Chương I: Khái quát về giá trị thặng dư
1.Mâu thuẫn của công thức tư bản
Chủ nghĩa tư bản ra đời gắn với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất hàng
hóa.Tuy nhiên sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa khác với sản xuất hàng hóa
giản đơn không chỉ về trình độ mà còn khác cả về chất nữa.Trong sản xuất hàng
hóa giản đơn, tiền là sản vật cuối cùng của lưu thong hàng hóa, nhưng nó còn là
hình thức biểu hiện đầu tiên dưới hình thức một số tiền nhất định.Nhưng bản thân
tiền không phải tư bản và nó chỉ trở thành tư bản trong một điều kiện nhất định.
Các Mác đã chỉ ra rằng nếu sản xuất hàng hóa giản đơn có công thức vận động
chung là H-T-H thì công thức vận động của tư bản lại khác biệt ở chỗ nó vận động
theo công thức T-H -T.Tức là công thức vận động của tư bản không đầu hàng hóa
mà từ bắt đầu từ Tiền.Nhà tư bản dùng tiền của mình để mua hàng hóa rồi sau đó
đem bán hàng hóa đó để thu giá trị và không chỉ là giá trị mà còn là giá trị tăng
thêm.Như vậy nếu mục đích của lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng để
thỏa mãn nhu cầu ( nên các hàng hóa phải có giá trị sử dụng khác nhau) thì mục
đích cua tư bản lại là giá trị tăng thêm, tức là nếu số tiền thu về phải lớn hơn số tiền
ứng ra, nếu bằng hoặc nhỏ hơn thì quá trình vận động lưu thông trở nên vô
nghĩa.Điều đó cũng có nghĩa là thực chất công thức vận động đầy đủ của tư bản
phải là :T –H- T’ trong đó T’=T+ ΔT.ΔT được gọi là giá trị thặng dư.Vậy giá trị
thặng dư đó ở đâu ra mà có???
Các nhà kinh tế học tư sản đã cố tình chứng minh rằng quá trình lưu thông
hàng hóa đẻ ra giá trị thặng dư nhằm mục đích che giấu nguồn gốc làm giàu của
các nhà tư bản.Nhưng Thực ra trong lưu thông dù người ta trao đổi ngang giá hay
không ngang giá thì cũng không tạo ra giá trị mới, dó đố cũng không tạo ra giá trị
thặng dư.
-Trường hợp trao đổi ngang giá:
Nếu hàng hóa được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái trị, từ tiền
thành hàng và từ hàng thành tiền còn tổng giá trị cũng như một phần giá trị nằm
trong tay mỗi bên tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi.Tuy nhiên về
mặt giá trị sử dụng, thì cả hai bên đều trao đổi đều có lợi vì có được những hàng
hóa thích hợp với nhu cầu của mình.
Như vậy lưu thông đã không đẻ ra giá trị thặng dư.Vậy phải chăng GTTD có thể
đẻ ra ngoài lưu thông.?
Trở lại ngoài lưu thông chúng ta xem xét 2 trường hợp:
+Ở ngoài lưu thông ,nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hóa của anh
ta, thì giá trị của những hàng hóa ấy không hề tăng lên mọt chút nào.
+Ở ngoài lưu thông, nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mới cho hàng
hóa thì phải bằng lao động của mình.Chẳng hạn người thợ giầy đã tạo ra một giá
trị mới bằng cách lấy da thuộc để làm ra giầy.Trong thực tế, đôi giày có giá trị lớn
hơn thuộc da vì nó đã thu hút nhiều lao động hơn, còn gía trị của bản thân da thuộc
vẫn như trước, không hề tự tăng lên.
Như vậy là trong lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư đúng như Các Mác chỉ
rõ: “ Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện
ngoài lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”.Đó chính là mâu thuấn
chứa đựng trong công thức chung của tư bản.Để giải quyết những mâu thuẫn
này.Các Mác chỉ rõ : “Phải lấy những quy luật nội tại của lao động hàng hóa làm
cơ sở” để giải thích.
