TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị trường lao
động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Thế nhưng, do mới hình thành và phát triển chưa đồng bộ,
nên thị trường lao động Việt Nam đang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn,
trong đó nghiêm trọng nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu, năng suất lao
động thấp. Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực
phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu hụt lao động
trầm trọng.
Đất nước càng phát triển thì nhu cầu về lao động có trình độ có chuyên môn
kỹ thuật ngày càng cao, thì tuyển dụng lao động càng đòi hỏi một lượng lao
động dồi dào, làm được việc. Nhưng tuyển dụng như thế nào? Có phải lúc nào
cũng tìm được những nhân viên- nguồn nhân lực có chất lượng? Và thực trạng
tuyên dụng ở Việt Nam thế nào? Đạo đức trong tuyển dụng ở nước ta ra sao? Từ
những vấn đề như trên, em đã tìm hiểu về đề tài: “Đạo đức trong tuyển dụng
lao đông” làm đề tài nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu có nhiều điều thiếu sót rất mong nhân được
những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài làm của nhóm em hoàn
chỉnh hơn.
Nhóm em xin trân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Đạo đức
Đạo đức là những khuynh hướng tốt trong tâm ta, mà những khuynh hướng
đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh
ta được chuyển hóa, an vui, lợi ích. Như vậy, Đạo đức là cái tốt ở bên trong
nhưng được đánh giá bằng biểu hiện ở bên ngoài. Chúng ta khẳng định lại là
Đạo đức kinh doanh là một dang của đạo đức nghề nghiệp
Chương 2:TÌM HIỂU SỞ QUA VỀ TUYỂN DUNG LAO ĐỘNG, THỰC
TRẠNG LAO ĐỘNG, TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.
2.1. Những vấn đề chung về tuyển dụng lao động
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Tuyển dụng lao động là một hiện tượng xã hội, phát sinh do nhu cầu
tự nhiên của quá trình lao động. Từ những hình thức tuyển dụng lao động giản
đơn nhất, tuyển dụng lao động ngày càng trở nên phổ biến, hiện đại hơn theo sự
phát triển của xã hội.
2.1.1.
Khái
niệm
về
tuyển
dụng
lao
động
Tuyển dụng lao động là một hiện tượng xã hội phát sinh do nhu cầu tự nhiên
của quá trình lao động. Xét về phương diện kinh tế xã hội, tuyển dụng lao động
biểu hiện ở việc tuyển chọn và sử dụng lao động phục vụ cho nhu cầu nhân lực
trong quá trình lao động. Việc tuyển dụng lao động được coi là tyền đề cho
về
tuyển
dụng
lao
động
Thông qua công tác tuyển dụng lao động, Nhà nước quản lý được
nguồn nhân lực, đảm bảo cho người lao động khả năng lựa chọn công việc phù
hợp với trình độ chuyên môn và điều kiện hoàn cảnh, tạo điều kiện cho họ làm
việc với năng suất cao.
Thông qua việc tuyển dụng lao động, đơn vị sử dụng lao động có thể chủ
động tuyển chọn, sa thải, duy trì và phát triển lực lượng lao động cần thiết cho
đơn vị mình, nhằm hoàn thành tốt mục tyêu, kế hoạch sản xuất, công tác đã đề
ra.
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
2.1.3.
Thủ
tụ
c
tuyển
dụng
cầu quản lý của những người sử dụng lao động chỉ có thể được thực hiện một
cách thuận lợi và có hiệu quả khi thực hiện tốt các hoạt động tuyển dụng.
2.2.Thực trạng nguồn lao động và tuyển dụng lao động ở Việt Nam
2.2.1.Việc làm thiếu bền vững
Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị trường lao
động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Thế nhưng, do mới hình thành và phát triển chưa đồng bộ,
nên thị trường lao động Việt Nam đang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn,
trong đó nghiêm trọng nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu, năng suất lao
động thấp. Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực
phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu hụt lao động
trầm trọng.
