Mục lục
I. Khái quát tình hình xu ấ t nhập kh ẩ u của Vi ệ t Nam 2001 - 2007
1) Giá trò và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu 3
2) Các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD 4
3) Các thị trường xuất khẩu chủ yếu 5
II. Thực trạng các ngành hàng
1) Ngành dầu thô Việt Nam 7
2) Ngành dệt may Việt Nam 11
3) Ngành giày dép Việt Nam 16
4) Ngành thủy sản Việt Nam 21
5) Ngành gạo Việt Nam 27
6) Ngành gỗ Việt Nam 34
7) Ngành điện tử máy tính Việt Nam 43
8) Ngành cà phê Việt Nam 49
9) Ngành cao su Việt Nam 58
10) Ngành than đá Việt Nam 67
11) Ngành hồ tiêu Việt Nam 74
12) Ngành điều Việt Nam 81
III. Giải pháp chung cho xu ấ t nhập kh ẩ u Việt Nam 89
Trang 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
I. Khái qt tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam 2001 - 2007
1. Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu
Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu khơng ổn định. Năm
2001, tăng trưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình tình kinh tế - chính trị thế giới
biến động. Chỉ số này đã được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm 2004-
2005. Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức
cao, đặc biệt năm 2007 là 28,9%, cao nhất trong 7 năm của giai đoạn 2001–2007. Tốc
độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 20,5%.
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109.217 triệu USD, gấp 3,5 lần so
với 31.247 triệu USD của năm 2001. Năm 2007 đã khép lại với mức tăng trưởng xuất
nhập WTO mở ra những thuận lợi và cả khó khăn cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu.
(4)Thủy sản, gạo, café
Trong vòng 7 năm 2001-2007, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên gần
gấp 3 lần. Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trường thế giới. Trong
những năm 2001-2003, do ảnh hưởng của kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu về nông sản,
thủy sản giảm làm giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim
ngạch xuất khẩu tăng rất chậm trong giai đoạn này. Những năm còn lại của giai đoạn
2001-2007, do tình hình kinh tế thế giới phục hồi và chi phí sản xuất gia tăng; giá trị xuất
khẩu nông, lâm, thủy sản đã tăng nhanh.
Trong năm 2007, khối lượng xuất khẩu các mặt hàng nông sản có phần giảm
hoặc tăng không nhiều. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại tăng rất cao so với năm 2006.
Nguyên nhân là giá nông sản thế giới đang trên đà lên giá. Đầu năm 2008, thế giới đối
mặt với cuộc khủng hoảng lương thực khi giá hầu hết các nông sản chính như: bắp, lúa
mì, gạo đều tăng gấp 2-3 lần trong vòng chưa đầy hai năm.
*Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đã khai thác phần lớn tiềm năng
nên hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hướng
tăng trưởng chậm lại về khối lượng, nhưng vẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế
giới có xu hướng tăng lên.
Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trước những
thời cơ và thách thức mới.
Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về
lâu dài cần phát triển theo hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm
lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ
tầng pháp lý.
(5) Máy tính và linh kiện điện tử:
Ngành xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy tính đang ngày càng có vai trò
quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như không tính năm 2002 xuất
khẩu mặt hàng này giảm đi do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới thì tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu bình quân của mặt hàng này giai đoạn 2003-2007 đạt 29,4%, cao nhất
trong số các mặt hàng chủ lực
khẩu, 20 thị trường lớn nhất chiếm đến 90% giá trị xuất khẩu. Trong nhập khẩu, Việt
Nam mua đến 76,3% hàng hóa từ 8 đối tác lớn nhất. Các đối tác xuất khẩu chủ yếu là các
thị trường có công nghệ nguồn, trong khi các đối tác nhập khẩu chủ yếu lại là các thị
trường không có công nghệ nguồn.
