào rạt mười bốn triệu miền Nam đang tỉnh giấc
Không! Ba mươi triệu kim cương của thiên hà Tổ quốc
Không ! Hàng nghìn triệu ngôi sao sáng anh em đang
chiếm lĩnh bầu trời
(Chế Lan Viên)
Ẩn dụ trong văn học thường phản ánh cách nhìn của tập thể, xuất phát từ
kiến thức chung của tập thể cho nên chúng mang tính khách quan. Và ở mức
độ nào đó, cả tính tất yếu. Chẳng hạn những sự vật như hoa, vàng, ngọc, kim
cương, v.v., trong nhận thức chung của xã hội là những thứ tốt đẹp, cao quý,
vì thế chúng được dùng làm ẩn dụ tu từ để chỉ cái tốt đẹp, cao quý.
Ẩn dụ trong văn học liên quan tới mọi lĩnh vực và mọi đối tượng (chứ
không chỉ dành cho một địa hạt hay một nhóm đối tượng được "ưu tiên" nào
đó như trong báo chí ). Môi trường hành chức của chúng thường là ngữ cảnh
lớn, không hiếm khi là toàn bộ tác phẩm như một chỉnh thể nguyên vẹn. Nếu
chúng ta đã từng đọc “Thép đã tôi thế đấy” (N. Ôtxtrôpxki), “Đôi mắt”
(Nam Cao), “Cái lạt ” (Vũ Thị Thường) chắc hẳn đều nhận thấy rằng chỉ có
thể hiểu được một cách đầy đủ ý nghĩa ẩn dụ của các từ “thép”, “tôi”, “đôi
mắt”, “cái lạt” trong đầu đề của các tác phẩm này sau khi đã đọc xong
chúng. “Thép đã tôi thế đấy” hoàn toàn không viết về chuyện luyện gang

về sản phẩm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà văn đứng trên lập
trường của một nhóm hay một tổ chức xã hội nào đó thì cũng không thể coi
tác phẩm của anh ta là tiếng nói chính thức của nhóm hay tổ chức xã hội ấy.
2. Khác biệt về vai trò cái tôi tác giả
Như chúng ta đều biết, trong hoạt động giao tiếp lời nói nào cũng là
sản phẩm của người phát hướng về người nhận với mục đích nhất định. Vì
thế việc phân tích lời nói còn có thể tiến hành từ các góc độ của hai loại đối
tượng này.
Nếu so sánh các phong cách của người phát (tức là “cái tôi” tác giả)
trong ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ văn học ta sẽ thấy chúng có nhiều điểm
khác biệt quan trọng.
Nguyên tắc cơ bản của ngôn ngữ báo chí, đồng thời cũng là cơ sở và
đặc điểm cấu trúc của nó là sự công khai, sự biểu đạt trực tiếp và thẳng thắn
“cái tôi” của tác giả. Đây có thể xem là nét khác biệt khá nổi bật giữa báo
chí và văn học, là nơi tác giả không bao giờ giao tiếp trực diện với độc giả.
Trong phong cách báo chí, “cái tôi” đích thực của tác giả luôn đàm thoại
trực tiếp với độc giả. Ở đây, mọi sự đánh giá, mọi niềm xúc cảm đều của
chính “cái tôi” này, (tất nhiên, suy cho cùng, thì những sự đánh giá, những
niềm cảm xúc ấy sẽ phải mang tính xã hội, vì tác giả của tác phẩm báo chí
bao giờ cũng đại diện cho một nhóm xã hội, một tổ chức đảng hay một giai
cấp; thế nhưng trước hết chúng vẫn phải đích thực là của chính tác giả, là
sản phẩm của trái tim và khối óc của anh ta, bởi nếu không, anh ta chỉ là
công cụ phát ngôn cho kẻ khác và không thể nào chinh phục được độc giả).
