sự khác nhau cơ bản giữa tố tụng lao động và tố tụng dân sự - Pdf 10

Lời nói đầu
ác quan hệ xã hội luôn luôn vận động và phát triển trong khi pháp luật thuộc
phạm trù tĩnh, nhng giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Pháp luật
luôn đi sau sự phát triển của các quan hệ xã hội và bị điều kiện kinh tế- xã hội
chi phối. Pháp luật cũng có tác động trở lại các quan hệ xã hội và các điều kiện
kinh tế- xã hội, trong chừng mực nhất định, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong
một khuôn phép.
C
Khi nền kinh tế thị trờng phát triển, quan hệ lao động cũng trở nên đa dạng,
phức tạp, các tranh chấp lao động phát sinh nhiều, do đó, cần có một cơ chế pháp
lý điều chỉnh quan hệ, giải quyết tranh chấp lao động giữa cơ quan có thẩm
quyền và các bên tranh chấp. Luật tố tụng lao động ra đời để đáp ứng nhu cầu đó.
Vì là một ngành luật mới, các thẩm phán lại có ít kinh nghiệm về lĩnh vực lao
động. Hơn nữa, quan hệ pháp luật nội dung mà nó chi phối có nhiều điểm tơng
đồng với luật dân sự. Do đó, Luật tố tụng lao động cũng có nhiều điểm giống với
Luật tố tụng dân sự - đặc biệt là trình tự tố tụng.
Thực tế đã cho thấy, có nhiều hiện tợng sai lầm trong việc việc áp dụng pháp
luật hình thức để giải quyết các tranh chấp về nội dung. Các Toà án còn nhầm lẫn
trong việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết từ đó, đã dẫn đến tình trạng
giải quyết vụ án không chính xác, quyền và lợi ích của các bên đơng sự không đ-
ợc đảm bảo
Việc xác định và áp dụng sai thủ tục giải quyết là do xác định sai quan hệ
nội dung, đặc biệt là không phân biệt đợc sự khác nhau giữa quan hệ pháp luật
lao động và quan hệ pháp luật dân sự cũng nh Luật tố tụng lao động và Luật tố
tụng dân sự.
Cho đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về tố tụng lao
động nhng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động mà không nhằm mục đích so sánh với các luật hình thức; cha có một đề tài
khoa học nào nghiên cứu sự khác nhau giữa tố tụng lao động và tố tụng dân sự.
Xuất phát từ những lý do đó, việc nghiên cứu Sự khác nhau cơ bản giữa
Tố tụng lao động và Tố tụng dân sự là cần thiết, góp phần đa lại một cách

xử của hệ thống Toà án nhân dân nh tranh chấp lao động, tranh chấp dân sự, tranh
chấp kinh tế
Điều 157 Bộ luật Lao động (1995) đã định nghĩa: Tranh chấp lao động là
những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lơng, thu
nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ớc
tập thể và trong quá trình học nghề. Tranh chấp lao động gồm tranh chấp lao
động cá nhân giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động và tranh chấp lao
động tập thể giữa tập thể lao động với ngời sử dụng lao động.
Theo tinh thần điều luật trên thì tranh chấp lao động là tranh chấp phát sinh,
tồn tại gắn liền với quan hệ lao động khi các bên (ngời lao động và ngời sử dụng
lao động) không đạt đợc tiếng nói chung. Sở dĩ tranh chấp phát sinh là do lợi ích,
t cách và địa vị pháp lý của hai bên chủ thể đối lập nhau, ngợc nhau nhng giữa họ
lại có quan hệ phụ thuộc gắn bó sâu sắc: Quyền và lợi ích của chủ thể này đợc
thực hiện thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể kia.
Quan hệ lao động là quan hệ đợc pháp luật điều chỉnh nên khi các bên của
quan hệ đó có tranh chấp thì tranh chấp đó phải đợc giải quyết theo quy định của
pháp luật để đảm bảo việc thực hiện pháp luật lao động, đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp cho các bên.
Tranh chấp lao động bao gồm những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ và
những tranh chấp về lợi ích. Tranh chấp về quyền là tranh chấp liên quan đến
những quyền của ngời lao động và ngời sử dụng lao động đã đợc quy định trong
các văn bản pháp luật lao động, trong hợp đồng lao động, thoả ớc lao động tập
thể. Ví dụ: tranh chấp về việc thực hiện chế độ nghỉ ngơi, về các điều kiện an
toàn vệ sinh lao động, về quyền gia nhập và hoạt động công đoàn Tranh chấp
về lợi ích là những tranh chấp phát sinh trong quá trình các bên thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình. Những tranh chấp về lợi ích có thể cha đợc quy định trong
các văn bản pháp luật lao động hoặc hợp đồng lao động. Ví dụ: tranh chấp về vấn
đề việc làm khi thay đổi công nghệ, giảm chỗ làm việc, yêu cầu tăng lơng, phân
phối lại thu nhập
Tuy nhiên, trong thời gian đầu phát triển kinh tế thị trờng, khi cung cầu lao