Biểu đồ các ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD
8 tháng đầu năm 2008 (Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Bộ Công Thương)
Trang 4
II. Thực trạng các ngành hàng
1. Ngành dầu thô Việt Nam
a/ Thực trạng xuất khẩu:
8 tháng đầu năm 2008, sản lượng dầu thô khai thác mới đạt 59,6% kế hoạch năm
nhưng nhờ giá dầu tăng nên Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đã đạt trên 8 tỷ
USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 80% so với cùng kỳ năm 2007. Để phấn đấu đạt sản
lượng dầu thô tối thiểu 16 triệu tấn, trong những tháng còn lại, PVN sẽ tiếp tục đưa thêm
các mỏ mới vào khai thác như: Sư Tử Vàng, Sông Đốc, Bunga Orkid, đảm bảo gia tăng
trữ lượng dầu khí cả năm đạt 35 – 40 triệu tấn dầu quy đổi. Bên cạnh đó, PVN cũng phấn
đấu hoàn tất đàm phán và ký kết 3 dự án dầu khí ở nước ngoài (với Zarubeznhep trong
tháng 9, OAO Gasprom vào tháng 10 – cùng của Nga và PDVSA – Venezuela vào tháng
11).
Biểu bảng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008
Trang 5
(ĐVT : 1.000 Tấn) (Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008(8
tháng
đầu
năm)
Sản
lượng
15500 16700 16900 17169 19558 17437 17300 15000 9000
Úc 5.525.591 2.130.900
Xing-ga-po 3.720.431 1.488.358
b/ Thành công :
Thuận lợi lớn nhất mà ngành dầu khí đã tạo dựng được trong hoạt động xuất khẩu
dầu thô là dù giá lên cao hay xuống thấp, dầu thô Việt Nam được khai thác từ mỏ Bạch
Hổ, Rạng Đông, Ruby, Đại Hùng và gần đây là Sư Tử Đen, vẫn luôn hấp dẫn được
khách hàng gần xa bởi chất lượng, uy tín trong giao dịch.
Trong đó, dầu thô Bạch Hổ chiếm tới 60% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu của
Việt Nam.
Trang 7
Một thuận lợi nữa là Petechim (Công ty Thương mại Dầu khí) đã xây dựng cho
mình một hệ thống khách hàng truyền thống, gắn kết chặt chẽ với công ty trong mọi
hoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, giá dầu sụt xuống, thị trường dầu thô thế giới gần
như bị “đóng băng”, nhưng dầu thô Việt Nam vẫn xuất khẩu đều, tránh được hiện tượng
phải đóng mỏ (trong hoàn cảnh bình thường, đây là điều tối kỵ nhất trong quá trình khai
thác và xuất khẩu dầu thô).
Một sự kiện rất quan trọng, mang tính bổ sung hết sức kịp thời cho việc khai thác
dầu khí của Việt Nam là trong khi lượng dầu khai thác gần 20 năm qua từ mỏ Bạch Hổ
đang giảm dần thì từ năm 2003, dầu thô từ mỏ Sư Tử Đen bắt đầu được khai thác và đưa
vào xuất khẩu với sản lượng khoảng 70.000 thùng/ngày.
Bên cạnh đó, trong vài năm tới, mỏ Sư Tử Vàng và Sư Tử Trắng sẽ đi vào khai
thác, hứa hẹn một sự tăng trưởng mới cho ngành dầu khí Việt Nam.
c/ Hạn chế khó khăn :
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu dầu thô của nước ta thời gian qua cũng đang phải
đối mặt với nhiều khó khăn, trở ngại, nhất là khi giá dầu thô trong xu thế ngày càng tăng.
