BÀI TIỂU LUẬN--Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm Vân chi - Pdf 28

PHẦN I. MỞ ĐẦU
I.1. Đăt vấn đề
Nấm từ rất lâu đã được biết đến như là một nguồn thức ăn dinh dưỡng giàu
đạm, chất xơ, vitamin Nấm có ý nghĩa quan trọng trong đời sống con người, chúng
có vai trò trong nền kinh tế, khoa học và các chu trình vật chất, năng lượng trong
thiên nhiên. Một số loài nấm được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm. Từ hàng
ngàn năm qua, ở châu Á, cả nấm ăn được và nấm không ăn được đều được sử dụng
vì mục đích dinh dưỡng, bồi bổ khí huyết hoặc làm thuốc. Người ta dùng tất cả các
bộ phận của nấm Càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều dược chất có tính
miễn dịch từ nấm. Quá trình tìm kiếm dược phẩm miễn dịch đã diễn ra ở châu Á
(nhất là các nước Trung Quốc, Nhật Bản) từ rất lâu nhưng ở Phương Tây còn chưa
chú trọng lắm. Những năm gần đây nấm được đề cập đến như một nguồn dược liệu
quý giá có khả năng chữa trị được nhiều bệnh như nấm Linh chi (Ganoderma
lucidium), nấm hầu thủ (Hericium enrinaceum)… Khoa học phát triển, dược tính
của nấm ngày càng được phát hiện nhiều.
Nấm Vân chi Trametes versicolor là một loại nấm dược liệu được sử dụng lâu
đời trong truyền thống Phương Đông với nhiều tác dụng kì diệu. Người ta biết đến
hiệu quả chữa bệnh của nấm Vân chi thông qua hai hợp chất chính trích từ nấm
này là PSP (polysaccharide peptide) và PSK (polysaccharide Kureha). Các chất này
được coi là có khả năng chữa trị ung thư, tăng miễn dịch cơ thể, chống các phản
ứng phụ của xạ trị và hoá trị, ức chế sự nhân lên của HIV… Do đó việc hiểu biết về
đặc điểm sinh học, thành phần hóa dược và tác dụng của nấm Vân chi là điều cần
thiết. Do đó em chọn đề tài “ Tìm hiểu về nấm Vân chi - Trametes versicolor ”
I.2. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu
• Mục tiêu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm Vân chi
- Thành phần các hợp chất sinh học và dược tính của chúng
• Đối tượng nghiên cứu
- Nấm Vân chi Trametes versicolor
I.3. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau: sách, wed…

- Ngành Nấm nhầy tế bào (Acrasiomycota)
- Ngành Nấm nhầy giả (Dictyosteliomycota)
- Ngành Nấm nhầy chính thức (Myxomycota)
- Ngành Nấm nhầy nội kí sinh (Plasmodiophoromycola)
- Ngành Nấm một tiêm mao phía trước (Hyphochytriomycota)
- Ngành Nấm nhầy mạng lưới (Labyrinthulomycota)
- Ngành Nấm trứng (Oomycota)
- Ngành Nấm cổ (Chytridiomycota)
- Ngành Nấm tiếp hợp (Zygomycota)
- Ngành Nấm túi (Ascomycota)
- Ngành Nấm đảm (Basidiomycota)
- Ngành Địa y (Lichenomycota)
2.1.2. Giá trị của nấm
Nấm từ rất lâu đã được biết đến như là một nguồn thức ăn dinh dưỡng giàu
đạm, chất xơ, vitamin và tất cả những chất cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển
và sự sống của một người khoẻ mạnh.
Từ hàng ngàn năm qua, ở châu Á, cả n ấm ăn được và nấm không ăn được đều
được sử d ụng vì mục đích dinh dưỡng, bồi bổ khí huyết hoặc làm thuốc. Người ta
dùng tất cả các bộ phận của nấm.
Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm còn có khả n ăng phòng và trị m ộ t số b ệnh. Càng
ngày người ta càng phát hiện ra nhiều dược chất có tính miễn dịch từ nấm. Quá
trình tìm kiếm dược phẩm miễn dịch đã diễn ra ở châu Á (nhất là các nước Trung
Quốc, Nhật Bản) từ rất lâu nhưng ở Phương Tây còn chưa chú trọng lắm.
