BÀI BÁO CÁO -TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ - Pdf 27

TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA
NƯỚC CHỦ NHÀ
MỤC LỤC
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC
CHỦ NHÀ
NHÓM 10
Page 1
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
1. Cơ sở lí luận
1.1 Các khái niệm FDI, môi trường
1.1.1 Khái niệm FDI
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với
những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực
tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục
đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh
nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
Hội nghị Liên Hợp Quốc về TM và Phát triển UNCTAD cũng đưa ra một doanh
nghiệp về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc
thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các
doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh
nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cở phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản
vay trong nội bộ công ty.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại
nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một khoản
tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết
định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế
ấy.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước
ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh

1.1.2 Khái niệm môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con
người. Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất,
nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng
cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản
xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để
giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.
Môi trường tự nhiên bao gồm môi trường đất, môi trường nước, môi trường
không khí, môi trường biển, môi trường rừng….
NHÓM 10
Page 3
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
1.1.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường.
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi
tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”
Dưới đây là các hình thức ô nhiễm và các chất ô nhiễm liên quan:
- Ô nhiễm không khí, việc xả khói chứa bụi và các chất hóa học vào bầu không khí.
Ví dụ về các khí độc là carbon monoxide, sulfur dioxide, các chất chlorofluorocarbon
(CFCs), và nitrogen oxide là chất thải của công nghiệp và xe cộ. Ozone quang hóa và
khói lẫn sương (smog) được tạo ra khi các ôxít nitơ phản ứng với ánh sáng mặt trời.
- Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công
nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.
- Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại (hàm lượng vượt quá
giới hạn thông thường)do các hoạt động chủ động của con người như khai thác
khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá
nhiều, hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm. Phổ biến nhất trong các loại chất ô
nhiễm đất là hydrocarbon, kim loại nặng, MTBE, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, và
chlorinated hydrocarbon
- Ô nhiễm phóng xạ

rừng nguyên sinh (trái ngược với những năm 1960, khi họ là nguồn gốc của nguyên
liệu chủ yếu lấy từ các khu rừng nguyên sinh ).
1.2.2 Tiêu cực:
FDI gây ô nhiễm môi trường. Có thể nói một trong những tác động tiêu cực nhất
của FDI
đối với nước nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường. Đặc biệt là tình
hình xuất khẩu ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông
qua FDI ngày càng gia tăng. Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành những
nước có mức nhập khẩu ô nhiễm cao, nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam
Hiện nay vấn đề xử lý nước thải tại Việt Nam chưa được chú trọng, hầu hết các xí
nghiệp chưa có hệ thống xử lý chất thải. Các chương trình giám sát, xử phạt vẫn chưa
được thực hiện một cách toàn diện trong khi ngày càng có nhiều dự án khai thác tài
nguyên, vận chuyển dầu với hiểm họa tràn dầu có nguy cơ gia tăng trong các năm tới.
Rõ ràng rằng tự do hoá thương mại và đầu tư FDI đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động
NHÓM 10
Page 5
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
kinh tế, dẫn đến những áp lực lớn hơn đối với môi trường từ việc khai thác ngày một
nhiều các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất như khoáng sản, gỗ, nước ngọt v.v., đầu
ra là khối lượng khí thải và chất thải gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và đất đai.
FDI ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái. Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho
ngành
Du lịch Việt Nam thì sự đầu tư quá lớn và liên tục gia tăng trong những năm gần
đây đã đặt
môi trường tự nhiên Việt Nam trước những thách thức lớn. Nguy cơ ảnh hưởng
xấu đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các
lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống,
nơi cư trú của các động vật hoang dã, thực vật đã bị xáo trộn, phá hủy. Trong khi đó,
vấn đề bảo vệ tốt môi trường vẫn đang là thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay.
FDI đã tạo cho cạnh tranh quốc tế trở nên quyết liệt hơn. Xu hướng chung trong