Phân tích về thực trạng thừa thiếu việc làm, GS-TS Nguyễn Bá Ngọc (Phó
Viện trưởng Viện Khoa học lao động - xã hội) cho rằng, tổng việc làm của nền
kinh tế tăng nhưng chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể,
những năm vừa qua hệ số co giãn việc làm ở nước ta chỉ đạt mức trung bình
0,28% (tức là khi GDP tăng thêm 1% thì việc làm chỉ tăng 0,28%), so với các
nước trong khu vực hệ số co giãn việc làm còn thấp. Điều này có nghĩa là tăng
trưởng chưa tạo ra nhiều việc làm, đem lại lợi ích cho người lao động.
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Hiện cả nước vẫn còn trên 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn là một nước kém phát triển và tình
trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn trầm trọng (chiếm tỷ trọng gần 97% trong
tổng số lao động thiếu việc làm chung).
Mặc dù, sự chuyển dịch cơ cấu lao động đã có tín hiệu tích cực nhưng chưa
theo kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và việc phân phối, sử dụng lao động
cản hành chính, phân khúc thị trường lao động cần được xem xét và hướng tới
giảm dần sự can thiệp của nhà nước.
Ở vai trò quản lý, điều tyết thị trường lao động, Nhà nước cần đầu tư thích
đáng vào phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường lao động (cập nhật thông tyn, tư
vấn giới thiệu việc làm, kết nối cung cầu về lao động…); phát triển nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu của xã hội thông qua giáo dục, đào tạo nghề nghiệp; hỗ trợ
lao động yếu thế tham gia vào thị trường lao động.
Khi đã tạo được sân chơi bình đẳng cho người lao động trong thị trường lao
động, chúng ta sẽ giải được bài toán nhân lực: giá nhân công cao, việc làm ổn
định, năng suất lao động tăng, kinh tế phát triển bền vững.
Bà Lin Lean Lim, chuyên gia cao cấp của ILO: Việt Nam có tỷ lệ lao
động thất nghiệp thấp và đang ở thời kỳ dân số vàng. Đó là lợi thế vì Việt Nam
không phải đối mặt với tình trạng dân số già, khan hiếm lao động trẻ. Nhờ vậy,
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Chính phủ Việt Nam sẽ tyết kiệm được nguồn chi để đầu tư phát triển thị trường
lao động. Tuy nhiên, Việt Nam đang đứng trước thách thức phải chuyển đổi cơ
cấu lao động-từ thâm dụng (sử dụng nhiều lao động phổ thông, tay nghề thấp)
sang lao động tynh có kỹ năng, tay nghề kỹ thuật cao.
Để phát triển thị trường lao động theo hướng năng động, tạo nhiều cơ hội
việc làm bền vững, thu nhập ổn định thì Việt Nam phải thay đổi cơ chế quản lý
hộ khẩu, hỗ trợ lao động nhập cư hưởng đầy đủ các quyền lợi theo qui định của
luật pháp; quan tâm phát triển kinh tế ở các vùng miền nghèo khó, khu vực nông
thôn để cân bằng lực lượng lao động, tạo ra sự bình đẳng về việc làm, thu nhập.
Giả sử bạn là giám đốc nhân viên của một công ty đang đi tuyển thêm nhân
viên cho công ty, thì trong các đặc điểm sau đây của một người, điều gì quan
trọng nhất cho bạn trong việc tuyển mộ: kinh nghiệm, bằng cấp, thành thật,
thông minh, teamwork, khiêm tốn, làm việc siêng năng, nói năng hoạt bát…?
Có lẽ bạn sẽ muốn trả lời “Mọi yếu tố đều quan trọng” (chọn hết cho chắc
nhiều như lá rụng mùa thu. Trong số những người có bằng cấp đó, thiểu số
người mạnh về đạo đức sẽ là những người thành công vượt trội.
• Cho đến lúc này, chúng ta đã nói đến “đức” và “tài” như là hai điều biệt lập,
theo kiểu thiên hạ thường nói xưa nay. Nhưng đó lại là một lầm lẫn lớn. Đức và
tài thực ra không biệt lập, mà đạo đức là nền tảng để phát triển tài năng.
Tại sao?