là thông qua nỗ lực của các cơ quan thuộc ngành lao động- thơng binh xã hội.
Hiện nay, khi các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ lao động nói
riêng diễn ra ngày càng phức tạp, tự các bên trong quan hệ lao động có nhu cầu
4
giải quyết tranh chấp lao động tại toà án thì việc quy định thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động là cần thiết.
Tố tụng lao động và tài phán lao động nói chung là biểu hiện của sự phát
triển và công bằng xã hội. Vì vậy, nó phải đợc đa thành luật pháp để thực hiện.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp Nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đợc Quốc hội thông
qua ngày 15/4/1992) đã quy định: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân
dân địa phơng, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ
quan xét xử của Nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Đoạn 1- Điều 127-
Hiến pháp 1992). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xác lập các cơ chế
khác nhau nhằm xét xử và giải quyết tốt các vi phạm pháp luật, các tranh chấp
trong đó có các tranh chấp lao động.
Luật tổ chức Toà án nhân dân tại điều 1 quy định: Toà án xét xử những
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và
giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật
Bộ luật Lao động của nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đợc Quốc
hội thông qua 23/6/1994) đã quy định trong các điều 162, 164, 168, 172, 174
về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động của Toà án nhân dân.
Để hoạt động giải quyết các tranh chấp lao động có cơ sở pháp lý, nhằm
đảm bảo tính chất khách quan, kịp thời, đúng pháp luật quy định tại điều158
bộ luật Lao động, Quốc hội giao cho Uỷ ban Thờng vụ quốc hội quy định về
Việc giải quyết các cuộc đình công và các vụ án lao động (Điều 178 Bộ luật
Lao động).
Việc uỷ quyền cho Uỷ ban Thờng vụ quốc hội quy định về việc giải quyết
các vụ án lao động và các cuộc đình công là cơ sở pháp lý trực tiếp chỉ đạo hành
vi của Uỷ ban Thờng vụ quốc hội trong công tác xây dựng các cơ chế pháp lý cho

1.3. Ưu điểm của toà án trong giải quyết các tranh chấp lao động
Cũng nh việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự, kinh
tế, giải quyết tranh chấp lao động là sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền theo
một trình tự thủ tục nhất định nhằm khôi phục, bảo vệ các quyền và các lợi ích
hợp pháp của các bên tranh chấp.
Có nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp lao động, tuỳ thuộc vào phạm vi,
quy mô tranh chấp và thời điểm phát sinh tranh chấp mà pháp luật qui định sử
6
dụng biện pháp nào để giải quyết tranh chấp đó. Biện pháp giải quyết tranh chấp
lao động đợc pháp luật lựa chọn là hoà giải, trọng tài và xét xử tại toà án.
Thẩm quyền hoà giải tranh chấp lao động trớc hết thuộc Hội đồng hoà giải
cơ sở hoặc hoà giải viên do cơ quan lao động cấp huyện cử. Trong đó, Hội đồng
hoà giải cơ sở ở các doanh nghiệp có nhiệm vụ giải quyết tất cả các vụ tranh chấp
lao động tập thể và tranh chấp lao động cá nhân (kể cả tranh chấp về sa thải, đơn
phơng chấm dứt hợp đồng lao động, bồi thờng thiệt hại khi đơng sự yêu cầu) xảy
ra tại doanh nghiệp đó.
Nơi sử dụng dới 10 lao động, không có Hội đồng hoà giải thì các tranh chấp
do hoà giải viên hoà giải.
Khi giải quyết tranh chấp, Hội đồng hoà giải hoặc hoà giải viên có quyền:
- Tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ các bên tranh chấp, những ngời có liên quan,
những ngời làm chứng.
- Thu thập tài liệu, chứng cứ, yêu cầu đơng sự cung cấp đầy đủ các tài liệu
có liên quan tới vụ việc phải hoà giải, yêu cầu đơng sự tới phiên họp hoà giải của
hội đồng.
- Đa ra phơng án hoà giải để hai bên tranh chấp cùng xem xét, thơng lợng và
lập biên bản hoà giải.
Nh vậy, các cá nhân, tổ chức hoà giải nói trên chỉ có thẩm quyền hoà giải
(giúp đỡ, hớng dẫn các bên, gợi ý phơng án hoà giải) mà không ra quyết định.
Đây là cách giải quyết tranh chấp nhanh chóng, linh hoạt, phù hợp với điều kiện
các bên, có thể giúp các bên duy trì quan hệ lao động sau tranh chấp. Song, giải