Theo quy luật cung cầu, khi giá cao, xuất khẩu dầu thô không hẳn hoàn toàn thuận
lợi. Cũng như nhiều mặt hàng khác, dầu thô của Việt Nam đang vấp phải sự cạnh tranh
quyết liệt về giá của nhiều nước khác, nhất là khu vực châu Phi. Khi giá dầu lên cao, các
khách hàng tiêu thụ có xu hướng tìm các nguồn dầu khác thay thế rẻ hơn, ví dụ từ châu
Phi, Trung Đông
(ĐVT : 1.000.000 USD) (Nguồn: Tổng Cục Thống Kê)
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Kim
ngạch
1850 1885 2626 3449 4260 4806 5834 9500 6000
Tốc độ
(%)
1.9 39.3 31.3 23.5 12.8 21.4 62.8 -36.8
Biểu đồ tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu dệt may 2000-2008
(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê)
Trang 9
* Thị trường xuất khẩu :
Hiện có khoảng 170 nước/vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam,
trong đó Mỹ chiếm trên dưới 55%, EU 19%, Nhật Bản 13%, Đài Loan 4%. Tỷ trọng hàng
gia công chiếm trên 90%, hàng mua đứt bán đoạn chiếm tỷ trọng thấp, nên thực thu ngoại
tệ không lớn, hiệu quả thấp.
Trong số các thị trường xuất khẩu dệt may chủ lực của Việt Nam bao gồm Pháp,
Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Anh, Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng xấp xỉ 60% (số liệu
từ Tổng cục Thống kê)
Đứng đầu trong các thị trường xuất khẩu dệt may Việt Nam là Mỹ với kim ngạch
hơn 3 tỷ USD (chiếm 55% thị phần); Liên minh châu Âu (EU) xếp thứ hai với 1,2 tỷ
USD (chiếm 20% thị phần); tiếp theo là các thị trường Nhật Bản, ASEAN, Canada, Nga
và một số thị trường khác.
Công nghiệp dệt may đạt giá trị xuất khẩu toàn cầu hơn 350 tỷ USD/năm là nguồn
thu đáng kể của nhiều nền kinh tế như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia,
Pakixtan, Hàn Quốc… Trung Quốc đứng đầu thế giới về xuất khẩu sản phẩm may mặc.
Dệt – may chiếm 4% tổng sản lượng hàng hóa, 4,8% tổng lượng thương mại và 7% việc
làm của EU, 177 nghìn công ty với khoảng 2,1 triệu công nhân của ngành này năm 2003
làm ra đạt giá trị 200 tỷ EUR, so với 115 tỷ trước đó. Cùng với Mỹ, EU đứng đầu thế giới
về kinh doanh dệt – may, đứng đầu về xuất khẩu sản phẩm dệt, đứng thứ hai về xuất khẩu
doanh nghiệp đều có trình độ công nghệ ở mức trung bình khá so với khu vực và thế giới;
tốc độ đổi mới công nghệ của ngành cao; năng lực cạnh tranh của ngành tốt; lực lượng
lao động dồi dào, năng suất, tay nghề tốt là những ưu thế nổi bật để ngành dệt may phát
triển.
Bên cạnh đó, một thuận lợi lớn nữa cho ngành dệt may chính là thị trường. Tuy
xuất khẩu nhiều nhưng tập trung ở thị trường Hoa Kỳ và châu Âu. Trong đó Hoa Kỳ
chiếm gần 62%. Đây là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới và là thị
trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung và Bình
Dương nói riêng. Hiện tại, Việt Nam đang xếp thứ 7 về xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa
Kỳ. Chính vì vậy mà Giám đốc Sở Thương mại - Du lịch Nguyễn Thị Điền cho rằng, việc
Việt Nam gia nhập WTO và việc bãi bỏ hạn ngạch của Hoa Kỳ đối với Việt Nam đã tạo
bước đột phá lớn trong xuất khẩu hàng dệt may vào các thị trường này, góp phần đáng kể
vào mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung, đưa tốc độ tăng trưởng này trong năm
2006 tăng 32,4% so với năm 2005.
c/ Hạn chế khó khăn :
Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt với các
nước/vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Hồng Kông, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Mêhicô,
Bangladesh, Hàn Quốc, đặc biệt là Trung Quốc- nước có kim ngạch xuất khẩu tới 40 tỷ
USD chiếm tới 20% thị phần xuất khẩu dệt may thế giới.
