A.VẤN ĐỀ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA KINH TẾ
VIỆT NAM
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm gần đây
đã trở thành đề tài được đông đảo các nhà chính trị, các học giả, các nhà kinh
doanh và dân chúng quan tâm đặc biệt. Có những ý kiến rất khác nhau khi đánh giá
quá trình này. Bản báo cáo này muốn xem xét quá trình toàn cầu hoá kinh tế và hội
nhập kinh tế quốc tế về cả phương diện lý luận và thực tiễn đồng thời phân tích
những thời cơ và thách thức đối với các nước đang phát triển.
I. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Các định nghĩa
Thuật ngữ toàn cầu hoá (Globalization) đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm
1961. Trước đó khái niệm hội nhập toàn cầu (Global Integration) đã được sử dụng
với ý nghĩa tương tự toàn cầu hoá. Do vậy có thể xem toàn cầu hoá và hội nhập
toàn cầu là những khái niệm tương đồng nhau.
Tuỳ theo cách hiểu nội dung toàn cầu hoá mà xác định thời điểm toàn cầu
hoá bắt đầu và cái đích mà nó đi tới cùng với những hình thức thực hiện đa dạng.
Nếu hiểu toàn cầu hoá là những mối quan hệ kinh tế vượt ra ngoài biên giới quốc
gia thì toàn cầu hoá đã bắt đầu từ rất sớm. Nếu hiểu đó là những quan hệ kinh tế
quốc tế phát triển tới quy mô toàn cầu, thì toàn cầu hoá lại chỉ bắt đầu từ đầu thế
kỷ 20, khi CNTB chuyển từ CNTB tự do cạnh tranh sang CNĐQ. Nhưng nếu hiểu
toàn cầu hoá là quá trình quốc tế hoá kinh tế trên quy mô toàn cầu, bao gồm hai
quá trình song song - tự do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế, phải tuân theo những
cam kết toàn cầu, thì quá trình này mới thực sự bắt đầu từ thập kỷ 90. Nhưng dù
hiểu khác nhau, nhưng cái đích cuối cùng mà quá trình toàn cầu hoá hướng tới là
một nền kinh tế toàn cầu thống nhất không còn biên giới quốc gia về kinh tế.
Hội nhập quốc tế có thể có ba cấp độ; Hội nhập toàn cầu (WTO); Hội nhập
khu vực (EU) và song phương. Hội nhập khu vực và song phương không đồng
nghĩa với toàn cầu hoá, mà là những nấc thang tiến tới toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá và hội nhập có thể có nhiều mặt: chính trị, an ninh, kinh tế,
văn hoá. Nhưng cho tới nay, thì toàn cầu hoá và hội nhập tiến triển mạnh nhất và
rõ nét nhất là toàn cầu hoá và hội nhập về kinh tế.
kinh tế toàn cầu, không còn biên giới.
2. Những cơ sở thực tế
2.1. Một nền công nghệ toàn cầu đang xuất hiện
Nền công nghệ cơ khí về cơ bản vẫn là một nền công nghệ có tính quốc gia,
vì nó luôn phải lấy thị trường trong nước làm chính. Hiệu năng của nền công nghệ
cơ khí chưa cho phép các quan hệ kinh tế quốc tế có thể phát triển xa hơn xét về
mặt hiệu quả kinh tế.
Nhưng trong những thập kỷ gần đây công nghệ thông tin và vận tải đã có
những tiến bộ vượt bậc, đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và
giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống tới vài trăm lần. Tiến bộ công nghệ này đã
1
Grahane Thonpdion: Introsuctron, Sitmating Globalization, International Social Siences Journal, Unesco,
1999, N.160, P.139-152.
2
Chủ tịch quỹ Ford Berresford, 1997
3
Flie Cohen, Toàn cầu hóa, sự hấp dẫn và cơ chế điều tiết, Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia
Pháp, Hội thảo khoa học "Những thách thức về phương diện pháp lý của quá trình toàn cầu hóa",
file://E:\NDVF\SITES/Viét\Sites\logo.htm.
2
có tác động cực kỳ quan trọng đến toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tế, nó đã biến
các công nghệ có tính quốc gia thành công nghệ toàn cầu. Các công nghệ sản xuất
xe máy, ô tô, máy tính điện tử, máy bay đã ngày càng có tính toàn cầu sâu rộng.