Dược phẩm miễn dịch có thể được xem như là chất có hiệu quả trong liệu pháp miễn
dịch khi uống vào. Có hơn 50 loài nấm được xếp vào dạng nấm dược liệu có hoạt
tính chữa bệnh in vitro hay trên các mẫu động vật thí nghiệm. Một số chất trích từ
nấm được phát hiện có hoạt tính tăng cường hệ miễn dịch tiềm năng, hoạt tính
miễn dịch chống lại tế bào ung thư hơn hẳn các hoá dược kháng ung thư. Tất cả
đều không độc, hiệu quả và rất dễ dung nạp. Nổi bậc nhất có 6 nhóm chất sau:
Lentinan, AHCC (trích từ n ấm hương Lentinus edodes), Schizophyllan (Nấm

Hình 1. Hình thái ngoài của nấm Vân chi
Vân chi là loại nấm hàng năm, không cuống, phát triển một bên. Khi non quả thể
có dạng nhiều u lồi tròn, mọc thành dạng vành với mép tán màu trắng, trắng
kem. Nấm trưởng thành có dạng quả giá, chất da hoá gỗ. Quả thể hình nan quạt
có nhiều vân đồng tâm, chồng chất xen kẽ nhau như ngói lợp, nhìn rất giống
đuôi gà tây đang xòe. Mũ nấm mỏng, phẳng hoặc hơi quăn hình bán nguyệt, mọc
thành cụm đường kính từ 1 đến 8cm, dày khoảng 0,1 – 0,3cm. Mặt trên tai nấm
có lớp lông mịn, mền như nhung, có màu sắc rất khác nhau tùy chủng từ đen,
nâu, xám, xanh đến đo đỏ, trắng hay vàng nhạt. Nấm có nhiều màu sắc như đuôi
của gà tây, Quả thể có dạng hình quạt mọc phủ từng lớp trên thân cây mục. Mặt
nấm lớp trên cùng thường có những màu nâu, trắng , xám hay xanh lam; mặt
dưới trắng có mang những bào tử nhỏ Màu sắc các chủng Vân chi phụ thuộc
vào môi trường và hệ di truyền. Mặt dưới tai nấm màu trắng, màu kem hay hơi
xám có hàng ngàn ống nhỏ. Tất cả các chủng Vân chiều có các ống nhỏ ở mặt
dưới, đây là đặc điểm giúp phân biệt Vân chi với nấm Stereum hissutum. Các
ống này rất nhỏ khoảng 4 – 5 ống/mm, có vách ngăn ngang dày. Miệng ống tròn
hay hơi tròn. Các ống này giúp gia tăng diện tích mang bào tử. Thịt nấm màu
trắng hoặc trắng kem, gồm nhiều sợi dày 0,6 – 2,5 mm.
2.2.2. Đặc điểm vi học
Hệ sợi kiểu trimitic, sợi dinh dưỡng trong suốt, có vách mỏng, có khoá rõ
ràng, đường kính cỡ 2,5 – 3 µm; sợi cứng ở vùng thịt nấm có vách rất dày, không
thấy có vách ngăn tế bào, đường kính tới 4 – 6 µm, rất hiếm khi thấy phân
nhánh; sợi bện cũng có vách ngăn ngang, đường kính sợi nhỏ hơn (2 – 4 µm).
Không thấy có liệt bào, song có thấy cystidioles dạng fusoid, kích thước 15 – 20 x
4 – 5 µm, có khoá ở phần gốc. Đảm bào hình chùy có bốn tiểu bính (nơi đính của
bốn bào tử), có khoá ở phần gốc. Bào tử đảm hình trụ, hơi cong hình quả dưa
gang, trong suốt, nhẵn, kích thước 5 – 6 x 1,5 – 2 µm .
2.2.3. Đặc điểm phân bố
Nấm Vân chi mọc tại những vùng ôn đới tại Bắc Mỹ, Á châu và Âu châu và có
lẽ là loại nấm mọc khá mạnh, phát triển khắp vùng Bắc Bán cầu.