Ngành đang đứng trước rất nhiều thách thức lớn, trong đó hiện hữu rõ nhất chính
là nguyên vật liệu phần lớn vẫn phải nhập khẩu (NK), tỷ lệ nội địa hoá rất thấp, trong khi
phần gia công còn cao (khoảng 65%), đa số DN chưa xây dựng được thương hiệu.
d/ Giải pháp :
Bộ Công Thương và Hiệp hội Dệt may Việt Nam cần tăng cường định hướng để
các doanh nghiệp có khả năng kiểm soát xuất khẩu, có thể sản xuất các sản phẩm có chất
lượng và có giá trị gia tăng cao.
Đồng thời, Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp chủ động
mở rộng, đa dạng hóa các thị trường, nhất là thị trường Nhật Bản. Tận dụng tối đa cơ hội
để có thể ký kết hiệp định đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản, nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này.
Kim
ngạch
1454 1587 1875 2261 2692 3005 3560 3993 3200
(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê)
Trang 14
*Thị trường xuất khẩu :
Hiện có khoảng 160 nước/vùng lãnh thổ nhập khẩu giày, dép của Việt Nam,
trong đó lớn nhất là EU (60%), tiếp đến là Mỹ (20%), Nhật Bản (3%) Kim ngạch
xuất khẩu giày, dép của Việt Nam hiện đứng thứ 6 thế giới, chiếm khoảng 6,9%
tổng kim ngạch xuất khẩu 43- 45 tỷ USD của thế giới
b/ Thành công :
Kết thúc năm 2007, dệt may xuất khẩu Việt Nam ước đạt khoảng 7,8 tỷ USD, tăng
31% so năm 2006. Trong đó, thị trường Hoa Kỳ chiếm vị trí chủ đạo, đạt 4,4-4,5 tỷ USD,
chiếm 56% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may, tăng 32%, tiếp đó là thị trường EU
đạt khoảng 1,45-1,5 tỷ USD, chiếm 18%, tăng khoảng 20%, thị trường Nhật Bản đạt
khoảng 700 triệu USD, chiếm 9%, tăng khoảng 12% Việt Nam đã trở thành 1 trong 10
nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Đây là kết quả không thể tốt hơn trong
năm đầu tiên Việt Nam thực hiện các cam kết của WTO.
Việt Nam đã thực hiện các cam kết WTO chính thức từ ngày 11/1/2007. Có thể
thấy, đây là cơ hội lớn đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam bởi các hàng rào hạn ngạch
được gỡ bỏ, tuy nhiên cũng đầy thách thức vì xuất phát điểm của Việt Nam còn nhỏ bé,
những mặt yếu của Việt Nam còn rất nhiều. Nhưng Việt Nam đã có kết quả xuất khẩu dệt
may rất tốt trong năm 2007 như đã nêu trên. Điều này cho thấy, Việt Nam đã vượt qua
những thách thức trước sự cạnh tranh gay gắt của các cường quốc xuất khẩu hàng dệt
may như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia… đứng vững và tạo đà phát triển
cho những năm tiếp theo.
c/ Hạn chế khó khăn :
Phải cạnh tranh với Trung Quốc (với 11 tỷ USD, chiếm 25% thị phần xuất khẩu của thế
giới); nguyên liệu trong nước chất lượng kém, phụ thuộc tới 60% vào nhập khẩu; mẫu mã
đơn điệu; công tác quảng cáo, tiếp thị còn yếu, phải bán qua trung gian; gần đây lại bị EU
ảnh hưởng đến giá trị gia tăng trong kim ngạch xuất khẩu của ngành. Tuy kim ngạch xuất
khẩu của ngành rất cao nhưng hiệu quả kinh tế thấp, giá trị gia tăng chỉ đạt 25%.
Bên cạnh những nỗ lực của ngành nhằm giải quyết vấn đề này, Nhà nước cần có
chính sách nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu
thay vì phải nhập khẩu như hiện nay; Các dự án xây dựng các khu “chợ” vật tư, nguyên
liệu cho ngành giày ở các vùng có nhiều nhà máy tập trung cần nhanh chóng được triển
khai, đưa vào hoạt động.