niệm đó là nhiệm vụ môi trường và phải được chi từ ngân sách nhà nước Bởi vậy,
có tình trạng có doanh nghiệp bỏ ra hàng tỷ đồng để đầu tư sản xuất sạch hơn trong
khi các doanh nghiệp khác tự do xả các chất ô nhiễm ra môi trường và chỉ bị phạt
hành chính với số tiền quá nhỏ.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Khái quát về khai thác bauxite ở Tây Nguyên
Khai thác mỏ bauxite là hoạt động khai thác mỏ chứa bô xít, bao gồm hoạt động
xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm
thu khoáng sản. Việc khai thác bôxít chủ yếu được tiến hành thô phương pháp khai
thác lộ thiên vì chúng nằm ở sát hay ngay trên mặt đất. Khoảng 95% lượng bauxite
được khai thác trên thế giới đều được dùng để luyện thành nhôm.
Vùng có trữ lượng bôxit lớn nhất Việt Nam là Tây Nguyên. Theo tài liệu cũ của
Liên Xô để lại, Tây Nguyên có trữ lượng bô xít khoảng 8 tỉ tấn. Ngày 1 tháng 11 năm
2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 167 phê duyệt quy hoạch phân vùng,
thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít từ giai đoạn 2007-2015, có xét đến
năm 2025 và hiện nay, Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam cũng đã thăm dò, đầu tư
một số công trình khai thác bô-xít, luyện alumina tại Tây Nguyên. Tuy nhiên, việc
NHÓM 10
Page 7
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
làm này đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các nhà khoa học và dân cư bản địa vì
nguy cơ hủy hoại môi trường và tác động tiêu cực đến văn hoá - xã hội Tây Nguyên
và có thể tổn thương cả một nền văn hóa bản địa.
Từ năm 2001, trong Ðại hội IX, dự án này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản
Việt Nam thông qua: "Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bauxite là chủ trương
nhất quán từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay".
Một số ý kiến của đại biểu Quốc hội cho rằng Chính phủ Việt Nam đã "lách luật"
khi tách cụm dự án thành nhiều dự án nhỏ để Chính phủ phê duyệt vì theo quy định
của Luật xây dựng, đối với những dự án có tổng mức đầu tư có tổng mức đầu tư từ
10.000 tỷ đồng trở lên phải được Quốc hội chấp thuận.

Thuận, dự kiến vào giai đoạn 2014-2015.
TKV và một số chủ đầu tư khác (Công ty cổ phần An Viên) đang hoàn chỉnh thủ
tục xin thăm dò 7 mỏ bô xít Đăk Nông, 2 mỏ bô xít Lâm Đồng và 2 mỏ tại Bình
Phước. Dự kiến, toàn bộ công tác thăm dò sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2010-2011,
đảm bảo có cơ sở tài nguyên tin cậy để lập dự án đầu tư.
Theo số liệu công bố tháng 1 của Cơ quan Địa chất Mỹ, tài nguyên bô xít trên thế
giới có trữ lượng 55-75 tỷ tấn, phân bổ ở hơn 40 nước. Việt Nam là một trong số 5
nước có trữ lượng trên 1 tỷ tấn. Tổng trữ lượng đã thăm dò trên toàn thế giới đạt 27-
38 tỷ tấn, đủ đáp ứng nhu cầu trong vài trăm năm nữa.
Theo Bộ Công Thương, Việt Nam có nguồn tài nguyên bô xít thuộc loại lớn trên
thế giới. Trữ lượng đã được xác định và dự báo là 5,4 tỷ tấn, chủ yếu tập trung ở khu
vực Tây Nguyên. Đã nhiều năm qua, Tây Nguyên tập trung phát triển tối đa cây công
nghiệp, nhưng hiệu quả kinh tế còn hạn chế, đời sống đồng bào còn khó khăn, hạ tầng
nghèo nàn, trình độ dân trí hạn chế. Vì vậy, bô xít được xác định là nguồn lực quan
trọng thúc đẩy sực phát triển kinh tế xã hội khu vực, góp phần ổn định tình hình chính
trị, an ninh trên địa bàn.
Cũng theo Bộ Công Thương, việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô xít,
sản xuất alumina - nhôm đã được nghiên cứu cân nhắc và quyết định thận trọng, phù
hợp với chủ trương của Đảng, Chính phủ và đáp ứng nguyện vọng của đồng bào các
dân tộc Tây Nguyên. Dự án đã được gửi lấy ý kiến góp ý của các Bộ, ngành và địa
phương liên quan để hoàn chỉnh, đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thẩm định,
NHÓM 10
Page 9
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
góp ý và trình Chính phủ phê duyệt. Tuy chưa có báo cáo đánh giá tác động môi
trường chiến lược nhưng trong dự án quy hoạch đã đề cập nội dung cơ bản của vấn đề
này.
Bộ Công Thương thừa nhận, ngành công nghiệp nhôm sử dụng nhiều điện năng,
chi phí giá thành cao, không hiệu quả và không khả thi trong giai đoạn đầu của quy
hoạch. Vì vậy, trước mắt sẽ ưu tiên các dự án sản xuất alumina.