Coumarin +
Chất khử + +
Flavonoid - -
Saponin + +
Tanin + +
Tinh dầu -
Polyphenol +
Hợp chất polyuronic +
Polysaccharide + +
Acid amin + +
Ghi chú: +: dương tính; -: âm tính
Trong thành phần nấm Vân chi có acid hữu cơ, alcaloid, chất khử,
triterpenoid, coumarin, saponin, tanin, polyphenol, hợp chất uronic, acid amin và
polysaccharide. Trong đó polysaccharide là thành phần dược tính được quan tâm,
nghiên cứu nhiều nhất. Các polysaccharide của nấm Vân chi có độ bền cao với nhiệt
độ và ánh sáng, tồn tại lâu trong cơ thể và đặc biệt chưa được phát hiện có tác
dụng phụ gì, cả đối với phụ nữ mang thai, vì vậy rất thích hợp cho nhiều liệu pháp
điều trị. Chúng có thể được tách chiết từ quả thể hoặc sợi nấm Vân chi bằng
phương pháp dùng nước nóng.
Bên cạnh các polysaccharid là các thành phần chính quyết định tác dụng của
nấm Vân chi, trong nấm còn chứa nhiều loại enzym như SOD, cytochrome P-450,
một thành phần quan trọng trong việc khử độc các chất được nhập vào tế bào, và
các chất trao đổi bậc hai có tác dụng ức chế thrombin, chống quá trình đông tụ
máu.
Trong nấm Vân chi có các acid amin chủ yếu như: glutamic, aspartic và một số
acid amin dạng trung hoà. Dịch trích polysaccharide peptide từ nấm (thuật ngữ gọi
là proteoglycan) là những chuỗi polypeptide hay những phân tử protein nhỏ gắn
kết chặt với các chuỗi polysaccharide β-D-glucan, là thành phần hiệu quả trong
chữa trị các chứng ung thư: dạ dày, thực quản, ruột kết và ung thư vú… Các
proteoglycan trích từ nấm Vân chi chủ yếu là liên kết β-D-glucan. Cấu trúc β-D-

hình trong các thử nghiệm độc tính cấp và bán cấp.
2.3.1.2. Dược tính
Năm 1971, hơn 200 dược chất hoá lý có khả năng kháng khối u được chọn lọc
bởi các nhà nghiên cứu Nhật, PSK là liệu pháp chữa trị tốt nhất vì nó bảo vệ hệ
miễn dịch bằng cách trung hoà các thuốc hoá trị và các quá trình gây độc của tế
bào ung thư.
PSK có khả năng tăng cường hoạt động miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch. Khi
PSK được dùng kết hợp với phương pháp xạ trị thí nghiệm trên chuột, người ta
quan sát thấy có sự hồi phục hệ miễn dịch thể dịch đã suy yếu. Các nghiên cứu trên
động vật xác nhận thêm rằng PSK cảm ứng tế bào T diệt và phục hồi lại các thông
số miễn dịch bị suy yếu trong khi đó sẽ ức chế các hợp chất gây ức chế miễn dịch.
PSK ngăn chặn các phản ứng phụ khi dùng kết hợp với các tác nhân hoá trị như 5-
FU (5-fluorouracil), doxorubicin, cyclophosphamide (CPA), tegafur, cis-Blastin và
mitomycin-C (MMC) để chữa trị ung thư, gia tăng khả năng sống còn của các bệnh
nhân ung thư dạ dày ở các giai đoạn III và IV (Kaibara et al, 1970).
PSK kích ứng sự biểu hiện cytokine trong các tế bào máu đơn nhân vùng ngoại vi in
vitro. Sự biểu hiện gen TNF-α (yếu tốgây hoại tử khối u) và interleukin-8 (IL-8)
được cảm ứng mạnh ở những người tình nguyện khoẻ mạnh và những bệnh nhân
ung thư dạ dày khi dùng PSK, mặc dù đáp ứng của mỗi người mỗi khác.
