Biện chứng duy vật
LỜI NÓI ĐẦU
Nhận thức, tư duy con người có quan hệ như thế nào với thế giới xung
quanh? Con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện thức hay
không? Mà khi con người nhận thức được thế giới xung quanh thì việc áp
dụng các hiểu biết đó vào thực tiễn như thế nào? Đây là một trong hai vấn
đề cơ bản của triết học.
Trong triết học Mac - Lê nin, phép biện chứng duy vật được coi là
phương pháp luận chung nhất của mọi hoạt động thực tiễn, giúp con người
nhận thức được thế giới.
Vậy phép biện chứng là gì và nó có ý nghĩa như thế nào đối với nhận
thức và hoạt động thực tiễn của con người?
Chúng ta hãy xem xét các vấn đề này ở dưới đây trong các khía cạnh,
để hiểu thêm về phương pháp biện chứng và biện chứng duy vật.
1
Biện chứng duy vật
A
I. Phương pháp luận
Trước khi tìm hiểu về các vấn đề của phép biện chứng duy vật ta sẽ
xem xét qua: Như thế nào là phương pháp luận? Có thể nói một cách tổng
quát phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về phương
pháp, phương pháp giải quyết các vấn đề như: Phương pháp là gì? Bản
chất, nội dung, hình thức của phương pháp như thế nào? Phân loại phương
pháp ra sao? Vai trò của phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn của con người như thế nào? … Do đó có thể nói cách khác
cụ thể hơn, phương pháp luận luận là hệ thống những quan điểm, những
nguyên tắc xuất phát chỉ đạo cụ thể tổng việc xác định phạm vi, khả năng
áp dụng chúng một cách hợp lý có hiệu quả tối đa.
Mọi khoa học đều có lý luận về phương pháp của mình, vì nghiên cứu
đối tượng, các khoa học đều phải xác định cho được các phương pháp thích
- Nguyên tắc xem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động.
Cơ sở lý luận là nguyên lý về sự phát triển. Với yêu cầu là khi thực
hiện nguyên tắc này không chỉ dừng ở chỗ liệt kê các giai đoạn phát triển
lịch sử mà sự vật đã trải qua, mà phải vạch ra tính tất yếu, những quy luật
chi phối sự liên hệ và thay thế các trạng thái, từ trạng thái này sang trạng
thái khác của sự vật.
- Nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử và logic.
Ở đây: Lịch sử là khách thể được nghiên cứu trong sự vận động và
phát triển. Logíc là sự tái tạo dưới hình ảnh tinh thần khách quan đang vận
động và phát triển với những mối liên hệ tất yếu và xác định. Cơ sở lý luận
của nó là: Phương pháp lịch sử và phương pháp logíc. Yêu cầu chung là
phương pháp lịch sử phải nắm lấy cái logíc, xoay quanh cái logíc. Phương
pháp logíc phải dựa trên các tài liệu lịch sử để vạch ra những mối liên hệ tất
yếu, những quy luật khách quan vốn có trong quá trình lịch sử.
- Nguyên tắc thống nhất giữa phân tích và tổng hợp, giữa qui nạp và
diễn dịch.
3
Biện chứng duy vật
Phân tích và tổng hợp được tiến hành trong quá trình nhận thức là sự
lặp lại trong ý thức quá trình phân giải và tổng hợp ở thế giới khách quan.
Quy nạp là thao tác mà tư duy đi từ tri thức về cái riêng (sự vật hiện
tượng, quá trình riêng lẻ), đến tri thức về cái chung, từ tri thức ít chung đến
tri thức chung hơn.
Diễn dịch là thao tác nhờ đó tư duy đi từ tri thức chung đến tri thức
chung hơn, đến tri thức về cái riêng.
- Nguyên tắc đi từ lý luận trừu tượng đến cụ thể.