Những năm qua, Tây Nguyên tập trung phát triển tối đa cây công nghiệp, nhưng
hiệu quả kinh tế còn hạn chế, đời sống đồng bào khó khăn, hạ tầng cơ sở nghèo nàn,
trình độ dân trí thấp. Khai thác bauxite sẽ phát triển công nghiệp khai thác và chế biến
khoáng sản bô xít phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội các địa phương và
phát triển mạng hạ tầng cơ sở liên quan như giao thông vận tải, cảng biển, điện Bô-
xít được xác định là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
khu vực, góp phần ổn định an ninh - chính trị trên địa bàn.
2.3.2 Tiêu cực
Nguy cơ chiếm dụng đất là không thể tránh khỏi
Phần lớn, tới 95% bô - xít trên thế giới khai thác lộ thiên. Trong ngành mỏ, đây là
phương thức khai thác đòi hỏi chiếm dụng nhiều đất, có tác hại huỷ diệt hệ thực vật
và động vật (flora & fauna), làm xói mòn trôi lấp đất (soil erosion). Mức độ chiếm
dụng đất của các dự án bô - xít trên Tây Nguyên rất lớn. Diện tích rừng & thảm thực
vật bị phá huỷ trong khâu khai thác bình quân 30 - 50ha/triệu tấn bô - xít, diện tích
mặt bằng bị chiếm dụng để tuyển bô - xít bình quân 150 ha/triệu tấn, và diện tích mặt
bằng bị chiếm dụng để tuyển alumina 450 ha/triệu tấn.
Việc chiếm dụng đất lớn, nhưng lại mâu thuẫn với việc tạo ra chỗ làm việc cho cư
dân. Ví dụ, dự án Tân Rai có diện tích chiếm đất tới 4.200ha, nhưng chỉ tạo ra chỗ
làm việc cho tổng số 1.668 lao động. Như vậy, bình quân dự án bô - xít cần 2,5ha để
tạo ra một việc làm.
Phần lớn các dự án trên thế giới (VN không là ngoại lệ) đều lẩn tránh việc xác
định danh mục các ngành nghề của nhà máy alumina có thể phù hợp để sử dụng lao
động tại chỗ. Các cơ sở sản xuất alumina về bản chất là các nhà máy hóa chất, đòi hỏi
công nhân phải được đào tạo ở trình độ cao, với số lượng không cần nhiều, khả năng
NHÓM 10
Page 11
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
tạo ra chỗ làm việc là không đáng kể. Khâu khai thác bô - xít thì cần có mức độ cơ
giới hóa cao, càng không thể tạo ra việc làm cho dân cư tại chỗ.
Các chủ đầu tư thường vận hành các dự án bô - xít hay alumina bằng lực lượng