Tính toàn cầu này đã thể hiện ngay từ khâu sản xuất (được phân công chuyên môn
hoá ở nhiều nước) đến khâu phân phối (tiêu thụ toàn cầu). Những công nghệ ngay
khi ra đời đã có tính toàn cầu như công nghệ vệ tinh viễn thông đã hiện diện.
Chính công nghệ toàn cầu này là cơ sở quan trọng đầu tiên, đặt nền móng
cho sự đẩy mạnh quá trình toàn cầu hoá. Nhờ có công nghệ phát triển, sự hợp tác
giữa các quốc gia, các tập đoàn có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối dịch vụ
trên phạm vi toàn cầu, những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển.
còn có thể có những căn cứ khác như: chiến tranh lạnh chấm dứt vào đầu thập kỷ
90 đã chấm dứt sự đối đầu giữa các siêu cường tạo ra một thời kỳ hoà bình, hợp tác
và phát triển mới v.v.
II. SỰ TIẾN TRIỂN THỰC TẾ CỦA TOÀN CẦU HOÁ KINH TẾ VÀ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ
Khi xem xét quá trình tiến triển thực tế của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế đã có những ý kiến khác nhau.
Không ít các học giả đã cho rằng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã
bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và đến nay đã có ba làn sóng TCH
4
.
Làn sóng thứ nhất bắt đầu từ thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ hai với
những đặc trưng là: mậu dịch quốc tế phát triển mạnh mẽ, các luồng vốn đầu tư
tăng nhanh, gia tăng di cư liên lục địa; bắt đầu thực hiện phương pháp sản xuất
Taylor; các nước TBCN đi xâm chiếm thuộc địa, chiếm lĩnh thị trường; các công
ty xuyên quốc gia xuất hiện; các tàu biển đang phát triển cùng với đường sắt.
Làn sóng toàn cầu hoá thứ hai từ sau chiến tranh thế giới thứ hai tới cuối
thập niên 60. Làn sóng này có những đặc trưng sau: sự hình thành và phát triển của
hai khối kinh tế đối lập nhau: khối kinh tế TBCN và khối kinh tế XHCN; các thể
chế liên kết kinh tế toàn cầu và khu vực phát triển mạnh, sự ra đời của Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GAT) có chức năng điều phối hoạt động tiền tệ tài chính và thương mại toàn
cầu; các luồng thương mại, dịch vụ, đầu tư trực tiếp và gián tiếp, công nghệ và lao
động gia tăng mạnh về cả tốc độ và quy mô; bùng nổ các công ty siêu quốc gia.
Làn sóng thứ ba từ thập niên 70 tới nay với những đặc trưng là: Hệ thống
tiền tệ thế giới chuyển sang thả nổi; kinh tế thế giới trải qua các chấn động lớn như
giá dầu mỏ tăng cao trong thập niên 70; lạm phát cao; thâm hụt ngân sách lớn;
Liên Xô sụp đổ, hệ thống XHCN tan rã; chiến tranh lạnh chấm dứt; các ngành
công nghệ cao đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển, GAT chuyển thành tổ
chức thương mại thế giới (WTO) v.v
chứng khoán EU đã ký thoả thuận thành lập một thị trường chứng khoán duy nhất.
c) Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia
Các công ty xuyên quốc gia kinh doanh toàn cầu đã gia tăng nhanh chóng và
ngày càng trở thành những chủ thể cơ bản chi phối nền kinh tế toàn cầu. Nếu năm
1914, tại 14 nước đứng đầu thế giới có 7,3 ngàn công ty xuyên quốc gia với 27,3
ngàn chi nhánh tại nước ngoài, thì năm 2005 đã tăng lên tới 70 ngàn với 690 ngàn
chi nhánh và tập trung chủ yếu ở các nước phát triển (UNCTAD, 2005). Ngày nay
các nước đang phát triển cũng có các công ty này. Theo báo cáo đầu tư thế giới
1998 của LHQ, thì các nước đang phát triển đã có 10.165 công ty xuyên quốc gia.
500 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới tập trung ở các nước phát triển,
nhiều nhất ở Mỹ và Nhật. Ngày nay không chỉ có các đại công ty mới hoạt động
5
Toàn cầu hóa - quan điểm và thực tiễn, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Nxb Thống kê,
HN, 1999.