2.Hàng hóa sứ c lao động
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển thành tư bản không thể xảy ra
trong bản thân số tiền mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào (T- H).Hàng
hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường mà phải là một hàng hóa đặc biệt,
mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị.Thứ hàng hóa đó
là sức lao động à nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
…
3.Nguồn gốc KN GTTD(sgk)(sau phần trên này đây)
4.Trình độ bóc lột.Phương pháp nâng cao tỉ suất GTTD (SGK)
Chương 2: Sự vận dụng học thuyết giá trị thặng dư
1. Phạm trù sở hữu và cơ cấu sở hữu trong giai đoạn trước đây (Trước
1986)
a/ Sớ hữu là gì ? Quá trình phát triển của nó.
Theo quan điểm của Mác: ”sở hữu được biểu hiện trong những hình thái
CNXH.
Trước đây nước ta với nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung quan liêu, bao
cấp, nền kinh tế tự cung, tự cấp. Do đó nó chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu
chính tương ứng với thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể. Trong nền
kinh tế này con người không được tự do buôn bán, trao đổi hàng hoá, do đó
chưa xuất hiện sở hữu tư nhân mà chỉ tồn tại hai hình thửc sở hữu đó là sở
hữu tập thể, quôc doanh dưới sự điều tiết giá cả của nhà nước. .Đây chính là hiện
tượng quan hệ sản xuất "tiên tiến " hơn trình độ lực lượng sản xuất 1 cách giả
tạo bởi chúng ta đã kéo quá dài cơ chế chính sách kế hoạch hoá tập trung,
bao cấp với tư tưởng nôn nóng muốn đưa nước ta tiến nhanh lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn qứôc, trong khi chúng ta vừa thoát khỏi cuộc chiến
tranh, tần dư chế độ phong kiến còn đang tồn tại và hậu quả chiến tranh còn
nặng nề, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí còn thấp, khả
năng quản lý kinh tế còn yếu, lực lượng sản xuất thấp kém trong khi đó
chúng ta ồ át xây dựng một quan hệ sản xuất ở trình độ không tương xứng,
cụ thế trong nông nghiệp xây dựng HTX cấp cao, thực hiện duy có hai hình
thức sở hữu là tập thể và sở hữu Nhà nước, thực hiện sở hữu toàn dân…do
đó đã làm cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, không khuyến khích
được người lao động, chưa huy động được nguồn lực trong xã hội, như ta
biết sự phù hợp hay không giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng
sản xuất là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ quá trình vận động và phát
triển của xã hội.
Suốt từ 1975 – 1985 là suốt một thời kì mà chúng ta nhầm tưởng rằng cứ
có QHSX CNXH (với hai thành phần kinh tế chính là nhà nước và tập thể )
là có CNXH mà quên đi rằng QHSX phải sựa trên LLSX chúng ta có, chúng
đã đã nhầm tưởng , đánh đồng giữa khái niệm QHSX với sở hữu Tư liệu sản
xuất, từ đó đã xác định nhầm bước đi, nỏng vội chủ quan duy ý chí trong
việc chọn lựa các hình thức tổ chức kinh tế.Kết quả là khủng hoảng kinh tế
kéo dài.Kinh tế đất nước kiệt quệ, đời sống nhân dân cực khổ.
đề "có ý nghĩa chiến lược và mang tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội", thì đến Đại hội
VII, Đảng đã khẳng định: "phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước". Tới Đại hội Đảng IX, kinh tế thị
trường nhiều thành phần lại được khẳng định một cách sâu sắc, đầy đủ hơn như là mô hình kinh tế tổng
quát hay mô hình mới của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, bắt
nguồn từ bối cảnh thời đại và điều kiện lịch sử – cụ thể của đất nước và đó như là một điều tất yếu.