ngời làm chứng.
- Thu thập tài liệu chứng cứ, yêu cầu đơng sự cung cấp đầy đủ các tài liệu có
liên quan đến vụ tranh chấp.
- Yêu cầu các bên đơng sự tới phiên họp hoà giải và giải quyết các tranh chấp
của hội đồng.
- Đa ra phơng án hoà giải để hai bên tranh chấp cùng xem xét, thơng lợng.
- Ra quyết định giải quyết vụ tranh chấp nếu hoà giải không thành.
Nh vậy, ở Việt Nam tuy mới chỉ thừa nhận hình thức trọng tài bắt buộc nhng
các quy định về thành phần, thẩm quyền, trình tự giải quyết các tranh chấp tại
hội đồng trọng tài đã tỏ ra khá hợp lý. Tuy nhiên, cũng nh Hội đồng hoà giải
thành viên Hội đồng trọng tài hầu hết làm công tác trọng tài kiêm nhiệm nên ít
đầu t và không nhiều kinh nghiệm ảnh hởng đến khả năng giải quyết tranh
chấp. Quyết định của trọng tài cũng không mang tính cỡng chế Đó là những
8
nguyên nhân làm cho các bên tranh chấp cha tin tởng và giảm tác dụng của hoạt
động trọng tài.
Hình thức giải quyết tranh chấp lao động thứ ba là xét xử tại Toà án. Đây
cũng là một hình thức không thể thiếu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao
động. Hoạt động tố tụng tại toà là hoạt động của cơ quan công quyền, thể hiện
quyền lực của nhà nớc. Nhà nớc tạo cho nó những điều kiện để hoạt động và đảm
bảo cho hệ thống Toà án vận hành nhịp nhàng.
Theo quy định của PLTTGQCVALĐ thì quá trình tố tụng lao động tại toà
diễn ra qua các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Thời hạn xét xử tại toà đợc rút ngắn hơn so với các hình thức tố tụng khác
(Tối đa 55 ngày đối với giai đoạn sơ thẩm - tính tuyệt đối từ khi thụ lý đến trớc
khi mở phiên toà; 30 ngày đối với giai đoạn phúc thẩm tính từ khi nhận đủ hồ sơ
đến khi mở phiên toà) Việc quy định một thời hạn ngắn nh vậy cần đảm bảo
giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp lao động, đảm bảo quyền lợi
của các bên trong mối quan hệ lao động.
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc phẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