5
xuyên quốc gia, mà ngày càng xuất hiện các công ty nhỏ và vừa cũng hoạt động
kinh doanh xuyên quốc gia. Các công ty xuyên quốc gia có vai trò chi phối trong
các quan hệ toàn cầu về thương mại, đầu tư, tài chính, tiền tệ và công nghệ với tỷ
trọng vào khoảng 60- 90% tổng giá trị toàn cầu.
d) Các nhà nước quốc gia với chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế đang
ngày càng trở thành những chủ thể quan trọng của toàn cầu hoá.
Từ cuối thập kỷ 80, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, hầu hết các nhà nước
quốc gia đi theo kinh tế kế hoạch từ chối mở cửa hội nhập quốc tế đã bắt đầu thời
kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế.
Các Nhà nước quốc gia nói chung cho đến nay đã chấp nhận toàn cầu hoá và
Hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy đã tham gia IMF, WB và WTO, và các tổ chức
kinh tế khu vực. Số nước đứng ngoài các tổ chức này ngày càng ít.
Các nhà nước quốc gia trong điều kiện toàn cầu hoá phát triển đã có những
chức năng mới mà trước đây không có, đó là:
- Tham gia đàm phán quốc tế, song phương, đa phương hay toàn cầu để hình
6
.
e) Các tổ chức kinh tế toàn cầu gia tăng hoạt động
Tháng 12/1945 Hiệp định chính thức thành lập các tổ chức: Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển (IBRD) tiền thân của Ngân hàng
thế giới (WB), Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GAT), tiền thân của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã được ký kết. IBRD đã chính thức đi vào
hoạt động tháng 6/1946. IMF chính thức hoạt động 3/1947. GAT cũng chính thức
hoạt động vào 1947. Những tổ chức kinh tế toàn cầu này đã thu hút hầu hết các
quốc gia và các nền kinh tế lớn nhỏ tham gia, có chức năng điều tiết các hoạt động
tiền tệ, tài chính, thương mại toàn cầu theo các nguyên tắc đã được thoả thuận.
Đánh giá hoạt động của IMF, WB, WTO.
Hiện đang có những đánh giá khác nhau về các tổ chức này không chỉ ở các
nước đang phát triển, mà ngay cả ở những nước phát triển cao như Mỹ.
Những ý kiến phê phán các tổ chức này bao gồm:
a) Những tổ chức này do các cường quốc phương Tây lập ra và chi phối,
phục vụ cho các lợi ích của các nước phương Tây.
Ý kiến phê phán này là thực tế. Các tổ chức IMF, WB, GAT do Mỹ và các
nước phương Tây lập ra và chỉ phục vụ cho lợi ích của Mỹ và các nước phương
Tây, đồng thời đối đầu với hệ thống XHCN và những lực lượng ủng hộ. Nhưng từ
sau khi hệ thống XHCN thế giới tan rã, chiến tranh lạnh chấm dứt, thế giới chuyển
sang thời kỳ phát triển mới mà xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển trở thành xu thế
chủ đạo, không còn sự đối đầu giữa hai hệ thống xã hội, hầu hết các quốc gia đã
trở thành đối tác của nhau. Trong tình hình đó các tổ chức IMF, WB, GAT đã điều
chỉnh hoạt động, không đối đầu và phân biệt đối xử, hoặc chỉ phục vụ cho lợi ích
của một nhóm nước như trước nữa, mà đã ngày càng có tính chất toàn cầu hơn.
b) Hoạt động của các tổ chức này không hiệu quả, không đạt được những
mục tiêu đặt ra như mục tiêu xoá đói giảm nghèo; khoảng cách thu nhập giữa các
6
Đối phó với nạn chống toàn cầu hóa, Jaydish Bhagwati, Foreign Sffairs, Vol 81, No.1, Jamuary/2002
- Hoạt động hỗ trợ tài chính của IMF và WB cho các quốc gia khi gặp khó
khăn là hoàn toàn cần thiết và trên thực tế đã có những tác động ích cực rõ rệt đối
với sự phát triển của các quốc gia này.
- Hoạt động tư vấn chính sách, các chương trình cải cách cơ cấu của IMF
WB dựa trên cơ sở thoả thuận với các quốc gia nhận tài trợ, không có tính bắt
buộc, nghĩa là các quốc gia có thể bác bỏ các điều kiện nhận tài trợ và không nhận
tài trợ. Malayxia năm 1997 không nhận tài trợ và bác bỏ chương trình cải cách cơ
cấu của IMF là một ví dụ.