Đối với hệ thống phân phối sản phẩm, 60% các sản phẩm da giày Việt Nam là gia
công cho phiá đối tác nước ngoài dưới hình thức theo đơn đặt hàng, với giá nhân công rẻ
nên các doanh nghiệp chỉ giao hàng đến các nhà buôn mà không trực tiếp xuất khẩu đến
các nhà phân phối. Do phải phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống phân phối kinh doanh nước
ngoài nên ngành da giày Việt Nam bị lệ thuộc vào nước ngoài trong quá trình sản xuất.
Để tránh tình trạng trên, Chính phủ cần tiếp tục đàm phán với những thị trường xuất khẩu
da giày lớn của nước ta là Mỹ và EU để họ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị
trường. Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam mới phát huy được thế mạnh của mình và
không gặp khó khăn lúng túng khi thị trường xuất khẩu có những biến động bất thường
do những tranh chấp thương mại.
Để thúc đẩy hoạt động của ngành da giày, bên cạnh việc giải quyết vấn đề về
nguồn nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương
mại và xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ công nhân chất lượng cao cũng được lãnh
đạo các cấp bộ, ngành quan tâm. Từ năm 2003, được sự hỗ trợ của Chính phủ thông qua
chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia, đến nay, Hiệp hội đã tổ chức gần
30 đoàn tham gia trưng bày sản phẩm và khảo sát thị trường tại Đức, Pháp, Mỹ, Ý, Trung
Trang 16
Quốc với sự tham gia của trên 300 lượt doanh nghiệp trong cả nước. Các hoạt động trên
đã giúp các doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp với các khách hàng tiềm năng, giới thiệu,
quảng bá các sản phẩm và nâng cao hình ảnh doanh nghiệp, nắm bắt sâu hơn nhu cầu và
thị hiếu của người tiêu dùng ở từng khu vực khác nhau trên trường quốc tế. Do đó, các
doanh nghiệp đã chú trọng tới việc chuẩn bị mẫu mã, các bộ sưu tập mới để trưng bày tại
các gian hàng tham gia, có tính toán kỹ về gía cả, chi phí thực hiện các đơn hàng để ký
1,360 triệu tấn) và kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã vượt 2,5 tỷ USD, thủy sản đã chiếm
21% GDP nông - lâm - ngư nghiệp và hơn 4% GDP trong nền kinh tế quốc dân.
8 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng
20,8%.
Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008
(ĐVT: 1.000.000 USD) (Nguồn: Bộ Thủy Sản)
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Kim
ngạch
1461 1744 2017 2197 2371 2733 3358 3763 2900
Trang 18
(Nguồn: Bộ Thủy Sản)
*Thị trường xuất khẩu :
Hiện có 90 nước/vùng lãnh thổ nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam, đứng đầu là
Mỹ, tiếp đến là EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Tuy
nhiên, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam mới bằng 3,5% tổng số của thế giới, đứng sau
nhiều nước và tương đối nhỏ so với tiềm năng.
Từ vị trí số 6 về xuất khẩu thủy sản hiện nay, nếu nhập khẩu được khoảng 1-2 tỷ
USD nguyên liệu mỗi năm, Việt Nam có thể tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 1,8-3,5 tỷ
USD, đưa giá trị xuất khẩu lên 6-8 tỷ USD, xếp vị trí thứ 2 trên thế giới, sau Trung Quốc.
b/ Thành công :
Từ năm 1981, thủy sản đã là ngành kinh tế đầu tiên được vận dụng cơ chế kinh tế
thị trường trong sản xuất, kinh doanh; được phép thoát ly cơ chế bao cấp để thử nghiệm
cơ chế "tự cân đối, tự trang trải", xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm thủy sản vào thị
trường "khu vực 2" thu ngoại tệ để mua máy móc, vật tư, thiết bị đầu tư trở lại cho sản
xuất.