Do vậy kết cấu về ngôn từ trong báo chí thường in đậm chất xúc cảm cá
nhân. Dĩ nhiên, trong các thể loại khác nhau thì mức độ tham dự của “cái
tôi" tác giả cũng khác nhau. Có những loại thể báo chí mà ở đó chúng ta hầu
như không thấy sự hiện diện của tính cá thể (như thông báo tin tức, tin vắn,
tin thời sự, ).Thế nhưng nói chung, vai trò của “cái tôi” tác giả trong việc
hình thành kết cấu ngôn ngữ báo chí đáng kể tới mức có thể coi nó là cơ sở
để phân loại các tác phẩm báo chí.

tôi” của tác giả. Vì thế trong ngôn ngữ báo chí chúng ta hầu như chỉ bắt gặp
một tầng phong cách, đó là lời nói của tác giả, còn lời nói đích thực của nhân
vật rất ít khi xuất hiện trừ một số ít loại thể trên phát thanh và truyền hình.
Thế nhưng tính đơn diện, đơn thanh của ngôn ngữ báo chí tuyệt đối
không phải là dấu hiệu của sư nghèo nàn. Ngược lại, chính trong đặc điểm
này đã bộc lộ nét đặc thù không trộn lẫn của nó: tính biểu cảm và khả năng
tác động. Và cũng chính nhờ đặc điểm nói trên mà phong cách báo chí đã
được sử dụng trong văn học nghệ thuật. Việc sử dụng ấy gắn liền với sự thể
hiện một cách trưc tiếp, không giấu giếm quan điểm của tác giả. Phong cách
báo trong trường hợp này là hình thức đặc biệt về đưa tư liệu, là nguyên lý
đặc biệt của việc xây dựng hình ảnh tác giả, nó mở đường cho sự can thiệp
trực tiếp của giọng điệu tác giả cũng như tạo điều kiện cho sự xuất hiện các
suy luận của anh ta.
Nếu như với văn học nghệ thuật, sự can thiệp trực tiếp của tác giả vào
diễn biến các sư kiện được phản ánh thường được xem như là sư lệch chuẩn
hoặc là một thủ pháp cố ý (ngoài lề báo chí-chính luận), thì đối với phong
cách báo chí - đây là quy luật tất yếu, là đặc điểm cơ bản của cấu trúc lời nói
vốn làm nên đặc thù, sức mạnh cũng như sự biểu cảm của nó. Dù chủ thể
sáng tạo của tác phẩm báo chí có nói về điều gì đi chăng nữa, thì trong cấu
trúc ngôn từ của nó anh ta phải thể hiện trực tiếp “giọng điệu”, những đánh
giá, cảm xúc, diễn biến tư tưởng, sự say mê, sự bức xúc của mình trước đề
tài và đối tượng mà bài viết đề cập. Và thực tế cho thấy là chất báo chí luôn
tỏ ra tỉ lệ thuận một cách trực tiếp với cảm xúc và thái độ của tác giả trước
điều anh ta phản ánh. Có thể nói, chính sự công khai, thẳng thắn và tích cực
trong quan điểm của tác giả đã làm cho báo chí (nhất là chính luận) trở thành
phương tiện tác động có sức mạnh ghê gớm, nhiều khi vượt qua cả sức mạnh
của văn học nghệ thuật.
Nói tóm lại, trong phong cách văn học nghệ thuật, “cái tôi” tác giả luôn
lẩn khuất, không lộ diện, còn “cái tôi” xuất hiện chỉ là hình tượng nghệ thuật
- “cái tôi” thẩm mỹ của nhân vật là người dẫn chuyện; trong khi đó thì ở

(ngôn ngữ chuẩn mực) được xác định chủ yếu là bằng mức độ qui chuẩn nó,
tức là bằng số lượng nhiều hay ít các công thức, các khuôn mẫu dành cho
các tình huống giao tiếp với các mục đích khác nhau. Nếu thiếu vắng những
cái khuôn như vậy, hoạt động giao tiếp sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều, nó
buộc người ta phải tự tạo ra những lối nói, những công thức ngôn từ cho
từng điều kiện giao tiếp cụ thể, mà điều này là bằng chứng không thể phủ
nhận về sự chưa hoàn chỉnh của các phong cách ngôn ngữ.