Có tác dụng ngăn chặn sự phát triển khối u in vitro. PSK gia tăng khả năng sống
còn, ức chế sự hình thành và di căn của các tác nhân gây ung thư hoặc các khối u
tạo ra do phóng xạ. PSK cũng ức chế sự phát triển trở lại sau hậu phẫu hoặc sự di
căn các tế bào khối u ởcác mẫu động vật thí nghiệm, cơ chế có lẽ là ngăn chặn sự di
chuyển, sự xâm nhập, sự gắn kết với các tế bào màng trong và sự phát triển. Các kết
quảnghiên cứu cũng cho thấy tác động hỗ trợ hiệu quả giữa PSK và liệu pháp sinh
học gồm vaccin L1210 gắn với concanavalin A (lectin gây phân bào) và kháng thể
đơn dòng chống lại các tế bào ung thư ruột kết.
Thí nghiệm của Pang ZJ và CS đã chứng minh PSK cải thiện hoạt tính enzyme
glutathione peroxidase thông qua sự cảm ứng dịch mã sự biểu hiện của mRNA. PSK
biểu hiện hoạt tính kháng virus và có thể có hiệu quả kháng sự nhiễm HIV bằng

đó sản xuất ra IL-6 và cũng hoạt hoá tế bào bạch cầu để gia tăng quá trình sản xuất
interferon α và γ lên gấp 2 – 4 lần. Gia tăng mạnh mẽ chỉ số thực bào, trị số HC50,
kháng thể ở chuột, tăng PBL từ phase G1 đến phase S, thúc đẩy sự phát sinh PBL.
Thúc đẩy sự phát sinh tế bào lympho T và tế bào tiền tế bào T ở tuyến ức và lách,
tăng cường hoạt tính tế bào lympho B.
PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do khối u gây ra ở động vật. Làm ngưng
quá trình tiêu biến của tuyến ức ở chuột mang bệnh Sarcoma. Trung hoà sự trương
phồng của gan khi mắc bệnh ung thư cổ trướng Ehrlich. Chống lại quá trình ức chế
kháng thể của tế bào ung thư Sarcoma ở chuột. Tăng giá trị bổ thể huyết thanh C3
trong chuột mắc bệnh Sarcoma.
PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do tác dụng của các hoá dược trong điều
trị ung thư. Ức chế quá trình tiêu biến tế bào bạch cầu do cyclophosphamine (CPA)
gây ra và rút ngắn thời gian phục hồi tế bào bạch cầu. Chống lại quá trình ức chế
của CPA trên IL-2 và tế bào T tự sát thương. Phục hồi lại phản ứng mẫn cảm loại
chậm bị ức chế bởi CPA. Dùng kết hợp với các phương pháp hoá trị và xạ trị sẽ làm
giảm các tác dụng phụ của hoá dược và có hiệu quả cao hơn.
PSP ức chế sự phát triển của tế bào ung thư ở người và động vật thí nghiệm. PSP
(50 mg/kg, ip hoặc po) có thể ức chế sự phát triển của Sarcoma 180 ở chuột. PSP
(100 µg/ml) có thể ức chế quá trình tổng hợp nucleic acid của tế bào ung thư cổ
trướng Ehrlich.
Ức chế sự phát triển tế bào ung thư bạch cầu P388, tế bào u tủy, tế bào ung thư
gan, tế bào ung thư phổi Lewis ở chuột. Nó có thể ức chế sự phát triển của tế bào
ung Thư dạ dày, ung thư tuyến phổi ở n gười, ung thư tế bào bạch cầu đơn nhân to,
ung thư mô bạch huyết ở da. Nó cũng gây ra sự tiêu biến tế bào ung thư và sự tích
tụ NST mà không tạo ra bất kỳ độc tố nào trên tế bào fibroblast hay tế bào chủ
(Liang-Zhong Xu, Bao-zhen Zhong, 2003).
Huyết thanh bạch cầu (ALS) có thể được trung hoà. Hoạt tính kháng khối u của PSP
có liên quan với sự gia tăng tế bào lympho T.
Tăng sự sản xuất các hợp chất nitơ trung gian, anion superoxide và yếu tố gây hoại
tử ung thư.