Sau một phần tư thế kỷ hoạt động trong cơ chế thị trường, ngành thủy sản đã từng
bước trưởng thành. Ðáng chú ý là, sau khi chính sách đổi mới của Ðảng được thực hiện
trong cả nước, từ 1986, thị trường xuất khẩu thủy sản được mở rộng và tăng trưởng với
tốc độ rất nhanh. Sự mở rộng thị trường đã kích thích sản xuất phát triển. Có thể nói, thị
Đến nay, cả nước đã có 439 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó có 171
doanh nghiệp được xếp vào danh sách 1 xuất khẩu vào EU, 300 doanh nghiệp áp dụng
quy trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị
trường Mỹ, 222 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sản phẩm vào Hàn Quốc, 295
doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào Trung Quốc Những con số đó cho thấy sự
trưởng thành của công nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam cả về công nghệ, kỹ
thuật và trình độ quản lý. Các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam đã đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực, đã tiếp cận, đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn chất
lượng sản phẩm khắt khe nhất của thị trường quốc tế.
Bên cạnh vai trò nòng cốt của đội ngũ doanh nhân, lực lượng khoa học - công
nghệ đã có đóng góp to lớn. Từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trước, công
nghệ sinh sản tôm sú nhân tạo đã được du nhập và phát triển thành công ở miền trung,
Trang 20
sau đó nhân ra cả nước, tạo tiền đề cho phong trào nuôi tôm phát triển, là cơ sở để có
được nguồn nguyên liệu chủ yếu cho chế biến, xuất khẩu thủy sản. Giá trị từ tôm xuất
khẩu đến nay chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Ðồng thời với việc làm
chủ công nghệ sinh sản nhân tạo tôm sú, các nhà khoa học thủy sản đã nghiên cứu cho đẻ
thành công nhiều giống, loài thủy sản quý hiếm, như cá mú, cá giò, cà dìa, cá bớp, cá
chẽm, cá rô phi, rô đồng, cá lóc, cua biển, ốc hương, sò, vẹm, tôm càng, tôm he, tôm
rảo, Những thành tựu khoa học này là nền tảng để phát triển các sản phẩm thủy sản
xuất khẩu.
Cùng với sự nỗ lực trong nội bộ ngành thủy sản, có được kết quả 2,5 tỷ USD xuất
khẩu còn có sự phối hợp, giúp đỡ của các bộ, ban, ngành ở trung ương, sự chỉ đạo đúng
đắn, cụ thể, sâu sát của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp địa phương, cơ sở. Chỉ bốn
tỉnh vùng bán đảo Cà Mau đã có doanh số thủy sản xuất khẩu là một tỷ USD, trong đó
riêng Cà Mau đã đóng góp hơn 500 triệu USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu
thủy sản cả nước.
Trong điều kiện của một nước chậm phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo
nàn, lạc hậu, việc xuất khẩu thủy sản đạt 2,5 tỷ USD, sản phẩm thực phẩm bảo đảm chất
lượng cao, được tiêu thụ ở các nước công nghiệp phát triển là thành tựu rất đáng tự hào.
Công ty CP Thủy sản Bình Định (Bidifishco) cũng đã tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu từ
5 triệu USD năm 2006 lên 17,8 triệu USD năm 2007.
Ngoài ra, nhập khẩu nguyên liệu sơ chế không chỉ buộc các nhà máy chế biến thủy
sản Việt Nam phải đầu tư dây chuyền tiên tiến, kỹ thuật cao, phương thức quản lý hiện
đại để sản xuất được nhiều mặt hàng giá trị gia tăng đa dạng, mà xa hơn, sẽ góp phần
giảm nhập siêu, tạo cân bằng về cán cân xuất nhập khẩu cho quốc gia; đưa Việt Nam hội
nhập sâu hơn.