của các chủ thể mà vẫn đảm bảo đợc tính chất mềm dẻo, dân chủ (hoà giải tại
tòa) phù hợp với đặc trng của quan hệ pháp luật lao động.
2. Khái niệm và quá trình phát triển luật tố tụng lao
động ở Việt Nam
2.1. Khái niệm luật tố tụng lao động
Khoa học pháp lý đã chỉ ra rằng nhóm quan hệ xã hội có đặc điểm riêng biệt
đợc pháp luật điều chỉnh là căn cứ cơ bản để phân định các ngành luật. Mỗi
ngành luật điều chỉnh một nhóm quan hệ tơng đối độc lập, nhóm quan hệ ấy là
đối tợng điều chỉnh của ngành luật. Về mặt từ ngữ, Tố tụng là quá trình giải
quyết một số sự việc, còn Tố tụng lao động là quá trình giải quyết một vụ án
lao động. Những quy định của pháp luật về quá trình giải quyết đó tạo thành Luật
tố tụng lao động.
Thực tế, khi các bên tranh chấp thực hiện quyền khởi kiện hoặc Viện kiểm
sát nhân dân khởi tố vụ án lao động theo đúng vụ án của pháp luật thì Toà án có
10
nghĩa vụ thụ lý, giải quyết và mối quan hệ giữa Toà án với Viện kiểm sát và các
đơng sự phát sinh. Để giải quyết đúng đắn, chính xác vụ án còn phải có sự tham
gia của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân hữu quan khác nữa. Ví dụ: ngời bảo
vệ quyền lợi cho các bên tranh chấp, tổ chức công đoàn cấp trên, ngời làm
chứng Sự tham gia của các chủ thể này phải trong phạm vi, theo một trình tự
nhất định và mối quan hên giữa họ cũng đợc pháp luật quy định phù hợp về
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Nh vậy, các quy phạm pháp luật đã tác động đến
hoạt động của Toà án, đơng sự và những ngời tham gia vụ án lao động nói chung,
cho phép hoặc buộc các chủ thể này phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhất
định. Hoạt động góp phần giải quyết vụ án lao động của các chủ thể trên theo
quy định của pháp luật gọi là tố tụng lao động và các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các mối quan hệ giữa họ trong quá trình giải quyết vụ án đợc gọi là Luật tố
tụng lao động.
Vậy, Luật tố tụng lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Toà án và những ngời tham gia tố

tranh chấp lao động không đợc chú trọng, thậm chí bị coi là một lĩnh vực cấm
vì cơ chế tập trung và quan điểm sức lao động không phải là hàng hóa chính là
một nguyên nhân khiến ngời lao động (các công nhân- viên chức nhà nớc) và ng-
ời sử dụng lao động (các có quan- xí nghiệp nhà nớc) không sử dụng quyền yêu
cầu cần giải quyết các bất đồng của họ. Khi có tranh chấp xảy ra thì các có quan
nhà nớc giải quyết theo thủ tục hành chính.
Từ năm 1985 đến trớc khi có bộ luật lao động, theo quyết định số 10 HĐBT
ngày 14/01/1985 của Hội đồng bộ trởng nay là Chính phủ thì Toà án nhân dân đ-
ợc giao thẩm quyền giải quyết một số vụ việc tranh chấp lao động. Tuy vậy, thời
kì này tranh chấp lao động cũng ít xảy ra, khi có tranh chấp đa đến toà án thì đợc
giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (*) ngày 29/11/1989 tại điều
10 có quy định về thẩm quyền của Toà án nhân dân, trong đó ghi nhận các Toà án
có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự sau đây: Những việc tranh chấp về
lao động.
Nh vậy, tố tụng lao động cha trở thành một ngành luật độc lập, cha có toà
lao động chuyên trách mà việc giải quyết các tranh chấp lao động hoàn toàn do
toà dân sự đảm nhiệm và việc giải quyết tuân theo PLTTGQCVADS.
Ngày 23/6/1994, Quốc hội khóa IX kì họp thứ V Nớc cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật lao động (có hiệu lực từ ngày 01/01/1995).
12
(*) Từ nay đợc viết là PLTTGQCVADS
Theo quy định của Bộ luật lao động (Điều 162,166) Toà án nhân dân có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp lao động và các cuộc đình công.
Ngày 11/4/1996, Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đã thông qua PLTTGQCVALĐ
(có hiệu lực từ ngày 01/7/1996) quy định trình tự, thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động và giải quyết các cuộc đình công. Pháp lệnh này gồm ba phần, với
13 chơng và 106 điều quy định cụ thể, chi tiết thủ tục giải quyết các tranh chấp
lao động. Mỗi chơng quy định các vấn đề khác nhau nh nguyên tắc xét xử, thẩm
quyền Toà án, hội đồng xét xử, ngời tham gia tố tụng, án phí, thủ tục khởi kiện,