Rập khuôn phản ánh cái xu hướng có bề sâu trong ngôn ngữ là tự
động hoá, lặp lại, và ổn định các phương tiện biểu đạt, nhằm tạo ra một
phương thức định danh và đánh giá quen thuộc và bền vững về mặt xã hội.
Những điều kiện bên ngoài thúc đẩy sự rập khuôn hoá ngôn ngữ báo
chí là tính chất tức thời của hoạt động báo chí, sự lặp lại thường xuyên và
tính định kỳ của các đề tài, tình huống, v.v. Đặc trưng của sự rập khuôn hoá
ngôn ngữ báo chí trước hết nằm trong tính đánh giá xã hội của nó. Chính
nguyên tắc đánh giá (vốn được xem là cơ bản trong phong cách báo chí -
chính luận) đã qui định không chỉ phương hướng mà còn cả tính chất sự rập
khuôn hoá lời nói trong ngôn ngữ báo chí. Khảo cứu cho thấy, tuyệt đại đa
số các khuôn mẫu (từ, ngữ, kiểu nói ) đều mang sắc thái đánh giá: hoặc là
tích cực, hoặc là tiêu cực. Ví dụ, một bên là: với lòng nhiệt tình cháy bỏng,
tích cực thi đua, khơi dậy phong trào, đánh dấu những cái mốc mới, gánh
vác những trách nhiệm cao cả, v, v; còn một bên là: với sự phẫn nộ sâu sắc,
phải trả giá đắt, thất bại ê chề, cực lực lên án, v.v. Còn các khuôn mẫu
không mang sắc thái đánh giá chỉ chiếm một dung lượng rất nhỏ; đó là các
từ, ngữ thuộc về kiểu thông tin chính thức hay các tin vắn như: theo thông
báo, trong không khí, theo nguồn tin, dẫn lời, v.v.
Ngôn ngữ văn học cũng không hề xa lạ đối với tính khuôn mẫu.
Nhưng tính chất và phương hướng của sự rập khuôn ở đó bị chi phối trước
hết bởi một hoàn cảnh là: Ngôn ngữ của văn học nghệ thuật kỳ vọng vào sự
tiếp nhận của mỗi cá nhân và xuất phát từ sự sản xuất ngôn từ cũng mang
tính cá nhân. Cả báo chí, cả văn học đều hướng về độc giả đại chúng, nhưng

thuật chỉ mang tính giao tiếp cá nhân. Một tờ báo, trong không ít các thể loại
bài của mình, công khai định hướng vào các khuôn mẫu có tính chất tuyên
truyền, cổ động, đánh giá, được kỳ vọng là sẽ còn lặp lại nhiều lần (tái sử
dụng) và có sức tác động lớn tới cảm xúc. Khuôn mẫu của ngôn ngữ văn học
trong trường hợp lý tưởng chỉ dành cho một lần sử dụng và thời gian tồn tại
của nó so với khuôn mẫu báo chí ngắn hơn nhiều, chịu sự “hao mòn vô
hình” nhanh hơn. Có lẽ đây chính là lý do khiến cho khuôn mẫu báo chí dễ
bị nhận biết hơn và có vai trò nổi bật hơn trong việc xây dựng tác phẩm. Như vậy là chúng ta đã điểm qua một số nét khác biệt cơ bản giữa
ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ văn học ở ba phương diện: sự đánh giá, vai
trò “cái tôi” tác giả và tính khuôn mẫu. Việc chỉ ra những nét khác biệt như
vậy xuất phát từ mục đích góp phần khảng định vị thế độc lập của báo chí và
văn học với tư cách là những loại hình sáng tạo có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với cuộc sống con người; đồng thời giúp cho các chủ thể sáng tạo,
khi viết tác phẩm, nhận thức được rõ ràng và chuẩn xác hơn cái phong cách
ngôn ngữ mà mình đang thể hiện, để rồi từ đó, sử dụng ngôn từ một cách
chủ động và có hiệu quả. Tuy nhiên, do đây là vấn đề còn mới mẻ cho nên
những điều chúng tôi trình bày ở trên, vốn mới chỉ là kết quả của những
khảo sát bước đầu, chắc chắn còn nhiều khía cạnh cần được chỉnh lý, bổ
sung.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status