Bởi Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX
cũng đã khẳng định tính đúng đắn của việc sử dụng và cải tạo dần dần đối với những thành phần
kinh tế của xã hội cũ mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra. Nhận thấy chính sách cộng sản thời
chiếnkhông còn thích hợp trong điều kiện đất nước đã hoà bình, V.I.Lênin đã dũng cảm thừa
nhận: “Chúng ta đã thất bại trong cái ý định dùng phương pháp “xung phong”, nghĩa là dùng con
đư ờng ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và phân phối theo nguyên
tắc xã hội chủ nghĩa”(1). Từ đó, V.I.Lênin khẳng định cần phải thay thếchính sách cộng sản thời
chiến bằng chính sách kinh tế mới (NEP). Một trong những nội dung cơ bản của NEP là lý luận
về nền kinh tế nhiều thành phần. V.I.Lênin viết: “Không còn nghi ngờ gì nữa, ở một nước trong
đó những người sản xuất tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thực hiện cách mạng
xã hội chủ nghĩa bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở
những n ước t ư bản phát triển”(2). Một trong các biện pháp quá độ đặc biệt mà V.I.Lênin nói ở
đây chính là việc sử dụng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Điều đó được V.I.Lênin
giải thích rõ như sau: “Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó
có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ
nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có”(3).
Cơ sở của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xét
đến cùng, là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực l ượng sản
xuất quy định. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là ở các nư ớc tiểu nông, do
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn nhiều hạn chế và không đồng đều nên tất yếu còn
tồn tại nhiều loại hình sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; hơn nữa, một số thành phần kinh tế của
phư ơng thức sản xuất cũ còn có tác dụng tích cực nhất định đối với sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Điều đó cho thấy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải thích rất rõ tại
cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào
quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
Thành phần kinh tư bản tư nhân là một bộ phận cần thiết của nền kinh tế quốc dân, nó trở thành
một mắt khâu không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Mác: “Chúng ta rất khổ
sở vì chủ nghĩa tư bản nhưng cũng rất khổ sở nếu không có nó”. Muốn có thêm lao động thặng
dư, sản xuất thăng dư thì suy đến cùng chỉ có cách khai thác lao động trên cả 3 mặt: Thời gian
lao động, cường độ lao động, năng xuất lao động. 2 mặt trên liên quan đến giá trị thặng dư tuyệt
đối, mặt thứ 3 liên quan đến giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch. Song biện
pháp chủ yếu là năng cao năng xuất lao động, nhất là trong những ngành nông nghiệp, công
nghiệp sảm xuất hàng tiêu dùng. Cần vận dụng những hình thức của chủ nghĩa tư bản nhằm
hướng các nhà tư bản trong nước đi theo quỹ đạo của CNXH. Đó là một hệ thống chính sách góp
phần thực hiện xã hội hóa sản xuất về mặt quan hệ sản xuất từ đó phát huy vai trò của nó trong
nền kinh tế thời kì quá độ ở nước ta.
Như vậy, Việc Việt Nam lựa chọn con đường phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa là sự lựa chọn vừa phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của thời đại, vừa là sự tiếp thu
các giá trị truyền thống của đất nước và những yếu tố tích cực trong giai đoạn phát triển đã qua của chủ
nghĩa xã hội kiểu cũ. Đây cũng là sự trùng hợp giữa quy luật khách quan với mong muốn chủ quan, giữa
tính tất yếu thời đại với lôgic tiến hoá nội sinh của dân tộc, khi chúng ta chủ trương sử dụng hình thái
kinh tế thị trường nhiều thành phần để thực hiện mục tiêu phát triển, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Nó cũng là con đường để thực hiện chiến lược phát triển rút ngắn, để thu hẹp khoảng cách tụt hậu
và nhanh chóng hội nhập, phát triển.
3. Nội dung xây dựng và hoàn thiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần (từ sau
đổi mới)
a. Hệ thống pháp luật
Xác định rõ tầm quan trọng và yêu cầu của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm qua, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa - xã hội, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh
quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đồng thời không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội
nghĩa đã từng bước được hình thành. Pháp luật trong lĩnh vực hành chính, nhà nước đã có
những đổi mới tích cực. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn
của cán bộ, công chức, nội dung và trách nhiệm công vụ được phân định rõ ràng hơn; thủ tục
hành chính bước đầu được cải cách theo hướng đơn giản, công khai, dễ tiếp cận, dễ kiểm tra,
giám sát hơn; các dịch vụ công đang dần dần được xác lập, từng bước đáp ứng nhu cầu của
nhân dân và yêu cầu của cải cách hành chính; lần đầu tiên hoạt động giám sát của Quốc hội và
Hội đồng nhân dân các cấp được luật hóa đã góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát
của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Pháp luật về lao động, an sinh xã hội và các lĩnh
vực xã hội khác đã được quan tâm xây dựng, góp phần phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết
các vấn đề xã hội, hạn chế những tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Pháp luật trong lĩnh vực
quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được tăng cường, góp phần giữ vững ổn định chính
trị, xã hội, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Pháp luật phục vụ việc giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và bảo vệ môi
trường đã và đang được tăng cường. Chủ trương dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội đã được
thể chế hóa một bước quan trọng. Nhà nước ta đã ký kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế
phục vụ cho chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
b.Cơ chế chính sách với mỗi thành phần kinh tế.