1. Sự cần thiết phải phân biệt tố tụng lao động và tố tụng
dân sự tại Việt Nam
Tố tụng dân sự là một ngành luật đại thụ trong hệ thống pháp luật Việt
Nam. Sự ra đời và phát triển của nó đợc đánh dấu bằng PLTTGQCVADS, có
hiệu lực ngày 29/9/1989. Ngợc lại, tố tụng lao động là một ngành luật còn rất
non trẻ. Nó chỉ trở thành một ngành luật độc lập kể từ năm 1995, khi Quốc hội
thông qua PLTTGQCVALĐ, có hiệu lực từ ngày 1/7/1996.
Tuy ra đời ở hai thời điểm khác nhau nhng giữa hai ngành luật này có rất
nhiều điểm tơng đồng và khá giống nhau đặc biệt là về hình thức, về trình độ tố
tụng. Vì vậy, không tránh khỏi sự nhầm lẫn, sự sai lệch trong việc xác định
loại quan hệ pháp luật thuộc đối tợng điều chỉnh của từng ngành luật, quan trọng
hơn là việc xác định luật áp dụng đối với từng trờng hợp cụ thể.
14
Tố tụng dân sự là một ngành luật độc lập, trong đó, toà án dân sự có thẩm
quyền giải quyết tất cả các vụ án dân sự theo quy định tại điều 10
PLTTGQCVADS. Còn tố tụng lao động là trình tự giải quyết các tranh chấp lao
động, trong đó toà lao động có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp lao
động theo quy định tại điều 11 PLTTGQCVALĐ. Các tranh chấp lao động chủ
yếu phát sinh trong khu vực kinh tế, trong các doanh nghiệp sản xuất mà nội
dung tranh chấp là các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc giao kết và thực hiện
hợp đồng lao động. Một cách cụ thể hơn, nội dung tranh chấp có liên quan đến
việc làm, tiền lơng, thu nhập, bồi thờng thiệt hại những vấn đề có liên quan đến
cuộc sống của ngời lao động và quá trình sản xuất, công tác của các cơ quan,
doanh nghiệp. Nói cách khác, các tranh chấp lao động cũng có yếu tố dân sự,
mang đậm yếu tố dân sự mà nhiều khi trong cùng một sự việc, cùng một tình
huống rất khó xác định đợc đó là quan hệ dân sự hay quan hệ lao động. Từ đó,
việc lựa chọn toà giải quyết và thủ tục giải quyết của các phân toà cũng rất khó
khăn. Vì vậy, việc phân biệt quan hệ lao động và quan hệ dân sự cũng nh việc
phân biệt tố tụng lao động và tố tụng dân sự là hết sức cần thiết.
Về mặt hình thức, về trình tự tố tụng thì tố tụng lao động rất giốn tố tụng

lao động. Các quyền và nghĩa vụ tố tụng nh hoà giải, quyền kháng cáo, nghĩa vụ
án phí cũng vì thế mà không đợc xác định đúng. Nhiều khi sự nhầm lẫn sai
phạm bắt đầu ngay từ khâu thụ lý vụ án.
Điều 43 PLTTGQCVADS quy định về hoà giải và các trờng hợp không qua
thủ tục hoà giải. Theo đó, phạm vi, trờng hợp không đợc hoà giải cũng tơng đối
nhiều. Trong khi đó, theo quy định của Luật lao động thì tất cả các tranh chấp lao
động đều phải đợc hoà giải. Hoà giải là trách nhiệm của Toà án.
Xuất phát từ bản chất của quan hệ lao động là một quan hệ động. Nó liên
quan và chi phối trực tiếp đến việc làm, tiền lơng của ngời lao động, quyết định
cuộc sống của họ, thậm chí cả gia đình họ. Vì vậy, thủ tục hoà giải trong tố tụng
lao động đợc áp dụng rộng rãi hơn, triệt để hơn trong tố tụng dân sự. Việc hoà
giải thành tránh cho các bên những thiệt hại không đáng có do phải theo hầu kiện
tại toà. áp dụng đúng thủ tục hoà giải trong tố tụng lao động có ý nghĩa rất lớn vì
mục đích duy trì, hàn gắn quan hệ lao động sau tranh chấp. Nhng thực tế nhiều
trờng hợp, do áp dụng luật một cách sai lầm (quan hệ lao động đợc giải quyết
theo thủ tục tố tụng dân sự) nên các bên không đợc hoà giải tại toà, không có cơ
hội thơng lợng thoả thuận với nhau, không đợc chọn phơng án tốt nhất, không đ-
ợc thực hiện quyền tự định đoạt một cách triệt để Thêm vào đó, do việc xét xử
16
theo tố tụng dân sự nên đơng sự phải chịu án phí cao hơn nhiều so với án phí lao
động.
Tranh chấp lao động ảnh hởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế- xã hội.
Trớc hết, nó ảnh hởng đến đời sống của ngời lao động, đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp và thậm chí đến cả đời sống kinh tế, chính
trị, xã hội. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết các tranh chấp lao động
là phải nhanh chóng, tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của ngời lao
động và ngời sử dụng lao động. Để đạt đợc mục tiêu đó, việc giải quyết đúng đắn
vụ án lao động, đúng bản chất quan hệ lao động là một đòi hỏi bức thiết. Chỉ khi
giải quyết đúng bản chất quan hệ lao động thì các quyền, lợi ích hợp pháp của
các bên mới đợc đảm bảo.