PSK: nâu đậm
Kỹ thuật lên men Nguồn carbon chính
là glucose lên men ở
25
o
C, 3 ngày hoặc
26
o
C, pH = 5 – 7
PSP: nguồn nitơ từ bột đậu nành
PSK: nguồn nitơ từ pepton và cao
nấm men.
Thời gian lên men của PSP (64
giờ) nhanh gấp 3 lần PSK.
Phương pháp chiết Chiết bằng nước
nóng.
PSP: tủa bằng cồn.
PSK: sử dụng phương pháp muối
hoá với (NH4)2SO4 để tủa
Phần đường Galactose,glucose,
mannose, xylose
PSP: arabinose, rhmanose
PSK: fucose
Dược tính
Ngăn chặn sự tổng
hợp acid nucleic của
tế bào Ehrlich ascitic
và sự phát triển của
tế bào ung thư
Sarcoma-180, bạch

không ảnh hưởng
đến
sinh sản.
PSP có thể tạo ra phản ứng độc
bằng cách tập hợp nhiễm sắc thể
của các tế bào ung thư phổi
nhưng
không độc trên chuột bình
thường.
Tác dụng trị liệu Làm giảm độc và
phản ứng phụ của
hoá trị và xạ trị, tăng
chức năng miễn dịch,
tăng hiệu quả chữa
trị, kéo dài tuổi thọ
và tăng chất lượng
cuộc sống.
PSP làm tăng sự thèm ăn, làm
giảm đau.
2.4. Tác dụng của nấm Vân Chi
Nấm Vân chi có tác dụng tăng cường sức đề kháng của cơ thể nên có thể được sử
dụng để điều trị rất nhiều loại bệnh.
• Tác dụng điều trị ung thư:
Từ năm 1970,ở Nhật bản PSK từ nấm Vân chi đã được chứng minh có khả năng
kéo dài thời gian sống thêm 5 năm hoặc hơn cho các bệnh nhân ung thư thuộc
nhiều thể loại: ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư vòm họng, ung thư thực
quản, ung thư phổi và ung thư vú (P.M.Kidd, 2000).
Còn PSP đã được sử dụng để điều trị ung thư giai đoạn 2 và 3 ở Trung Quốc từ lâu.
Polysaccharid này cũng có tác dụng kéo dài thêm thời gian sống ít nhất là 5 năm
cho các bệnh nhân ung thư thực quản. PSP cũng có tác dụng cải thiện sức khỏe,

(1979) trên 230 bệnh nhân (Jpn J Surgery 1979;3:190-196). BS Hattori tại ĐH
Hiroshima, thử trên 110 bệnh nhân, phối hợp hóa chất trị liệu, giải phẫu và PSK đã
tìm thấy thời gian sinh tồn của bệnh nhân tăng thêm được 3 năm. Trong các thử
nghiệm sau đó từ 1982 (BS Komada trên 450 bệnh nhân), 1985 (BS Kondo và
Torisu trên 144 bệnh nhân ung thư giai đoạn 3), 1986 (BS Mitomi và Ogoshi trên
168 bệnh nhân ung thư giai-đoạn 1-4) và 1988 (BS Nimoto trên 579 bệnh nhân)
đều ghi nhận được những kết quả kéo dài thời gian sinh tồn được trên 5 năm.
Trong thập niên 90 các thử nghiệm đã được tiếp tục, tuân theo các phương thức
thống kê của Tây-Y và năm 1994, tập san The Lancet số 343:1122-26 đã công bố
kết quả rất nghiêm túc về việc dùng PSK để trị ung thư dạ dày của nhóm nghiên
cứu Immunochemotherapy tại Nhật, ghi nhận PSK thật sự giúp tăng được thời
gian sinh tồn thêm ít nhất là 5 năm nơi những bệnh nhân ung thư bao tử và điểm
đặc biệt nhất là các bệnh nhân đều không bị các phản ứng phụ của Chemotherapy.