Để khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế, Đảng và Nhà nước ta
luôn luôn tạo điều kiện ở mức tối đa để mỗi thành phần kinh tế có thể phát triển,
phát huy tiếng nói của mình trong nền kinh tế.
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các tài nguyên quốc
gia và các tài sản sở hữu nhà nước như hầm mỏ, đất đai, rừng, biển, ngân sách, các quỹ dự trữ
ngân hàng nhà nước, hệ thống bảo hiểm, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, phần vốn nhà nước góp
vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác…
Đại hội VIII của Đảng, chỉ rõ, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở "làm đòn bẩy
mạnh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các
thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức
năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới".
Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh, kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ
để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then
xuất, kinh doanh mang tính chất của một xí nghiệp gia đình chứa đựng những khả năng lớn của
sáng kiến cá nhân. ở đây, nguyên tắc kinh doanh, theo đuổi mục tiêu doanh lợi kết hợp hài hòa
với các giá trị gia đình. Những thành viên trong hộ gắn bó với nhau bằng quan hệ ruột thịt, nên
có tính cộng đồng, trách nhiệm cao dễ thống nhất. Ngoài các hoạt động sản xuất, kinh doanh, chủ
hộ còn quan tâm đến việc học hành, giáo dục truyền thống, đạo đức, pháp luật cho các thành viên
để hướng tới sự thành đạt. Quan hệ sản xuất ở đây là trực tuyến, bỏ qua các khâu trung gian, nên
việc quản lý rất chặt chẽ, hiệu quả. Chất lượng sản phẩm, thương hiệu hàng hóa được quan tâm
đầu tiên, bởi nó tạo nên chữ tín của gia đình. Mọi tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay
nghề, bí quyết, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh… được tích lũy qua nhiều đời là tiềm năng"
chất xám" quan trọng của kinh tế cá thể, tiểu chủ được phát huy. Quy mô của kinh tế cá thể, tiểu
chủ vừa và nhỏ nên dễ tổ chức sản xuất, kinh doanh, ít tốn kém, dễ thích nghi. Nó có khả năng
huy động mọi nguồn lực phân tán như vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị kỹ
thuật… kết hợp lại với nhau, qua đó giải quyết việc làm cho đông đảo người lao động, tăng thu
nhập, tăng tích lũy, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo cơ hội cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất, tái
sản xuất và hưởng thụ các thành quả tăng trưởng nền kinh tế. Kinh tế cá thể, tiểu chủ góp phần
tích cực xóa đói giảm nghèo, nâng cao mặt bằng kinh tế – xã hội, cải thiện đáng kể bộ phận đông
đảo dân cư ở thành thị và nông thôn.
Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất, kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta, thành phần kinh tế này có vai trò quan
trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, về phát triển nền sản xuất hàng hóa, về
giải quyết các vấn đề xã hội. Đại hội VIII của Đảng khẳng định: "Kinh tế tư bản tư nhân có khả
năng góp phần xây dựng đất nước. Khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm
làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng
cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh". Văn kiện Đại hội
IX của Đảng cũng khẳng định rõ hơn vai trò vị trí của kinh tế tư bản tư nhân và Nghị quyết
Trung ương 5, khóa IX, xác định: "Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung
có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; tập trung ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có
điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
Trong xu thế toàn cầu hóa, để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, với chính sách kinh tế mở,
chúng ta đang tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Dòng vốn nước ngoài
vào Việt Nam ngày một tăng, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu GDP. Cho nên việc tạo
điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây
dựng kết cấu kinh tế – xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm là chủ
trương đúng của Đảng, phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế nước
ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
c.Chính sách điều chỉnh khu vực kinh tế Nhà nước và sở hữu Nhà nước.