8
- Các chương trình cải cách cơ cấu và hoạt động tư vấn của IMF và WB nói
chung là dựa trên các nguyên tắc của thị trường và hội nhập quốc tế, tuy nhiên có
thể có những giải pháp mà IMF và WB đề xuất đã không phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể của các nước nhận tài trợ, và đã có những tác động tiêu cực. Đây cũng là
một lý do làm cho một số chương trình của IMF đã không được hoàn tất. Nhìn
chung các chương trình cải cách cơ cấu này đã có những tác động tích cực. Việt
Nam đã nhận tài trợ của IMF theo chương trình cải cách cơ cấu và chương trình
này đã có những tác động tích cực rõ rệt.
IMF, WB, và WTO cần phải được đổi mới phù hợp hơn với tình hình
IMF, WB, WTO đang tự đổi mới theo hướng tăng cường thông tin, dự báo,
ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô; phòng ngừa
khủng hoảng lây lan bằng cách hỗ trợ tài chính ngắn hạn cho các nước có thể bị lây
lan khủng hoảng; gia tăng quản lý giám sát các rủi ro; tiếp tục thực hiện các
chương trình cải cách cơ cấu nhưng theo hướng phù hợp hơn với hoàn cảnh cụ thể
của từng nước và chú trọng nhiều hơn tới xoá đói giảm nghèo v.v
Tuy nhiên hiện đang có quá nhiều vấn đề đặt ra vượt ra khỏi khuôn khổ của
IMF, WB và WTO. Những vấn đề đó là:
- Nền kinh tế thế giới ngày càng toàn cầu hoá sâu rộng, các quan hệ tiền tệ -
tài chính phát triển mau lẹ, nhưng trên thế giới lại có quá nhiều đồng tiền khác
nhau với những tỷ giá thả nổi, và những chính sách tiền tệ, tài chính khác biệt nhau
của các quốc gia. Với các chức năng hạn chế hiện nay, IMF và WB khó có thể ứng
Có thể có những điều kiện sau đây:
1) Quá trình toàn cầu hoá phát triển đòi hỏi phải gia tăng tự do hoá kinh tế
và hội nhập quốc tế hơn, nhưng vì rất nhiều lý do khó có thể đạt được sự thống
nhất toàn cầu về mức độ tự do hoá và hội nhập. Trong điều kiện đó hội nhập kinh
tế khu vực xuất hiện, tạo ra các khối kinh tế khu vực có mức độ tự do hoá và hội
nhập kinh tế cao hơn hẳn mức độ hội nhập toàn cầu.
2) Có những sức ép bên ngoài khu vực đòi hỏi các quốc gia trong khu vực
phải hội nhập lại để thống nhất chính sách, hành động đối phó với các thế lực đó.
Chẳng hạn khi EU ra đời, Mỹ phải hành động lập ra khối NAFTA để đối trọng lại.
Các quốc gia ASEAN là những nước không lớn phải hội nhập lại để đối phó với
những thách thức của các nước lớn trong khu vực.
3) Kinh tế thị trường, quan hệ thương mại và đầu tư giữa các quốc gia trong
khu vực phát triển đến một mức độ nhất định đòi hỏi phải hội nhập khu vực.
4) Phải có một số nước có trình độ phát triển kinh tế cao, có tiềm lực kinh tế
thị trường lớn ở trong hoặc ngoài khu vực làm chỗ dựa. Chỗ dựa này càng mạnh,
thì khối kinh tế đó càng vững vàng.
5) Không có những đối đầu về chính trị và an ninh, mặc dù có thể có những
khác biệt, thậm chí tranh chấp.
EU và NAFTA ra đời và phát triển với đầy đủ những điều kiện trên đây. Các
khối kinh tế của các nước đang phát triển ra đời với sự phát triển không đầy đủ của
những điều kiện trên. Chính sự không chín muồi đó đã quy định trình độ hợp tác
kinh tế yếu kém của các khối kinh tế của các nước đang phát triển.