- PSK và ung thư ruột già: Sau khi vai trò trị liệu của PSK được xác nhận nơi bệnh
ung thư dạ dày; PSK đã được thử nghiệm để trị các trường hợp ung thư ruột già
Trong một nghiên cứu kéo dài 8 năm, 111 bệnh nhân ung thư ruột già (giai-đoạn 3
và 4, giai-đoạn Dukes, C) được chia thành 2 nhóm, cho dùng PSK hoặc placebo
3g/ngày trong 2 tháng, sau khi giải-phẫu, rồi giảm xuống 2g/ ngày trong 24
tháng, sau đó 1g/ngày: Kết quả cho thấy PSK giúp cải thiện thời gian sinh tồn đến
8 năm (40% so với 25%) (Cancer Immunology Immunotherapy No 31-1990). Một
nghiên cứu khác, thực hiện tại 35 bệnh viện ở Nhật, từ tháng 3 năm 1985 đến
tháng 2 năm 1987 trên 462 bệnh nhân cũng cho thấy những bệnh nhân dùng thêm
PSK kéo dài được thời gian sinh tồn từ 3-5 năm (Dis Colon Rectum No 35 Feb
1992).
- PSK và ung thư thực quản: Dùng quang tuyến trị liệu trước và sau khi giải phẫu
có thể giúp kéo dài thêm thời gian sống cho các bệnh nhân ung thư thực quản.
Năm 1980 BS Okudaira đã thử dùng PSK trên 133 bệnh nhân và ghi nhận PSK có
thể giúp bệnh nhân sống thêm được từ 1 đến 2 năm. Một thử nghiệm khác, công
bố trên Cancer Investigation No 13-1995 cho thấy trên 158 bệnh nhân PSK có
những tác dụng làm giảm hạ các yếu tố ức chế miễn nhiễm (immuno-suppressive

triệu chứng hệ quả của AIDS như ỉa chảy, viêm phế quản, đau tim, viêm dây thần
kinh, nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, vv…Một số có thể ngừng không cần điều trị với
HAART và có thể quay lại với cuộc sống bình thường, chơi thể thao, làm việc trở lại,
… M. Pfeiffer (2001) đã xây dựng một phác đồ điều trị khá hiệu quả cho các bệnh
nhân HIV dương tính.
Một nghiên cứu đáng lưu ý khác do nhóm của G. Rotolo (1999) thực hiện cũng
chứng minh tác dụng điều trị các biểu hiện thứ cấp trong sự phát triển bệnh ở các
bệnh nhân AIDS . Các bệnh nhân đều trên 35 tuổi, HIV dương tính, được điều trị bổ
sung bằng chế phẩm từ nấm Vân chi. Kết quả cho thấy sau 15 ngày điều trị với hàm
lượng chế phẩm sử dụng là 3g/ngày, số lượng các tế bào bạch cầu trong cơ thể các
bệnh nhân đều tăng lên khoảng 27% so với các trường hợp không được điều trị, và
con số này giảm xuống còn 14,1 % nếu lượng chế phẩm sử dụng cho điều trị được
giảm đi một nửa. Sau 45 ngày điều trị kết hợp cả hai chế độ, số lượng bạch cầu
trong cơ thể các bệnh nhân tăng 45,2%. Từ các kết quả này tác giả khuyến cáo việc
sử dụng chế phẩm từ nấm Vân chi như một liệu pháp chống bệnh AIDS và đề nghị
nghiên cứu sâu hơn về bản chất tác dụng của nấm đối với sự tăng số lượng bạch
cầu.
Hiện nay các nghiên cứu về tác dụng của nấm Vân chi trong phòng chống virus
HIV và bệnh AIDS vẫn đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Các nhà khoa học chủ yếu tập
trung vào các cơ chế tác động của các hoạt chất trong nấm để từ đó đề xuất những
phương pháp điều trị thích hợp.
Nấm Vân chi rõ ràng là một loại nấm dược liệu có nhiều đặc tính dược lý ưu việt
và rất đáng quan tâm. Tiềm năng sử dụng nấm Vân chi trong điều trị lâm sàng, đặc
biệt với các bệnh hiểm nghèo như ung thư, AIDS là rất lớn và cần được đi sâu khai
thác. Một điều đáng lưu ý là việc nuôi trồng và sản xuất dược liệu từ nấm này
không hề tốn kém , rất phù hợp với điều kiện của các nước đang phát triển, trong
khi đây lại là một loại nấm có hiệu quả y dược cao. Vì vây, việc phát triển sản xuất
dược phẩm từ nấm Vân chi có ý nghĩa kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ và nâng cao
sức khỏe cộng đồng, đồng thời mở ra một hướng đi mới cho các ngành Công nghiệp
dược phẩm và Công nghệ sinh học.