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sự sở hữu toàn dân về tư lieuj sản xuất.Vai trò của
thành phần kinh tế này có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Đại hội Đảng lần thứ VII, đồng thời với nhận thức về chế độ đa dạng hóa các loại hình sở hữu đã rõ nét
hơn, Đảng đã chuyển sang quan điểm công hữu giữ vai trò chủ đạo, nhưng chưa phân biệt rõ doanh
nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước, nên còn gọi chung sở hữu nhà nước dưới thuật ngữ “kinh tế quốc
doanh”. Cùng với đổi mới quan điểm về chế độ sở hữu, Đại hội Đảng lần thứ VII cũng đưa ra quan điểm
rõ ràng hơn về KTTT: "Đổi mới về kinh tế, chuyển nền kinh tế mang nặng tính tự cấp, tự túc với cơ chế
quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước”; “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính
sách và các công cụ khác”
(2)
; và phân định rõ phạm vi quản lý của Nhà nước và phạm vi tác động của cơ
chế thị trường.
Tới Đại hội Đảng lần thứ VIII, ngoài sự khẳng định rõ ràng mục tiêu vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN do Đại hội VII nêu ra, lần đầu tiên Đảng
đưa ra khái niệm kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: "Kinh tế nhà nước thực hiện
tốt vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng trong nền kinh tế. Kinh tế cá thể, tiểu
chủ, kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỷ trọng đáng kể. Kinh tế nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn
tại phổ biến"
Thứ nhất, Đại hội X của Đảng đã phân biệt rõ chế độ sở hữu, thành phần kinh tế và hình thức tổ chức
sản xuất, kinh doanh. Khi nói chế độ sở hữu là nói về quyền của các chủ thể đối với tài sản nằm trong cơ
cấu của cải xã hội. Chế độ sở hữu của nước ta gồm ba loại: toàn dân, tập thể, tư nhân. Như vậy, lần đầu
tiên Đảng ta thừa nhận nền kinh tế quá độ của nước ta là nền kinh tế hỗn hợp, gồm nhiều loại hình sở
hữu, mỗi chế độ sở hữu đều là yếu tố hợp thành chế độ kinh tế chung.
Thành phần kinh tế là tổng hợp sức mạnh có tổ chức của lực lượng kinh tế dựa trên một chế độ sở hữu
nhất định. Thành phần kinh tế nhà nước dựa trên sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện, xuất hiện dưới
hình thức sở hữu nhà nước. Thành phần kinh tế tập thể dựa trên sở hữu chung của một nhóm, một tập
đoàn người, một cộng đồng dân cư nhất định. Thành phần kinh tế tư nhân dựa trên sở hữu của tư nhân.
Đại hội lần thứ X chỉ rõ hai thành phần kinh tế đặc biệt, đó là thành phần kinh tế tư bản nhà nước dựa
trên sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước XHCN và tư bản tư nhân. Tuy nhiên, ở đây không thể gọi nó là
thành phần kinh tế nhà nước vì nó không hoạt động trực tiếp vì lợi ích toàn dân, cũng không thể gọi nó là
thành phần kinh tế tư bản tư nhân vì nó chịu sự chi phối mang tính XHCN của Nhà nước. Ngoài ra, cần
thiết phải tách thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi thành phần kinh tế tư nhân, nhấn
mạnh tính đặc thù của thành phần kinh tế này ở chỗ nó chịu sự chi phối của nước chủ đầu tư. Như vậy,
thành phần kinh tế không chỉ bao hàm giác độ sở hữu, mà còn bao hàm sức mạnh tổ chức, sức mạnh
hợp tác của các tổ chức kinh tế hoạt động dựa trên một chế độ sở hữu nhất định. Thành phần kinh tế
nhà nước không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước, mà còn bao hàm sức mạnh kinh tế đứng đằng
sau các chính sách và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, bao hàm khả năng tổ chức và hoạch
định chính sách đúng đắn của Nhà nước, sự gắn kết hợp lý của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, tài
chính nhà nước, luật pháp và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Như vậy, thành phần kinh tế nhà nước đã
được hiểu tổng hợp hơn so với các kỳ Đại hội Đảng trước đây.
Hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh là sự tập hợp tư liệu sản xuất dưới một hình thức nào đó được
pháp luật thừa nhận để trực tiếp tiến hành sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, đó là các loại hình doanh
nghiệp khác nhau. Một doanh nghiệp có thể dựa trên một hoặc nhiều hình thức sở hữu, là công cụ trong
tay thành phần kinh tế đầu tư vốn vào doanh nghiệp để phục vụ cho mục tiêu của chủ đầu tư. Đặc biệt,
Đại hội Đảng lần thứ X nhấn mạnh tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp cổ phần, coi chúng là hình
thức doanh nghiệp phổ biến. Thông qua các doanh nghiệp, thông qua các tổ chức đại diện cho chế độ sở
hữu, các thành phần kinh tế phát huy vai trò của mình trong nền kinh tế. Đại hội nhấn mạnh tầm quan
trọng của doanh nghiệp, doanh nhân trong phát triển kinh tế và tôn vinh những doanh nhân có tài, có
nước có thể phát huy ưu thế của mình, đó là doanh nghiệp nhà nước được giao quyền tài sản, được
thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo nguyên tắc thị trường và pháp luật, tạo cơ chế gắn trách nhiệm
và lợi ích của cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức
lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước hiện có… Như vậy, mặc dù vẫn nói là kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo, nhưng cách thức chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở Đại hội Đảng lần thứ X có nhiều
điểm mới so với trước.
Thứ ba, Đại hội Đảng lần thứ X đặt kinh tế nhà nước nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng trong
môi trường thị trường đồng bộ, cạnh tranh và hội nhập. Có nghĩa là, kinh tế nhà nước nói chung, doanh
nghiệp nhà nước nói riêng phải thích nghi và buộc phải hoạt động trong môi trường KTTT, chấp nhận luật
chơi của các tổ chức kinh tế quốc tế, chấp nhận cạnh tranh trong điều kiện bảo hộ của Nhà nước giảm
đến mức tối thiểu. Cụ thể, " Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành của các loại thị
trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ. Thu hẹp lĩnh
vực nhà nước độc quyền kinh doanh, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp,…Phát triển vững chắc thị trường
tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ theo hướng đồng bộ, có cơ cấu hoàn chỉnh… Phát
triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với
đất….Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế…Phát triển thị trường khoa học công nghệ
trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn sản phẩm khoa học, công nghệ trở thành hàng hoá"
(7)
và “ Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn
cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ đất nước làm mục tiêu cao nhất”
(8)
. Quan điểm chỉ đạo kiên
quyết này đặt ra cho quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp những yêu cầu mới: một là, Nhà nước phải
chủ động thay đổi những phương thức hành động không phù hợp với KTTT và các cam kết quốc tế bằng
các phương thức phù hợp và có hiệu quả hơn. Để làm được như vậy, Nhà nước phải có tiềm lực tài
chính lớn, có nghĩa là vai trò của kinh tế nhà nước không giảm đi, ngược lại có thể tăng lên; hai là, doanh
nghiệp nhà nước phải được cải tổ nhanh và chuyển sang các hình thức hoạt động có hiệu quả để tồn tại
và đem lại cho Nhà nước một công cụ định hướng, điều tiết tốt. Để làm được như vậy, Đại hội chỉ rõ,
“Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần
hoá. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu
độ tăng trưởng GDP khá cao qua các thời kỳ gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong kế hoạch 5 năm 1986-1990, tổng sản phẩm xã hội
tăng bình quân mỗi năm tăng 4,8%; thu nhập quốc dân tăng 3,9%. Sản xuất nông nghiệp, nhất là
lương thực có bước phát triển mới. Sản lượng lương thực năm 1990 đã đạt 21,5 triệu tấn, tăng
18,2% (3,3 triệu tấn) so 1985. Lương thực bình quân nhân khẩu đạt 325 kg và năm 1989 Việt
Nam đã xuất khẩu 1,42 triệu tấn gạo, đánh dấu thời kỳ chuyển đổi tính chất sản xuất từ tự cung
tự cấp sang sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu gạo. Sản xuất công nghiệp có bước phát triển
mới. Một số ngành then chốt của nền kinh tế tăng trưởng khá. Đáng chú ý là sản lượng dầu thô
tăng từ 40 nghìn tấn năm 1986 lên 2,7 triệu tấn năm 1990. Hoạt động thương mại, dịch vụ khôi
phục và tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế quốc dân chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Song, những
khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam thực sự bắt đầu từ thập kỷ 90. Trong kế hoạch 5 năm 1991-
1995, nền kinh tế bắt đầu tăng tốc với tốc độ tăng GDP là 8,2%/năm, tiếp đó là kế hoạch 5 năm
1996-2000, tăng 7% dù có nhiều khó khăn do khủng hoảng tiền tệ các nước châu Á. Với tốc độ
tăng trưởng đó, đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ tăng trưởng ổn định.