10
IV. HỘI NHẬP KINH TẾ SONG PHƯƠNG
Quá trình toàn cầu hoá đến thập kỷ 90 đã phát triển trên hai bình diện- toàn
cầu và khu vực. Nhưng cho đến nay những thoả thuận đạt được trong WTO và các
khối khu vực đã không đáp ứng được các yêu cầu phát triển. Do vậy một bình diện
mới xuất hiện - đó là các Hiệp nghị thương mại tự do song phương (FTA). Nếu
xem xét mức độ tự do hoá, nói chung các FTA song phương có mức độ tự do hoá
cao nhất, sau đó đến các FTA khu vực, và cuối cùng là các Hiệp nghị của WTO.
TẾ
Tình thế phát triển mới của nước ta tự nhiên làm nẩy sinh câu hỏi: Liệu cách
thức phát triển kinh tế đã mang lại những thành tựu to lớn trong 25 năm qua có tiếp
tục bảo đảm cho Việt Nam gặt hái thành công trong 15-20 năm tới, khi nền kinh tế
đã “thị trường đầy đủ hơn”, hội nhập toàn diện và sâu hơn vào nền kinh tế thế giới
TCH và chuyển ngày càng nhanh sang kinh tế tri thức?
Nếu câu trả lời là "không" thì vấn đề đặt ra tiếp theo là: cách thức nào sẽ
giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển để “về cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”?
Trong điều kiện thế giới thay đổi nhanh chóng, thực chất và nội dung của
quan niệm CNH mang những nét mới căn bản so với trước. Không tiếp cận quan
niệm mới này, không đưa ra được một lý luận mới về CNH trong điều kiện thực tế
ngày nay, khó định hướng chiến lược và xây dựng các chính sách CNH phù hợp
với xu hướng thời đại.
I. BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ ĐIỀU KIỆN XUẤT PHÁT
1. Bối cảnh quốc tế mới
1.1. Những xu hướng cơ bản vẫn được khẳng định, nhưng có những biểu
hiện, động thái và tác động mới.
- Xu thế phát triển kinh tế tri thức: chuyển sang một nhịp mới về chất, sẽ
được thúc đẩy rất mạnh ở nhóm các “cường quốc kinh tế mới nổi” là Trung Quốc,
Ấn Độ, Nga, Nam Phi (BRICS), tạo nên một cuộc đua tranh - cạnh tranh khoa học
- công nghệ quyết liệt giữa các nền kinh tế dẫn đầu thế giới.
Xu hướng này sẽ là một động lực phát triển mạnh của kinh tế thế giới trong
những thập niên tới, có tác dụng làm chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu
thị trường toàn cầu, mở ra những cơ hội và lựa chọn mới.
- Xu thế toàn cầu hoá:
+ Liên kết kinh tế xuyên quốc gia tiếp tục được đẩy mạnh.
+ Vai trò chi phối mạng kinh tế toàn cầu của các TNCs tiếp tục được khẳng
định. Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tương quan sức mạnh
giữa các TNCs; giữa các nhóm TNCs quốc gia đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ,
Sự lưu ý đặc biệt này gắn với xu thế gia tăng mạnh mẽ và hầu như không ngăn cản
được vai trò và vị thế ảnh hưởng của Trung Quốc trong hệ thống kinh tế toàn cầu.
Đi liền với sự gia tăng đó và cấu thành trục chính của nó là xu hướng lên giá của
đồng nhân dân tệ - là yếu tố tạo nên sức thúc đẩy mạnh mẽ dòng đầu tư từ Trung
Quốc ra bên ngoài.
Dòng đầu tư đó hiện đang diễn ra dưới hai hình thức chính là:
- Mua lại công ty (tập trung mua lại các công ty lớn, mục tiêu ưu tiên là các
công ty và tập đoàn tài chính, của các nước phát triển.
13
- Đầu tư khai thác tài nguyên ở nước ngoài, đầu tư di chuyển công nghệ thấp
ra nước ngoài, trong đó, địa chỉ “đến” ưu tiên là ASEAN (Việt Nam).
Bên cạnh xu hướng phát triển công nghệ cao được thúc đẩy mạnh mẽ ở các
nước phát triển, diễn ra quá trình di chuyển công nghệ trên quy mô lớn (cực lớn)
theo hai xu hướng: Một là di chuyển mạnh công nghệ cao về phía BRIC; Hai là di
chuyển mạnh công nghệ thấp từ Trung Quốc sang các nền kinh tế đẳng cấp thấp
hơn (dòng chính: từ Trung Quốc sang ASEAN/Việt Nam).