Rất dễ hiểu. Người khiêm tốn thì xử với ai cũng như thầy nên rất nhiều người
xung phong chỉ cho kiến thức. Người thành thật thì ai cũng tyn nên sẽ chỉ cho
nhiều bí mật nghề nghiệp. Người siêng năng (tức là sử dụng thời giờ của công ty
một cách chân thành) thường được giao nhiều công việc, cho nên kinh nghiệm
rất nhiều. Người làm việc nhóm giỏi (tức là được các bạn trong nhóm yêu
thương kính phục) thì đương nhiên là sẽ tyếp thu được nhiều kiến thức của các
bạn, đồng thời giỏi phối hợp và quản lý.
Cho nên khi nói rằng tài và đức quan trọng ngang nhau, người ta hiểu rất sai
bản chất của vấn đề. Đức là cánh tay mở toang mọi cánh cửa u minh của đầu óc
chúng ta, để ánh sáng trí tuệ tràn vào, để tài năng chúng ta có thể phát triển. Đức
là cái nền của tài.
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG 3: CÁC KHÍA CẠNH THỂ HIỆN ĐẠO ĐỨC TRONG
TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG.
Trong hoạt động tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự sẽ xuất hiện một vấn đề
đạo đức khá nan giải, đó là tình trạng phân biệt đối xử.
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Phân biệt đối xử là việc không cho phép của một người nào đó được hưởng
những lợi ích nhất định xuất phát từ định kiến về phân biệt. Biểu hiện ở phân
biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địa phương, vùng văn hoá, tuổi tác
và sử dụng tên của họ vì các mục đích thương mại khác.
Trong công tác tuyển dụng và sử dụng người lao động, trong một số trường
hợp cụ thể, với những công việc cụ thể (lái máy bay, lái tầu, điều khiển máy
móc ) người quản lý phải xác minh người lao động có dương tính với ma tuý
không, hoạt động này hoàn toàn hợp đạo lý. Tuy nhiên, nếu việc xác minh này
phục vụ cho ý đồ cá nhân của người quản lý (để trù dập, để trả thù cá nhân, để
thay thế các quan hệ khác ) thì lại là vi phạm quyền riêng tư cá nhân và đáng bị
lên án về mặt đạo đức.
Một vấn đề đạo đức mà các nhà quản lý không thể xem nhẹ trong tuyển
dụng, bổ nhiệm và sử dụng người lao động đó là sử dụng lao động, sử dụng chất
xám của các chuyên gia nhưng không đãi ngộ xứng đáng với công sức đóng góp
của họ.
Đây là một hình thức bóc lột lao động để gia tăng lợi nhuận tyêu cực. Lợi
nhuận của một công ty luôn có tương quan với sự đóng góp của người lao động.
Công ty kinh doanh muốn gia tăng lợi nhuận thì nhất định phải quan tâm đến lợi
ích của người lao động trực tyếp làm ra của cải vật chất. Quan hệ chủ thợ sẽ tốt
đẹp nếu chủ nhân quan tâm tới lợi ích công nhân, ngược lại công nhân luôn lao
động tích cực và tìm cách gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đó là 2 vế tương
hỗ của một bài toán kinh tế, cần được xử lý một cách lành mạnh, phù hợp với lợi
ích của đôi bên
2. MỘT SỐ VÍ DỤ
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 13
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Khách san Rạng Đông khi cổ phần hoá gặp khó khăn trong giải quyết lao
động. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nhân viên khách sạn phải trẻ khoẻ,
nhanh nhẹn, hoà nhã, lịch sự, ứng xử có văn hoá và đối với một số bộ phận phải
có trình độ. Trong số lao động hiện có rất ít người đáp ứng được yêu cầu
này.Theo cách thông thường là cho nghỉ việc nhưng công ty Rạng Đông đã
tuyển lao động mới đáp ứng đòi hỏi thị trường , đồng thời mở thêm nghề mới để
tôi muốn
hưởng trợ cấp
thất nghiệp thì
đòi hỏi phải
có điều kiện
gì? Thủ tục để hưởng bảo hiểm thất
nghiệp như thế nào? Nguyễn Hồng
Thanh (TP Hà Nội)
Hợp đồng hết hạn có được hưởng
trợ cấp thất nghiệp?