Cơ sở lý luận là sự tổng hợp lại nhờ tư duy lý luận các tài liệu do trực
quan sinh động đem lại, ở đây cái trừu tượng phản ánh những mối liên hệ
phổ biến nhất, đơn giản nhất nhưng có vai trò quyết định trong cái cụ thể
con đường tìm tới chân lý. Thế nhưng tất cả các nhà triết học đó do sự hạn
chế của các điều kiện khách quan và chủ quan đều chưa đem lại cho loài
người một thế giới toàn bộ triệt để, một phương pháp luận khoa học cách
mạng ở vị trí đó ta thường bắt gặp tính không nhất quán, duy vật khi giải
thích vấn đề này, nhưng lại duy tâm khi giải thích vấn đề khác, duy vật
nhưng lại siêu hình, không biện chứng hoặc biến chứng nhưng lại tiến tới
duy tâm. Điều quan trọng nhất là tất cả các nhà triết học trước Mác để đứng
lại ở nhận thức lĩnh vực tự nhiên và khi chuyển sang nhận thức vấn đề xã
hội họ đều không tránh khỏi rơi vào duy tâm, sai lầm, phản khoa học. Mác
- Ănghen là những người đầu tiên thống nhất chủ nghĩa duy vật biện chứng
hay phép biện chứng duy vật, phép biện chứng ra đời đánh dấu bước phát
triển mới về chất trong lĩnh vực triết học, đó là học thuyết triết học hoàn bị,
triệt để thống nhất được xây dựng trên lập trường thế giới mới. Nó bao hàm
cả lĩnh vực tự nhiên xã hội và tư duy con người. Phép biện chứng duy vật
không phải là tổng số những nguyên lý, quy luật, phạm trù mà các nhà kinh
điển của chúng ta tạo ra là sự liên hệ hữu cơ có nguyên tắc của các tri thức
đã được xác lập trong hệ thống ấy. Giá trị thời đại của học thuyết ấy là ở
chỗ nó là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp, giữa lý luận
và thực tiễn, giữa tính khoa học và cách mạng.
5
Biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật là một hệ thống mở, năng động, nó dành cả
một phương hướng rộng lớn cho sự chứng minh của khoa học, cho sự bù
đắp của tri thức nhân loại, là sự hướng dẫn và là động lực cho con người
trong việc cải tạo tự nhiên xã hội và tư duy. Phép biện chứng ra đời từ sự
sáng tạo và đồng thời cũng đặt ra yêu cầu sáng tạo trong việc vận dụng nó
trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Nếu như trước đây phép biện
chứng đôi khi do các nhà duy tâm nghiên cứu và các nhà duy vật dù là
phản đối phép siêu hình thì bây giờ phép biện chứng đó đã tìm thấy người
Định nghĩa phép biện chứng cho biết, phép biện chứng nói chung chỉ
mối liên hệ, vận động, phát triển của các sự vật phát triển. Thực chất của
các mối liên hệ vận động phát triển ấy là sự thống nhất, đấu tranh của các
mặt đối lập gọi là mâu thuẫn.
Quan điểm biện chứng cho rằng các sự vật, hiện tượng hay những sản
phẩm tinh thần của thế giới, tồn tại trong mối liên hệ, tác động lẫn nhau và
không ngừng vận động phát triển.
Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình cho rằng các
sự vật hiện tượng trong thế giới tồn tại cô lập, tĩnh lại không vận động,
không phát triển. Nếu có sự thừa nhận trong quan điểm này về vận động
của thế giới thì đó là sự tăng giảm đơn thuần về lượng hoặc vận động theo
chu kỳ khép kín.
Những người theo quan điểm siêu hình nói chung phủ nhận sự phát
triển, họ tuyệt đối hoá các mặt ổn định của sự vật, hiện tượng. Họ cho rằng
không có sự ra đời của cái mới và nguồn gốc của chúng nằm ở bên ngoài
sự vật, hiện tượng. Như vậy quan điểm biện chứng khác quan điểm siêu
hình ở chỗ: Nó xem xét sự phát triển như một quá trình tiến lên, thông qua
những bước nhảy vọt, cái cũ mất đi và cái mới ra đời. Nó vạch ra nguồn
gốc bên trong của sự vận động và phát triển, đó là cuộc đấu tranh giữa
những mặt đối lập bên trong của sự vật, hiện tượng.
7
Biện chứng duy vật
Có hai loại phép biện chứng đó là biện chứng khách quan và biện
chứng chủ quan.