tiếng Việt- Nxb Khoa học xã hội. Trung tâm từ điển học Hà Nội). Nh vậy,
nguyên tắc đợc coi là cái không thể thiếu trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
của con ngời, bảo đảm cho những hoạt đó đó đi đúng hớng và đạt hiệu quả cao.
Tố tụng lao động với t cách là hoạt động t pháp của cơ quan nhà nớc đợc giao
nhiệm vụ xét xử, giải quyết các tranh chấp chấp lao động phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định là tất yếu.
Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng lao động là những t tởng chính trị,
pháp lý chỉ đạo xác định sự thống nhất về nội dung trong hệ thống các quy định
tố tụng lao động và sự thống nhất trong hoạt động xét xử các vụ án lao động.
Để thực hiện tốt các hoạt động tố tụng, toà án và các chủ thể khác phải tuân
thủ các nguyên tắc cơ bản đã đợc quy định trong luật tổ chức toà án nhân dân.
Các nguyên tắc này áp dụng chung cho việc xét xử tất cả các vụ án dân sự, hình
sự, lao động, kinh tế Đó là thực hiện chế độ xét xử tập thể, quyết định theo đa
số. Nguyên tắc này bảo đảm tính dân chủ, tính tập trung, tránh chủ quan trong
công tác xét xử ở tất cả các cấp toà, quyền xét xử thuộc hội đồng xét xử, không
phụ thuộc vào ý kiến riêng của bất cứ một cá nhân nào. Mọi vấn đề trong quá
trình xét xử đều phải đợc bàn bạc, thảo luận và quyết định bằng cách biểu quyết
theo đa số.
Nguyên tắc thứ hai là khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập
chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc này đảm bảo tính chất của toà án nhân dân và
đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong hoạt động xét xử.
Tiếp theo là nguyên tắc đảm bảo cho ngời tham gia tố tụng có quyền dùng
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục bằng lời
nói.
18
Việc tuân thủ các nguyên tắc trên là cần thiết và tất yếu. Tuy nhiên, do bản
chất của quan hệ lao động và tranh chấp lao động trong nền kinh tế thị trờng, đòi
hỏi phải có những nguyên tắc riêng phù hợp với việc xét xử các vụ án lao động.
Các nguyên tắc này thể hiện đặc trng của tố tụng lao động. Nó có nhiều điểm
khác so với tố tụng dân sự và các hình thức tố tụng pháp luật khác.