enzyme superoxide dismutase (SOD) (W.S.Wei et al., 1996;Y.Kobayashi et al., 1994)
và glutathione peroxidase (Z.J.Pang et al., 2000). Các enzym này đóng vai trò rất
quan trọng trong việc chống lại tác động gây hại của các tác nhân oxy hoá tự do,
một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ung thư.
Trên cơ sở các tác dụng trên, PSK và PSP giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể
nói chung, giúp chống lại ảnh hưởng kiềm chế miễn dịch của các liệu pháp hóa trị
và xạ trị, giúp kiềm chế tác hại và kìm hãm sự phát triển các khối u, đồng thời cũng
giúp tăng cường chức năng của gan, tăng cảm giác ngon miệng, điều hoà hệ thần
kinh và làm giảm đau các vết thương.
Đặc biệt đáng lưu ý là tác dụng chống ung thư của PSK và PSP. Các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng PSK và PSP có tác dụng với nhiều loại tế bào ung thư như các tế bào ung
thư biểu mô, các sarcoma và các tế bào ung thư máu. Nghiên cứu của Hsieh và cộng
sự chỉ ra rằng PSP tác động lên pha G trong chu kỳ phân bào của các tế bào ung thư
máu, qua đó cảm ứng quá trình “tự chết” (apoptosis). Một nghiên cứu khác (Y.Dong
et al., 1997) lại cho thấy các polysaccharid này có khả năng ức chế sự tổng hợp
ADN ở các tế bào ung thư vú và kìm hãm sự nhân lên hàng loạt của các tế bào ung
thư gan. PSK và PSP không có tác dụng trực tiếp gây hại cho các tế bào ung thư mà
gián tiếp thông qua các tác dụng tăng cường miễn dịch như nêu ở trên, cụ thể là
hoạt hóa các tế bào miễn dịch và tăng cường hoạt động của các enzym chống các
tác nhân oxy hóa.
Gần đây PSP còn được chứng minh là có tác dụng chống lại sự xâm nhiễm của virus
HIV type 1 (R.A.Collins và Ng.T.B, 1997). Polysaccharid này có tác dụng ngăn cản
liên kết giữa protein HIV-1 gp của virus và thụ thể CD4 từ đó ngăn chặn sự xâm
nhập của virus vào tế bào miễn dịch, đồng thời còn có tác dụng ức chế các enzym
HIV-1 reverse transcriptase và glycohydrolase cần thiết cho sự tạo thành virus. Vì
vậy PSP được đề nghị như một liệu pháp hữu hiệu chống lại HIV type 1.
Các polysaccharid của nấm Vân chi có độ bền cao với nhiệt độ và ánh sáng, tồn tại
lâu trong cơ thể, và đặc biệt chưa được phát hiện có tác dụng phụ gì, cả đối với phụ
nữ mang thai, vì vậy rất thích hợp cho nhiều liệu pháp điều trị (P.M.Kidd, 2000).
Chúng có thể được tách chiết từ quả thể hoặc sợi nấm Vân chi bằng phương pháp

giống nấm phải được giữ trong nitơ lỏng (-195
o
C) hoặc dùng phương pháp đông
khô hay các phương pháp khác để bảo quản lâu dài và giữ ổn định được hoạt chất
từng giống.
2.5.2. Quy trình nhân giống cấp một và cấp hai
Giống cấp một: là các ống thạch nghiêng được cấy từ các ống nấm đã phân lập,
thuần khiết và được cấy truyền sang nhiều ống để làm giàu lượng giống thuần.
Giống cấp hai: là giống được cấy hệ sợi từ môi trường cấp một vào trong các chai
thuỷ tinh hay các túi chất dẻo có miệng là ống nhựa có nút bằng nút bông mỡ.