Trong lịch sử triết học có ba hình thức cơ bản của phép biện chứng
phản ánh trình độ nhận thức khác nhau của nhân loại về biện chứng khách
quan của thế giới, phép biện chứng ngây thơ, phép biện chứng duy tâm,
phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng ngây thơ tự phát cổ đại, tiêu biểu là Hêcralít. Ông
liên hệ với nhau theo phương thức nào đó và tạo những hệ thống chằng chịt
của thế giới. Liên hệ không chỉ giữa các sự vật với nhau mà còn có các yếu
tố, các mặt bên trong của sự vật, giữa các giai đoạn phát triển khác nhau
của sự vật.
Đối lập với quan điểm về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng
duy vật. Quan điểm siêu hình cho rằng sự vật trong thế giới tồn tại một
cách cô lập, tách rời nhau. Còn quan điểm biện chứng duy vật cho rằng mối
liên hệ phổ biến là liên hệ hiện thực khách quan vốn có trong các sự vật,
hiện tượng không do ai sắp đặt, sáng tạo ra cả. Đặc trưng của mối liên hệ là
mang tính phổ biến, mang tính khách quan và tính đa dạng.
Trong các mối liên hệ, có thể phân ra một số loại như sau:
Liên hệ bên trong và bên ngoài, liên hệ bên trong là liên hệ giữa các
yếu tố các mặt bên trong của sự vật còn liên hệ bên ngoài là liên hệ giữa
các sự vật với nhau. Liên hệ bên trong qui định sự tồn tại, phát triển của sự
vật, liên hệ bên ngoài tác động thông qua liên hệ bên trong. Mối liên hệ bên
trong và bên ngoài chỉ có tính tương đối.
Liên hệ cơ bản và không cơ bản, liên hệ cơ bản là mối liên hệ giữa các
mặt, các yếu tố cơ bản của sự vật. Liên hệ không cơ bản là mối liên hệ giữa
các mặt, các yếu tố không cơ bản của sự vật. Liên hệ cơ bản quyết định sự
phát triển của sự vật, còn liên hệ không cơ bản phụ thuộc vào liên hệ cơ
bản. Sự phân biệt chúng chỉ mang tính tương đối.
Liên hệ chủ yếu và liên hệ thứ yếu, liên hệ chủ yếu là liên hệ nổi lên ở
một thời điểm nhất định trong sự phát triển của sự vật và quyết định sự
9
Biện chứng duy vật
phát triển của sự vật tại thời điểm đó, còn liên hệ thứ yếu là liên hệ không
quyết định sự phát triển của sự vật ở thời điểm nói trên. Hai mối liên hệ này
có thể chuyển hoá lẫn nhau.
Liên hệ gián tiếp và liên hệ trực tiếp, liên hệ gián tiếp là liên hệ được
chiều hướng tiến lên, đưa sự ra đời của cái mới thay thế cho cái cũ mới là
sự phát triển. Không có cái mới xuất hiện thì không có sự phát triển. Cái
mới bao hàm trong nó cái tiến bộ, cái tích cực, sau khi đã loại bỏ cái tiêu
cực, cái lạc hậu của cái cũ. Cái mới là một chất lượng khác, mới trong sự
phát triển của sự vật. Nó tổng hợp sự phát triển của sự vật trước đó thành
một giai đoạn cao hơn.
Phát triển là quá trình khách quan của thế giới. Nó không chỉ phụ
thuộc vào ý thức, ý chí con người mà còn qui định ý thức con người.
Phát triển còn là quá trình phổ biến của thế giới, đồng thời là quá trình
mang tính đa dạng. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới có quá trình phát
triển và biểu hiện sự phát triển khác nhau.
Phát triển còn là quá trình thống nhất giữa tính tất yếu và tính đa dạng.
Khuynh hướng chung, tất yếu của thế giới là quá trình vận động đi lên từ
thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp đưa đến sự xuất hiện của cái mới
thay thế cho cái cũ. Phát triển là một quá trình quanh co, phức tạp, bao hàm
cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, bao hàm cả những bước hụt lùi tạm
thời, những sự vận động đi chệch, một quá trình dường như lặp lại cái cũ
nhưng ở một trình độ cao hơn. Do đó phát triển được diễn đạt như một
đường xoắn ốc đi từ thấp lên cao của thế giới khách quan.
Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển.