(sau tuần hoàn) 4,625 triệu m3/năm. Khối lượng quặng bô - xít khai thác của dự án
này lên tới 2,32 triệu m3/năm, dẫn đến nguy cơ tổng lượng bùn đỏ phải tích trên cao
nguyên cả đời dự án Tân Rai 80-90 triệu m
3
Nguy cơ làm mất nguồn nước không có gì thay thế
Cả hai khâu tuyển bô - xít và tuyển alumina trên Tây Nguyên đều đòi hỏi rất
nhiều nước. Dự án Nhân Cơ có tổng mức tiêu dùng nước 14,832 triệu m3/năm, trong
đó để tuyển quặng cần 12 triệu m3/năm, để sản xuất alumina cần 2,4 triệu m3/năm,
trong khi cấp cho sinh hoạt chỉ là 0,432 triệu m3/năm.
Dự án Tân Rai có dự kiến xây đập chắn nước để đáp ứng nhu cầu của dự án
khoảng 18 triệu m3/năm. Nước thải ra sau tuần hoàn là 4,625 triệu m3/năm. Như vậy,
nguồn nước cho cà phê, cao su và các nhu cầu khác bị mất đi 13,375 triệu m3/năm.
Nguy cơ thay đổi môi trường và sinh thái là đương nhiên
Vấn đề môi trường chủ yếu liên quan đến các chất thải. Các chất thải không thể
tránh được trong các dự án bô - xít gồm: (i) trong khai thác bô - xít, khối lượng chất
thải rắn rất lớn, bình quân lượng đất đá phủ phải bốc lên và đổ thải 1m3/tấn bô - xít;
(ii) trong khâu tuyển quặng bô - xít, lượng chất thải bình quân 1tấn/tấn quặng nguyên
khai; (iii) trong khâu tuyển alumina lượng chất thải (gồm bùn đỏ, bùn oxalate, và
nước thải) bình quân trên 2m3/tấn; và cuối cùng, (iv) trong khâu luyện nhôm, lượng
chất thải độc hại (gồm chất thải cathode, phát thải fluoride) bình quân 1kg/tấn.
Chúng ta hoàn toàn có thể xác định được cái giá phải trả (định lượng) về ô nhiễm
môi trường của các dự án bô - xít trên Tây Nguyên trong tất cả các khâu.
Về vấn đề sinh thái, ngoài các nguy cơ phá hủy môi trường tại chỗ, các dự án bô -
xít alumina còn có những ảnh hưởng tiêu cực không thể tránh được đến hệ sinh thái
trên qui mô rộng lớn.
Trong khâu khai thác bô - xít, nguy cơ hiện hữu là thảm thực vật và động vật của
Tây nguyên (Flora & Fauna) sẽ bị thay đổi. Trong khâu tuyển alumina nguy cơ hiện
hữu là tiêu dùng nhiều nước, phải xây đập chắn, sẽ ảnh hưởng đến chế độ thủy văn
NHÓM 10
Page 13