Liệu việc khai thác, nuôi trồng thủy sản trong nước có bị tác động? Câu trả lời
được VASEP đưa ra là không, bởi vì nguồn nguyên liệu trong nước với giá rẻ sẽ là ưu
tiên số 1 của các doanh nghiệp chế biến khi chính vụ; giá nguyên liệu nhập khẩu thường
cao hơn giá trong nước do nhiều yếu tố. Có chăng, việc nhập khẩu nguyên liệu chỉ tạo áp
lực để ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản phải nâng cao năng lực, chất lượng cạnh
tranh.
d/ Giải pháp :
Đưa giá trị xuất khẩu lên 7,5 đến 8 tỷ USD
VASEP đã có văn bản chính thức đề nghị Chính phủ cho phép áp dụng thuế nhập
khẩu thống nhất 0 hoặc 0,5% cho các loại nguyên liệu thủy sản nhập khẩu. Trước mắt,
khi chưa giảm được thuế xuống đến mức 0-0,5%, VASEP ủng hộ chủ trương của Tổng
cục Hải quan đề nghị Bộ Tài chính bỏ những yêu cầu quá phức tạp đối với bộ chứng từ
khi thanh khoản tờ khai nhập khẩu. Theo VASEP, quá trình toàn cầu hóa đang đẩy nhanh
sự phân công lại lao động, dòng nguyên liệu thủy sản được chuyển dần sang các nước
đang phát triển để chế biến sản phẩm giá trị gia tăng cung cấp cho thị trường các nước
phát triển. Những nước xuất khẩu hàng đầu như Hoa Kỳ, Malaixia, Thái Lan cũng là
những nước nhập khẩu nguyên liệu lớn. Riêng năm 2007, để có thể đạt giá trị trên 9 tỷ
USD xuất khẩu thủy sản, Trung Quốc đã nhập khẩu 5,3 tỷ USD nguyên liệu.
Việt Nam đang có cơ hội rất lớn, do uy tín chất lượng và an toàn thực phẩm mặt
hàng thực phẩm của một số nước đang bị suy giảm. Nhiều công ty Nhật Bản và châu Âu
đang tìm cách chuyển dòng nguyên liệu nhập khẩu sang Việt Nam để chế biến. VASEP
tính toán, nếu đón nhận được dòng nguyên liệu này, chủ yếu từ các nước xứ lạnh (Bắc
Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Thái Bình Dương) Việt Nam có cơ hội trở thành cường
giá 1,810 tỷ USD, giảm 6,8% về lượng và tăng 87,6% về trị giá so với cùng kỳ năm
2007.
*Những thị trường lớn
Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam là châu Á (chiếm 61,58% kim
ngạch xuất khẩu), châu Phi (17,13 %), châu Mỹ (trên 14,73 %) và các châu lục khác như
Trung Đông (4,2%), châu Âu, châu Úc (2,36%).
Trong tháng 6/2008, Cuba đã vượt qua Philippines để trở thành thị trường xuất
khẩu gạo lớn nhất của nước ta, với lượng tiêu thụ gạo đạt 85.200 tấn, trị giá 102,6 triệu
USD, tăng 27,9% về lượng và tăng 48,1% về trị giá so với tháng 5/2008. Tính chung 6
tháng đầu năm, xuất khẩu gạo sang thị trường này đạt 336.575 tấn với giá trị 296,8 triệu
USD tăng 203,9% về lượng và tăng 699,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2007.
Thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của nước ta là Philipines lại giảm mạnh, đạt
61.542 tấn với trị giá 58,3 triệu USD, giảm 77,5% về lượng và giảm 73,9% về trị giá so
với tháng 5/2008. Tuy nhiên, tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu
Trang 23
năm sang thị trường này lên tới 1.101.806 tấn với trị giá 633,6 triệu USD, tăng 40,7% về
lượng và tăng 158,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007.
Đáng chú ý, xuất khẩu gạo sang thị trường Angola với mức tăng đột biến tới
148,1% về lượng và tăng 224,3% về trị giá so với tháng trước đạt 25.600 tấn với trị giá
19,4 triệu USD. Xuất khẩu gạo sang thị trường Nga cũng có mức tăng vọt, đạt 8.097 tấn,
trị giá 5,768 triệu USD tăng 129,5% về lượng và tăng 137% về trị giá so với tháng
5/2008. Nâng tổng lượng xuất khẩu gạo của nước ta sang thị trường này đạt 36.426 tấn,
trị giá 20,21 triệu USD tăng 168,4% về lượng và tăng 316% về giá.