Các xu hướng di chuyển vốn và công nghệ nói trên tác động rất mạnh đến: i)
Hướng và chất lượng các dòng đầu tư nước ngoài; ii) Các hệ quả xã hội (di chuyển
lao động) và môi trường (ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên) to lớn, nhất là đối với
những nước nghèo đi sau.
1.3. Triển vọng phục hồi của kinh tế thế giới sau khủng hoảng
- Tổn thất tài chính và kinh tế do khủng hoảng gây ra là rất lớn;
- Quá trình phục hồi tăng trưởng và ổn định cơ cấu diễn ra chậm, không trơn
tru mà có thể “trồi sụt” theo hình chữ W, dự báo kéo dài 5-7 năm.
- Nguy cơ lạm phát và bất ổn sau nỗ lực cứu trợ bằng việc đổ ra một khối
lượng tiền khổng lồ (biến động cung cầu và giá cả trên thị trường thế giới).
- Quá trình tái cấu trúc kinh tế toàn cầu được đẩy mạnh, tạo thành một động
lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới toàn diện của thế giới.
II. QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VÀ MỤC TIÊU TỔNG
QUÁT
Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ. Củng cố,
phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có
chung biên giới. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng
Cộng đồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối tác, tiếp tục giữ
vai trò quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á – Thái Bình
Dương. Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các
đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ
vững độc lập, tự chủ và hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển (so với Đại hội
X có bổ sung quan hệ với những đảng khác và trên thực tế những năm qua, chúng
ta đã có quan hệ với một số đảng khác, nhưng trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia,
giữ vững độc lập, tự chủ, và hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển).
Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà
nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của
Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với
ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hoá; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh.
2. Mục tiêu tổng quát
Việt Nam có cơ sở để xác định mục tiêu "đến năm 2020, về cơ bản đưa
nước Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại". Tuy nhiên, căn
cứ vào bối cảnh, trạng thái xuất phát và điều kiện phát triển mới, cần nhìn nhận lại
để điều chỉnh định hướng ưu tiên về chất lượng và số lượng tăng trưởng trong hệ
mục tiêu.
3. Đặc trưng chiến lược
15
Cơ sở xác định tư tưởng chiến lược là các yêu cầu i) phát triển nhanh bền
vững, ii) thoát khỏi tụt hậu phát triển và iii) trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại.
Xuất phát từ bối cảnh và thực trạng xuất phát, căn cứ vào mục tiêu tổng
quát, chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2020 cần đáp ứng 4 yêu cầu cơ bản:
Tính đổi mới; Tính thích ứng; Tính đột phá; Tính bền vững.
Đây cũng là 4 đặc trưng chiến lược. Chúng tạo thành sự khác biệt chủ yếu
nói trên, bên cạnh việc có một mô hình tăng trưởng phù hợp (là trục "bất biến"),
cấu trúc kinh tế cần có khả năng thích ứng cao (năng lực "vạn biến"). Để đáp ứng
được yêu cầu đó, chiến lược phải bảo đảm:
- Năng lực dự báo xu hướng lớn và dự báo khả năng sẩy ra các biến cố bất
thường; năng lực tiếp nhận cảnh báo và khả năng chuyển hoá dự báo - cảnh báo
thành các chính sách và giải pháp ứng phó.
- Năng lực điều hành và quản trị phát triển chiến lược trong điều kiện hội
nhập kinh tế toàn cầu.
- Năng lực quản trị kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh
tranh và hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển sang thời đại công nghệ cao.
3.3. Tính đột phá
Đột phá phát triển là yếu tố chính tạo sự khác biệt của chiến lược lần này với
các chiến lược đã từng có. Cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển mang tính đột
phá cao bắt nguồn từ hoàn cảnh và điều kiện phát triển khác biệt là:
- Hội nhập quốc tế tạo thời cơ tận dụng sức mạnh thúc đẩy của các xu thế
lớn, của các nguồn lực phát triển quốc tế to lớn, thúc đẩy gia nhập vào hệ thống
phân công lao động mới toàn cầu và khu vực (thông qua hình thái chuỗi giá trị gia
tăng toàn cầu) và tiến nhanh hơn trên các nấc thang của chuỗi sản xuất đó;
- Không gian phát triển mở rộng [không gian kinh tế "hậu WTO" + không
gian chiến lược biển], cho phép định hình hướng chuyển dịch cơ cấu rõ hơn.