Page 14
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
5 Quy định quốc tế để thúc đẩy dòng vốn đầu tư bền vững
Các quy tắc quốc tế cần tập trung vào quy trình quản lý môi trường , minh bạch
và tham vấn. Chẳng hạn, quy định kết hợp với khuyến khích khen thưởng cải tiến liên
tục, sẽ tạo điều kiện cho một "cuộc chạy đua lên đỉnh" trong tiêu chuẩn môi trường.
6 Giảm thiểu các ngành công nghiệp có lợi nhuận thấp và ít có cơ hội cải thiện
môi trường.
7 Hạn chế việc giảm các tiêu chuẩn môi trường, bóp méo khuyến khích sử dụng
tài nguyên thiên nhiên để thu hút FDI của các quốc gia.
Tóm lại, một môi trường bền vững chỉ có thể đạt được bên trong một hệ thống
rộng lớn là tôn trọng và tăng cường quyền cơ bản của con người, và thúc đẩy cơ cấu
thị trường tốt. Ưu tiên đàm phán và tăng cường các công cụ quốc tế: đẩy mạnh công
bằng cạnh tranh; loại bỏ các hàng rào đầu tư, giảm hối lộ và tham nhũng, và thực thi
các tiêu chuẩn lao động cốt lõi.
3.2 Chính sách của Việt Nam
Về công tác quy hoạch: Các địa phương cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch các
doanh nghiệp FDI để đảm bảo các quy hoạch đồng bộ, phù hợp với quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; cần xem xét lại mối quan hệ
qua lại giữa quy hoạch phát triển tại mỗi vùng kinh tế với quy hoạch của các ngành
kinh tế - xã hội khác trong vùng; quy hoạch phát triển tại mỗi vùng cần phù hợp với
điều kiện tài nguyên, đặc điểm kinh tế - xã hội, triển vọng thị trường. Quá trình lập
quy hoạch phải tính ngay tới các tác nhân gây ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải
pháp giảm thiểu và bảo vệ môi trường. Việc thành lập và phát triển phải đảm bảo tuân
thủ đúng với quy hoạch đã được phê duyệt.
Về thu hút đầu tư: Thu hút đầu tư theo hướng ưu tiên những ngành công nghiệp
sạch, ít ô nhiễm, đảm bảo cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng và thực tế giải
quyết ô nhiễm của địa phương; thu hút có trọng điểm để phát triển các ngành kinh tế
chủ lực cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí nhà máy, xây dựng phương án
bảo vệ môi trường.

Tất cả các doanh nghiệp FDI có nước thải phải xử lý sơ bộ đạt tiêu chuẩn đầu vào
của hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi thải vào hệ thống thu gom nước thải,
trường hợp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì từng doanh nghiệp phải xử
NHÓM 10
Page 16
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ
lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài. Các doanh nghiệp có phát
sinh khí thải phải có hệ thống xử lý khí thải đạt quy chuẩn Việt Nam trước khi xả thải.
Các doanh nghiệp có phát sinh chất thải nguy hại phải có hợp đồng với các đơn vị có
chức năng và đủ năng lực để thu gom và xử lý đúng cách.
Về pháp luật môi trường: Rà soát, bổ sung và tiếp tục điều chỉnh hệ thống văn
bản pháp luật về môi trường, trong đó hướng dẫn cụ thể, quy định rõ các nhiệm vụ
cần thực hiện trong công tác bảo vệ môi trường cho các cơ quan quản lý nhà nước;
ban hành, cập nhật các tiêu chuẩn môi trường cho phù hợp với thực tế. Đối với các
công trình xử lý chất thải của doanh nghiệp thì cần quy định rõ về tiêu chuẩn, chế độ
vận hành để thống nhất thực hiện, đảm bảo được chất lượng của các công trình, nhất
là đối với nhà máy xử lý nước thải tập trung, khắc phục tình trạng vận hành không
thường xuyên, công nghệ chưa phù hợp như hiện nay; hướng dẫn quản lý vận hành
các trạm xử lý nước thải tập trung.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về môi trường trong các
doanh nghiệp, đồng thời xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với
hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Đối với việc đầu tư nhà máy xử lý nước thải
tập trung, cần có những chế tài có tính bắt buộc đối với doanh nghiệp phát triển hạ
tầng. Ví dụ như: coi việc xây dựng công trình xử lý chất thải tập trung là một trong
những điều kiện khi thực hiện các ưu đãi về thuế, đất đai cho chủ đầu tư cơ sở hạ
tầng, là điều kiện để cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các doanh nghiệp FDI hoạt
động.
NHÓM 10
Page 17
TÁC ĐỘNG FDI TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NƯỚC CHỦ NHÀ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status