Đặc biệt, thị trường Ba Lan là thị trường có kim ngạch không cao nhưng lại là thị
trường có sự tăng trưởng mạnh nhất với mức tăng 153,9% về lượng và 187,9% về trị giá
so với tháng trước đạt 438 tấn với trị giá 3,6 triệu USD tăng tới 1.099,9% về lượng, tăng
2.218,1% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Tiếp đến, xuất khẩu gạo sang thị trường Lituania cũng có mức tăng vọt đạt 1.500
tấn với trị giá 1,2 triệu USD, tăng 30,6% về lượng và 49,8% về trị giá. Sáu tháng đầu
năm xuất khẩu gạo sang thị trường này đạt 2.791 tấn với trị giá 1,68 triệu USD tăng
Trong những năm vừa qua để phù hợp với yêu cầu thị trường, chất lượng gạo của
Việt Nam đã được cải thiện một bước đáng kể, loại gạo chất lượng trung bình chiếm tỷ lệ
từ 22,4% (năm 1996) tăng lên 85% (năm 2003). Loại gạo chất lượng thấp chiếm tỷ lệ
23% giảm xuống còn 8%. Nhưng so với gạo của Thái Lan thì gạo xuất khẩu của Việt
Nam phần lớn có chất lượng trung bình. Qua khảo sát cho thấy gạo xuất 5% tấm của Việt
Nam mới đạt 35%; 15% tấm chiếm 40%; 25% tấm chiếm 12%; các loại khác là 13%.
Do chất lượng gạo chưa cao nên giá bán bình quân các loại gạo xuất khẩu luôn
thấp hơn giá gạo bình quân của Thái Lan. Khoảng cách chênh lệch giá gạo xuất khẩu
Việt Nam với Thái Lan loại 5% tấm năm 2000 là 40-50USD/tấn, nay tuy có rút ngắn
nhưng gạo 5% tấm của ta vẫn thấp hơn từ 20- 35USD/tấn so với Thái Lan. Còn so sánh
bình quân tất cả các loại gạo xuất khẩu thì hàng của ta luôn thấp hơn hàng Thái Lan
khoảng 12-24 USD/tấn.
Thứ ba: Thách thức về thị trường và thương hiệu. Gạo Việt Nam được xuất
sang nhiều thị trường với mức độ khác nhau, bao gồm. Châu Á 46%; Trung Đông 25%;
Châu Phi 12%; Châu Mỹ 1%; các nước khác 13,5%. Ngoài ra Việt Nam còn xuất sang
Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan Phần lớn các khu vực thị trương này có trình độ tiêu
dùng thấp, khả năng thanh toán hạn chế. So với Thái Lan việc gạo Việt Nam dành được
những thị trường tiêu thụ có chất lượng tiêu dùng cao còn rất hạn chế. Nhìn chung việc
xuất khẩu gạo của ta vào thị trường có chất lượng tiêu dùng cao đang bị cạnh tranh quyết
liệt.
Sở dĩ không giành được thị trường tốt ngoài việc chất lượng gạo còn do chúng ta
chậm trong xây dựng thương hiệu. Không phải chúng ta hoàn toàn yếu kém về chất
lượng, chúng ta cũng có nhiều sản phảm chất lượng cao và độc đáo như gạo thơm, gạo đồ
nhưng nhiều người tiêu dùng thế giới lại không biết đến. Họ tưởng chỉ Thái Lan mới có,
vì chúng ta chưa sớm xây dựng thương hiệu cho những mặt hàng độc đáo này.
c) Những hạn chế, khó khăn trong tình hình xuất khẩu gạo của nước ta hiện nay
Năm 2008, thị trường nông sản vẫn trong thế cung không đủ cầu, nhu cầu của thế
giới về mặt hàng gạo vẫn rất lớn. Xuất khẩu gạo không lo về thị trường, không lo bán giá
thấp. Vấn đề quan trọng là phải chỉ đạo sản xuất tốt để có thêm lượng hàng cho xuất
khẩu. Theo đánh giá thì tình hình xuất khẩu gạo đang tiến triển tốt, tuy nhien các doanh