23/02/2012
Tuy nhiên, ngày 28-2-2012 tới đây,
hợp đồng lao động (HĐLĐ) của tôi
hết hạn, vì lý do cá nhân, tôi không
thể ký HĐLĐ mới. Vậy, khi kết thúc
HĐLĐ tôi có được hưởng trợ cấp thất
nghiệp hay không? Tôi cần làm thủ
Bắt làm thêm nhưng không trả tiền?
22/02/2012
Tôi là viên
chức làm việc
ở 1 cơ quan
thuế tại
TPHCM. Cơ
quan tôi yêu
cầu nhân viên mỗi ngày thay nhau trực
1 đêm từ 18 giờ đến 6 giờ sáng hôm
sau nhưng không được tính lương.
Những ngày nghỉ lễ, Tết cũng phải
thay
TPHCM) với hợp đồng lao động
(HĐLĐ) không xác định thời hạn. Từ
tháng 2-2011 thì tôi xin nghỉ việc và
được trung tâm đồng ý. Tuy nhiên từ
đó đến nay trung tâm
Không được nhận tiền BHXH 1 lần?
08/02/2012
Tôi đã làm việc cho một doanh nghiệp
Nhà nước từ tháng 9-1983 đến năm
2011 thì xin nghỉ việc. Tôichưa đủ tuổi
nghỉ hưu nhưng muốn lãnh tiền BHXH
một lần có được không? Nhon Thanh
(<a < div=""></a <>
Khi ốm đau, được hưởng chế độ thế
nào?
07/02/2012
Người lao
động bị ốm
đau được
hưởng trợ
cấp BHXH
như thế nào
theo quy định của Luật BHXH? Nếu
bị bệnh phải điều trị dài ngày thì có
được hưởng quyền lợi không? Tuyet
Phan (<a < div=""></a <>
Có được xem là hợp đồng không xác
định thời hạn?
01/02/2012
Tôi làm việc cho một công ty được 2
27/12/2011
Tạm dừng và tiếp tục hưởng thất
nghiệp
20/12/2011
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 16
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Thời gian
qua, Báo
Người Lao
Động đã
tuyên truyền
sâu rộng về
chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Tuy
nhiên, vẫn còn rất nhiều người lao
động thắc mắc về điều kiện cũng như
thủ tục được hưởng trợ cấp. Ông
Trần
Người sử
dụng lao động
có trách nhiệm
xác nhận về
việc người
lao động bị
mất việc làm chậm nhất hai ngày kể từ
ngày mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng
lao động…
Cho nghỉ việc nhưng không ra
quyết định bằng văn bản?
19/12/2011
hưởng ra sao?
03/12/2011
Sau khi chấm dứt công việc tại công ty
cũ tôi đã nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm
thất nghiệp (BHTN) và đã được nhận 3
tháng lương cho tổng thời gian đã đóng
BHTN là 30 tháng trước đây.
PHẦN KẾT LUẬN
Saukhi tìm hiểu đề tài chúng em đã thấy được tầm quan trọng của đạo đức
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 17
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
trong tuyển dụng. Tuyển dụng lao động là khâu đầu tyên rất cơ bản của quá
trình tổ chức lao động. Các hoạt động phân tích, đánh giá, phân loại lao động,
quy mô, cách thức phân bổ lao động để hoàn thành các mục tyêu, chức năng
của đơn vị, yêu cầu quản lý của những người sử dụng lao động chỉ có thể
được thực hiện một cách thuận lợi và có hiệu quả khi thực hiện tốt các hoạt
động tuyển dụng. Muốn có nguồn lao động dồi dào và có hiệu quả rất cần những
người tuyển dụng lao động có đạo đức. Chúng ta những nhà kinh doanh tương lai
hãy là những người ko chỉ có tài mà còn phải có đức, giúp cho đất nước phát
triền vững mạnh.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
GVHD: Phạm Văn Thắng Lớp: NCKT5ATH
SVTH : Nhóm 01 Trang 18
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
PHẦN THÂN
Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Đạo đức là gì?
1.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh
định
chế
độ
pháp
lý
về
tuyển
dụng
lao
động
2.3.
Thủ
tụ
c
tuyển
dụng
lao