Tốc độ tăng GDP năm 2001 là 6,79%, 2002 là 6,89%, 2003 là 7,08%,năm 2004 là 7,69% và 6
tháng đầu năm 2005 tăng 7,7% ước cả năm là 8,5%. Các ngành sản xuất và dịch vụ đều tăng
trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ cao: bình quân thời kỳ
1991-2000 tăng 13,5%, thời kỳ 2001-2003 tăng 15% và năm 2004 tăng 16%, 6 tháng đầu năm
2005 tăng 15,6%. Sản xuất nông nghiệp chuyển dần theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi
gắn với xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất không cao nhưng vẫn duy trì mức trên
5%/năm liên tục, dù cho có khó khăn về hạn hán và dịch cúm gia cầm. Hoạt động dịch vụ, nhất
là xuất nhập khẩu, du lịch phát triển và tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
năm 2001 là 3,7%, năm 2002 là 11,2%, năm 2003 là 24,6%, năm 2004 là 28,7%, 6 tháng đầu
năm 2005 là 17,4%. Do đó, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công
nghiệp, ổn định tỷ trọng khu vực dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP nhưng giá
trị tuyệt đối của từng ngành đều tăng năm sau cao hơn năm trước.
Những thành tựu trên một lần nữa khẳng định sự đúng đắn trong việc lựa chọn con đường phát
triển cho nền kinh tế nước ta.Đó chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện sự vận dụng học thuyết giá trị thặng dư
- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho mọi người dân thuộc mọi thành
phần kinh tế để họ tự giác chấp hành luật pháp, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp của mọi thành phần kinh
tế, thưởng phạt phân minh, nhằm tăng hiệu lực của luật pháp, đồng thời, phát hiện những
khiếm khuyết của hệ thống luật pháp, để sửa đổi bổ sung kịp thời.
Các giải pháp trên, được tiến hành đồng bộ sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp, đưa nền kinh tế đa
hình thức sở hữu của nước ta phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn
giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm
công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử
dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh
những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện
trong bản chất của chế độ mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những
quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một
bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện
nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và
xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2.Giải pháp với các Doanh nghiệp, đơn vị kinh tế
Trước hết cần đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh
nghiệp nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba
(khoá IX) của Đảng.
Đây là giải pháp hàng đầu, giải pháp này bắt nguồn từ kinh tế nhà nước mà nòng cốt là doanh
nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta.Trong những năm gần đây, mặc
dầu doanh nghiệp nhà nước không giữ tỷ trọng tuyệt đối trong cấu thành GDP, nhưng vẫn là
lực lượng kinh tế mạnh nhất với 39,9% GDP, đóng góp 39,2% thu ngân sách nhà nước và 50%
xuất khẩu. Vì vậy, sắp xếp, đổi mới, phát triển và phát triển nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
nhà nước trở thành giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính cơ bản lâu dài. Tính cấp
bách của giải pháp này thể hiện ở chỗ, kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế về bản chất dựa
trên cơ sở sở hữu toàn dân. Thành phần kinh tế này vững mạnh tức là hình thức sở hữu toàn
dân được tăng cường, củng cố và định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Tính cơ bản của
vọng, thực sự phát huy tính dân chủ trong đời sống kinh tế.