Giống cấp hai có thể chế tạo bằng nhiều công thức khác nhau. Tất cả đều là môi
trường xốp với nguyên liệu chính là ngũ cốc, cám, mùn cưa và có thể bổ sung một số
chất dinh dưỡng khác. Bảo quản giống cấp hai được thực hiện ở nhiệt độ phòng (29
± 2
o
C).
2.5.3. Quy trình nuôi trồng ra quả thể
Giá thể nuôi trồng nấm rất đa dạng: mùn cưa, gỗ khúc hay các nguồn phế phẩm
nông nghiệp như cùi bắp, bã mía, rơm rạ…
Sơ đồ 3: Quy trình nuôi trồng nấm
a) Quy trình nuôi trồng trên gỗ khúc
Cây gỗ chặt hạ, bỏ cành, cưa thành khúc 80 – 120 cm, mặt cắt quét vôi, chất đóng ủ
khoảng 1 tháng. Sau đó tiến hành các bước sau:
- Cấy giống
Giống sản xuất là giống hỗn hợp mùn cưa, cám, bột bánh dầu, hạt ngũ cốc… Dùng
búa hoặc khoan đột những hàng lỗ so le, đường kính 1 – 1,5 cm dọc theo khúc gỗ,
cách nhau 5 cm, sâu 3 – 5 cm.
Gieo meo giống cho đầy lỗ cấy, sau đó đậy lại bằng chính miếng gỗ đục từ lõi ra.
Dán giấy parafin hoặc nhỏ sáp lên bao bọc kín lỗ cấy.
Thao tác đột lỗ cấy và gieo meo giống nên làm kế tiếp nhau và nhanh để tránh

o
C/2 – 4 giờ. Sau đó lấy ra để nguội.
- Cấy giống
Cấy giống vào giữa khối cơ chất (khoảng 3 – 5% khối lượng giống so với cơ chất).
Nuôi ủ trong buồng tối, ở 25 – 30
o
C, sau 25 – 35 ngày hệ sợi sẽ lan hầu khắp giá
thể.
- Tưới đón nấm
Hệ sợi bắt đầu bện kết sau 25 – 30 ngày. Tại thời điểm này, cần chuyển túi (chai)
vào nhà trồng có ánh sáng khuếch tán nhẹ, nhiệt độ hạ thấp 21
o
C ± 3
o
C. Có thểvùi
đất, treo, xếp trên giàn kệ, mở nút túi cho mầm nấm vươn ra dễ dàng. Duy trì độ ẩm
phòng nuôi cấy ở 80 – 90%. Thông thoáng phòng nuôi cho quả thể lớn.
Tuỳ theo loài nấm mà thời gian thu hoạch thay đổi từ 35 – 45 ngày đến vài
tháng. Sau cùng sẽ tiến hành thu hoạch quả thể và chế biến bảo quản.
2.5.4. Quy trình nuôi trồng thu sinh khối
Ngoài công nghệ nuôi trồng trên giá thể tổng hợp hay trên gỗ khúc, người ta
còn tiến hành thu sinh khối nấm trong các nồi lên men. Hiện nay nhiều xí nghiệp
dược phẩm đã sản xuất sinh khối nấm Vân chi theo phương pháp lên men chìm
trong các nồi lên men với các thông số kỹ thuật sau:
-Môi trường sử dụng: bột khô dầu đậu tương (1%), glucose (3%), bột nấm
men khô (0,2%), (NH4)2SO4(0,25%), MgSO4(0,05%), KH2PO4(0,1%), dầu đậu
tương để khử bọt (0,2%)
- Lượng môi trường trong nồi lên men: 60 – 70%
- pH trước khử trùng: 6,0
- Lượng cấy giống vào: 0,5%

6. http://psp-research.com/psp8.htm
7. http://text.123doc.vn/text-doc/208001-khao-sat-sinh-truong-mot-chung-
nam-van-chi-den-trametes-versicolor-co-nguon-goc-tu-trung-quoc.htm
8. http://www.tvvn.org/forum/showwiki.php?title=Chapter:N%E1%BA
%A5m_V%C3%A2n_Chi_-_Tr%E1%BA%A7n_Vi%E1%BB%87t_H%C6%B0ng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status