- Các điều kiện đột phá (vốn, công nghệ, thị trường, nhân lực) tương đối sẵn
có và Việt Nam đang là điểm hội tụ. Còn lại là vấn đề thể chế tạo đột phá - là vấn
đề thuộc khả năng và quyết tâm của Việt Nam.
- Những đòi hỏi từ bên trong (cải cách thể chế, thu hẹp khoảng cách tụt hậu)
và các điều kiện cho phép (các toạ độ bùng nổ phát triển vùng - ngành).
Đột phá phát triển chính là hiện thực hoá các cơ hội phát triển lớn mà thành
quả hơn 20 năm đổi mới và thời đại tạo ra cho chúng ta.
Có thể định hướng hai nhóm đột phá:
- Đột phá thể chế: gồm
i) Thúc đẩy phát triển một số thị trường trọng điểm, tạo cơ sở cho hệ thống
***
Trên đây là một số vấn đề cơ bản về kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam. Do đây là một mô hình phát triển mới, đang trong giai đoạn thử nghiệm
và định hình bản chất nên sự nhận thức về nó vẫn còn nhiều thiếu sót và chưa
mang tính hệ thống đầy đủ. Tình hình này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu
lý luận một cách cơ bản, tích cực tổng kết thực tiễn sống động của thế giới và của
nước ta để nhanh chóng xây dựng khung lý luận về mô hình phát triển này. Chỉ
trên cơ sở đó, quá trình hoạch định đường lối, chiến lược và chính sách phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng như tổ chức thực hiện chúng mới
18
nhanh chóng thoát khỏi sự mò mẫm, kinh nghiệm và đối phó kéo dài, đưa nền kinh
tế tiến những bước vững chắc trên con đường đã chọn.
C.TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC CỦA
VIỆT NAM
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, thế giới đã có nhiều biến đổi to lớn,
xuất hiện nhiều các khu vực kinh tế khổng lồ như : Liên minh châu âu (EU), Khối
thị trường chung khu vực Đông và Nam Phi, tổ chức thương mại thế giới WTO…
Sự xuất hiện của các khu vực và tổ chức kinh tế này là kết quả của xu thế khu vực
hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Đây là sự liên kết giữa các quốc gia với
nhau nhằm mục đích mang lại một khối lượng sản phẩm thế giới lớn hơn, thỏa mãn
nhu cầu cao hơn cho mỗi quốc gia.
Đứng trước đòi hỏi cấp bách của tình hình kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đang cố
gắng thay đổi một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp trước đây bằng một nền
kinh tế mở của hòa nhập với vận hội phát triển kinh tế thế giới. Việt Nam với
đường lối đổi mới và hòa nhập kinh tế quốc tế đúng đắn đã đi những bước đi thành
công và vững chắc trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của mình.
Ngày 17/10/1994 Việt Nam chính thức gửi đơn gia nhập Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN), từ ngày 25/7/1995 đã chính thức tham gia tổ chức này và
từ 1/1/1996 bắt đầu thi hành nghĩa vụ thành viên chính thức của khu vực mậu dịch
tự do ASEAN.
hàng trăm biện pháp trong Kế hoạch Tổng thể Thực hiện Cộng đồng Kinh tế
ASEAN đến năm 2015 đã từng bước tạo nên một Cộng đồng Kinh tế phát triển
năng động hàng đầu trên thế giới.
Đối với Việt Nam, ASEAN là một trong những trụ cột quan trọng trong tiến trình
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ
động hội nhập khu vực và quốc tế. Về mặt kinh tế, AEC là một lựa chọn chính
sách mang tầm chiến lược của ASEAN nhưng xuất phát điểm là mong muốn hội
nhập kinh tế của mỗi thành viên, trong đó có Việt Nam. ASEAN là một trong các
đối tác thương mại quan trọng hàng đầu và là động lực quan trọng giúp nền kinh tế
Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu trong nhiều năm qua. Với lợi thế
là một khu vực phát triển năng động, gần gũi về địa lý, quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và ASEAN có mức tăng trưởng cao.