động. Điều 28 PLTTGQCVALĐ quy định: Đối với những vi phạm pháp luật
liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngời lao động là ngời cha thành
niên, ngời tàn tật và các vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác, nếu không có ai
khởi kiện thì viện kiểm sát khởi tố mà các đơng sự thoả thuận đợc với nhau về
phơng án giải quyết thì toà án vẫn công nhận sự thoả thuận của các đơng sự. Nh
vậy, quyền định đoạt của các đơng sự đợc bảo vệ và thực hiện một cách tuyệt đối.
Đây là nguyên tắc cơ bản, đặc thù của tố tụng lao động bởi các quan hệ lao
động luôn luôn vận động, liên quan đến sự vận động phát triển và sự ổn định của
nền kinh tế, của xã hội, thậm chí nó còn liên quan đến môi trờng chính trị của
một đất nớc. Vì thế việc quy định nguyên tắc này nhằm khuyến khích các bên
giải quyết các tranh chấp của mình nhanh gọn nhất, hoàn toàn tự chủ trong việc
thực hiện quyền của mình.
PLTTGQCVADS cũng quy định quyền tự định đoạt của các đơng sự tại điều
2, nhng quyền này đợc áp dụng hạn chế hơn so với tố tụng lao động. Trong tố
tụng dân sự, tại điều 8 và điều 28 PLTTGQCVADS quy định sự tham gia tố tụng
của các cơ quan nhà nớc, các tổ chức xã hội và công dân, sự tham gia tố tụng của
Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, chủ thể có quyền khởi kiện rộng hơn và phạm
vi các vụ việc thuộc thẩm quyền khởi kiện của các chủ thể này hiện cũng rộng
hơn, nghĩa là quyền tự định đoạt của đơng sự thực hiện không triệt để, không
tuyệt đối nh trong tố tụng lao động.
Hơn nữa, trong tố tụng lao động, thủ tục hoà giải đợc áp dụng đối với mọi
loại tranh chấp, trớc và tại phiên toà. Quy định này cho phép các đơng sự tự lựa
chọn phơng án giải quyết tranh chấp. Trong tố tụng dân sự, một số việc không áp
dụng thủ tục hoà giải mà khởi kiện luôn tại toà; các bên bắt buộc phải tuân thủ
quy định này (Điều 43 PLTTGQCVADS) mà không đợc chọn phơng án khác.
Đặc biệt trong tố tụng lao động, các bên có nghĩa vụ chủ động chứng minh, toà
án không có nghĩa vụ chủ động điều tra. Đây là quy định thể hiện rõ quyền tự
định đoạt của đơng sự, họ tự định đoạt quyền và lợi ích mà họ sẽ đợc hởng thông
qua những tài liệu, chứng cứ xác thực mà họ cung cấp cho toà án. Ngợc lại, trong
20

đợc quy định tại điều 158 Bộ luật lao động, cha đợc cụ thể hoá trong pháp lệnh
thủ tục giải quyết tranh chấp lao động. Nhng trong quá trình giải quyết tranh
21
chấp lao động, việc tuân thủ nguyên tắc này là hết sức cần thiết và đem lại hiệu
quả cao. Vì vậy, nó cần phải đợc cụ thể hoá trong pháp lệnh.
Giải quyết vụ án lao động có sự tham gia của đại diện các bên đơng sự là
một nguyên tắc quan trọng của tố tụng lao động, đặc biệt là vai trò của tổ chức
công đoàn. Đối với những vụ án mà tổ chức công đoàn không khởi kiện thì công
đoàn có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của Toà án, Viện kiểm sát, cung cấp các
tài liệu, chứng cứ hoặc ý kiến về vấn đề có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
Đại diện của ban chấp hành công đoàn cơ sở có thể đợc toà án mời tham dự phiên
họp hoà giải, tham gia phiên toà và có thể đợc phát biểu ý kiến (Điều 23
PLTTGQCVALĐ). Tổ chức công đoàn với vai trò bảo vệ quyền lợi của ngời lao
động nên sự tham gia tố tụng của tổ chức này là không thể thiếu đợc.
Đại diện của các bên thờng là ngời am hiểu pháp luật, hiểu rõ khả năng,
điều kiện của các bên và khắc phục đợc sự không thiện chí giữa các bên tranh
chấp. Do đó, sự tham gia tố tụng của đại diện các bên rất có ý nghĩa trong việc
giải quyết các vụ án lao động. Nó giúp cho việc giải quyết quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên đợc triệt để hơn, hàn gắn đợc quan hệ lao động, mang lại sự
đoàn kết cần thiết trong quan hệ lao động.
Tố tụng lao động và tố tụng dân sự đều giống nhau ở các nguyên tắc chung.
Nhng do đặc chung của từng ngành luật, do loại quan hệ mà chúng điều chỉnh có
sự khác nhau nên giữa chúng tồn tại một số nguyên tắc khác nhau. Những
nguyên tắc này có thể khác nhau về nội dung, hoặc khác nhau về mức độ thể
hiện, mức độ áp dụng.
2.2. Ngời tham gia tố tụng
Ngời tham gia tố tụng trong tố tụng dân sự có sự khác biệt với ngời tham gia
tố tụng trong tố tụng lao động.
Điều 19 PLTTGQCVADS quy định: Các đơng sự là công dân, pháp nhân
tham gia tố tụng với t cách là nguyên đơn, bị đơn, hoặc ngời có quyền lợi, nghĩa

Tuỳ từng tính chất tranh chấp mà các đơng sự có thể đợc đa vào quá trình
giải quyết theo từng cặp đối xứng là:
Ngời lao động - Ngời sử dụng lao động hoặc;
Ngời sử dụng lao động - Tập thể lao động
Nh vậy, đơng sự trong tố tụng dân sự là cá nhân, pháp nhân chung chung
mang t cách cá nhân họ hoặc đại diện cho pháp nhân trong quan hệ tố tụng dân
23
sự. Ngợc lại, đơng sự trong tố tụng lao động không phải là cá nhân, pháp nhân
chung chung mà t cách đơng sự luôn gắn với t cách của họ trong quan hệ lao
động: ngời lao động hoặc ngời sử dụng lao động. Đơng sự trong vụ án lao động
chỉ có thể là cá nhân hoặc tập thể trực tiếp tham gia quan hệ lao động đó và có
quyền lợi bị xâm phạm.
Một điều đặc biệt trong tố tụng lao động là hành vi của tổ chức công đoàn
trong việc khởi kiện. Tổ chức công đoàn là một tổ chức chính trị- xã hội. Nếu tổ
chức công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện vì lợi ích của tập thể lao
động thì công đoàn cơ sở phải tham gia tố tụng với t cách nguyên đơn vì công
đoàn là một tổ chức của ngời lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ngời lao
động, tập thể lao động trong doanh nghiệp.
Sự tham gia tố tụng của tổ chức công đoàn làm cho cơ cấu ngời tham gia tố
tụng trong lao động khác hẳn với các hình thức tố tụng khác. Thêm vào đó là sự
ghi nhận của luật về t cách đơng sự của một tập thể (tập thể lao động với t cách đ-
ơng sự, các quyền và nghĩa vụ tố tụng đợc thực hiện thông qua đại diện ban chấp
hành công đoàn cơ sở). Nh vậy, về mặt lý luận, trong tố tụng lao động tồn tại t
cách đơng sự là một tập thể ngời.
Sở dĩ, tồn tại các loại đơng sự này là do trong quan hệ pháp luật lao động
không chỉ tồn tại quan hệ giữa ngời lao động với chủ sử dụng lao động mà còn có
quan hệ giữa chủ sử dụng lao động với tập thể lao động. Quyền và lợi ích của cá
nhân ngời lao động là thống nhất với quyền và lợi ích của cả tập thể lao động.
Hơn nữa, chủ sử dụng lao động và tập thể lao động còn có mối ràng buộc
trong việc xây dựng và thực hiện thoả ớc lao động tập thể, trong việc chăm lo

quyết bằng hoà giải ở cơ sở và trọng tài là thủ tục bắt buộc đối với hầu hết các
tranh chấp lao động trớc khi khởi kiện tại toà án. Thủ tục hoà giải bắt buộc trớc
khi khởi kiện tại toà cũng là một đặc trng và có nhiều điểm khác hoà giaỉ trong tố
tụng dân sự (phân tích ở mục sau).
Tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân theo
thủ tục tố tụng lao động có đặc điểm là những tranh chấp về hợp đồng lao động,
bởi vì Bộ luật lao động chủ yếu áp dụng đối với quan hệ lao động giữa một bên là
ngời sử dụng lao động với ngời làm công ăn lơng theo chế độ hợp đồng lao động.
Thẩm quyền của toà án trong tố tụng lao động là thẩm quyền có điều kiện,
nó bị chi phối bởi Bộ luật lao động, PLTTGQCVALĐ và các văn bản hớng dẫn
thi hành khác.
25

Trích đoạn Những tồn tại và vớng mắc Nguyên nhân của những tồn tại đó
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status