So với năm 2003, thương mại hai chiều ASEAN và Việt Nam đã tăng gần 4 lần,
đạt 35,3 tỷ USD vào năm 2011, ASEAN chiếm khoảng 18% tổng kim ngạch
thương mại của Việt Nam. Cũng trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
trung bình của Việt Nam sang ASEAN khoảng 23% và nhập khẩu là 19%. Trong
nhiều năm, ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, vượt lên trên cả
EU, Nhật Bản hay Hoa Kỳ. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN tăng
từ 2,9 tỷ USD năm 2003 lên tới 14,1 tỷ USD năm 2011.
Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đang chuyển biến theo chiều hướng
tích cực, được nâng cao cả về chất lượng và giá trị. Từ những mặt hàng nông sản
sơ chế và nguyên liệu như gạo, cà phê, cao su, dầu thô có hàm lượng chế tác thấp,
nước ta đã xuất khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp như linh kiện
máy tính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm với giá trị cao và ổn định. Việt
Nam và các nước ASEAN khác cùng gia nhập các câu lạc bộ các nước xuất khẩu
lớn nhất trên thế giới về gạo, cao su, cà phê, hạt điều, hàng dệt may. Trong quan hệ
về đầu tư trực tiếp nước ngoài, ASEAN là nguồn FDI lớn cho Việt Nam, đồng thời
20
cũng là cầu nối cho nhiều khoản đầu tư của các công ty đa quốc gia có trụ sở tại
ASEAN. Những thành viên ASEAN có vốn đầu tư lớn vào Việt Nam là Singapore,
Việt Nam chính thức trở thành thành viên ASEAN từ năm 1995. Từ đó đến
nay, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trên nhiều lĩnh vực quan trọng,
trong đó tình hình thương mại giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng phát triển.
Theo thống kê của WTO, năm 2011, vị trí ngoại thương hàng hoá của Việt
Nam được nâng lên 2 bậc, đứng thứ 36 trên thế giới, trong đó xuất khẩu ở vị
trí 41 và nhập khẩu là 33. Trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),
Việt Nam vẫn duy trì vị trí thứ 5, nhưng tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam
(34,2%) cao hơn nhiều so với mức tăng xuất khẩu chung của cả khối (khoảng
18%)
21
Bảng 1: Kim ngạch, tốc độ tăng/giảm xuất khẩu, nhập khẩu
của các nước ASEAN năm 2011
Tên nước
Xuất khẩu Nhập khẩu
Kim
ngạch (Tỷ US
D)
Tăng/giảm so
với năm 2010
(%)
Kim
ngạch (Tỷ USD)
Tăng/giảm so
với năm 2010
(%)
Singapore
409,5
16,4
365,8
17,7
Myanmar (E
)
10,5
20,0
7,2
49,8
Cambodia (
E)
7,0
35,1
9,3
37,0
Lao PDR
(E)
2,4
37,4
2,7
28,6
Nguồn: WTO và Tổng cục Hải quan
Ghi chú: (E) Số liệu theo ước tính của WTO
Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng trị giá trao
đổi hàng hoá giữa Việt Nam và các nước ASEAN trong 2 quý đầu năm 2012 tăng
8,8% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 17,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
của cả nước.
Biểu đồ 1: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương
mại giữa Việt Nam và ASEAN 6 tháng đầu năm 2008 – 2012
22
Nguồn: Tổng cục Hải quan
(Ghi chú: Thực hiện theo Quyết định số 111/2008/QĐ-TTg ngày 15/8/2008
của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 01/01/2009 nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam
đối tác chính nhập khẩu các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như gạo;
dầu thô; xăng dầu các loại; sắt thép; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện;…
Bảng 2: Kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính
của Việt Nam sang ASEAN 6 tháng đầu năm 2012
24
(Đơn vị tính: triệu USD)
Stt Tên hàng
6 tháng
/2011
6 tháng
/2012
Tốc độ
tăng/giảm
(%)
1
Tỷ trọng so
với cả nước
(%)
2
1 Dầu thô 804 716 -10,9 19,0
2
Điện thoại các loại và linh
kiện
236 639 170,8 12,7
3
Máy vi tính, Sản phẩm điện
tử & linh kiện
261 639 144,8 18,9
4 Sắt thép các loại 473 634 34,1 82,4
5 Gạo 947 623 -34,2 35,6