Cần xuất phát từ quá trình phát triển khách quan của sự vật để nhận
thức, tác động lên nó. Phát triển là quá trình tất yếu khách quan cho nên
phải có quan điểm phát triển trong nhận thức thì mới phản ánh, nắm bắt
đúng đắn, kịp thời những thay đổi của sự vật, hiện tượng đề từ đó đề ra
những giải pháp tác động cải biến sự vật một cách phù hợp. Phát triển là
quá trình bao hàm những mâu thuẫn có cả những bước thụt lùi tất nhiên,
11
Biện chứng duy vật
không tránh khỏi, do đó cần phải lường trước và biết chấp nhận những thất
sự thừa nhận (sự tìm ra), những khuynh hướng mâu thuẫn bài trừ lẫn nhau,
đối lập trong tất cả các hiện tượng, các quá trình của giới tự nhiên (kể cả
tinh thần và xã hội).
Chúng ta có thể chỉ ra một số đặc điểm của mâu thuẫn như sau:
Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong các sự vật, hiện tượng. Nó không
những tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí con người mà còn
qui định cả ý thức, ý chí con người.
Mâu thuẫn mang tính phổ biến. Mâu thuẫn có trong sự vật, hiện tượng
của thế giới bao gồm cả tự nhiên, xã hội, lẫn tư duy con người. Mâu thuẫn
có trong các giai đoạn phát triển khác nhau của sự vật và tồn tại giữa các sự
vật, hiện tượng.
Mâu thuẫn mang tính đa dạng. Mỗi sự vật quá trình của thế giới khách
quan tồn tại những mâu thuẫn khác nhau. Mâu thuẫn trong tự nhiên khác
mâu thuẫn trong xã hội, khác mâu thuẫn trong tư duy. Bản thân mọi quá
trình khác nhau trong tự nhiên, xã hội, tư duy lại có những mâu thuẫn khác
nhau.
Có một số loại mâu thuẫn:
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:
Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn của các mặt đối lập bên trong sự
vật còn mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật khác nhau
Mâu thuẫn bên trong quyết định mâu thuẫn bên ngoài và là nguồn gốc
bên trong của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Mâu thuẫn
bên ngoài tác động đến sự phát triển của sự vật phải thông qua mâu thuẫn
bên trong.
Sự vật nào cũng có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Phân biệt mâu thuẫn bên trong và bên ngoài mang tính tương đối.
Mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản:
13
Biện chứng duy vật
Biện chứng duy vật
Cả hai mâu thuẫn này đều được giải quyết bằng con đường đấu tranh
giữa các mặt đối lập, chứ không phải là điều hoà giữa các mặt đối lập.
Ý nghĩa phương pháp luận của qui luật mâu thuẫn.
Tôn trọng tính khách quan của qui luật. Nghĩa là trong hoạt động thực
tiễn và nhận thức qui luật phải xuất phát từ sự tồn tại thực tế của qui luật
mâu thuẫn để nhận thức và vận dụng nó, chứ không được xuất phát từ
mong muốn, của nhận thức của chúng ta về mâu thuẫn.
Muốn tìm hiểu được nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển
của sự vật thì phải tìm ra, phải căn cứ vào mâu thuẫn của sự vật.
Mâu thuẫn là quá trình, do đó phải nhận thức và vận dụng qui luật
mâu thuẫn trong quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, tuỳ theo mỗi giai
đoạn phát triển của mâu thuẫn mà có những cách tác động lên mâu thuẫn
khác nhau.
Phải có quan điểm phân loại mâu thuẫn trong nhận thức và vận dung
nó.
Mọi mâu thuẫn dứt khoát phải được giải quyết thông qua con đường
đấu tranh giữa các mặt đối lập, tránh khuynh hướng thủ tiêu mâu thuẫn hay
điều hoà mâu thuẫn dưới hình thức này hay khác.
2. Qui luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
và ngược lại hay còn gọi là qui luật lượng chất.
Qui luật lượng chất vạch ra phương thức hay cách thức của sự vận
động phát triển của thế giới.
Chúng ta hãy xem xét qua một số khái niệm. Trước hết đó là khái
niệm chất, có thể hiểu chất là tính qui định vốn có của sự vật, hiện tượng, là
sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, yếu tố cấu thành từ sự vật, nói
lên sự vật đó là gì và phân biệt nó với các sự vật hiện tượng khác.
15
Biện chứng duy vật
Biện chứng duy vật
3. Qui luật phủ định.
Có thể nói phủ định là quá trình hình thành và phát triển cái mới trên
cơ sở loại bỏ những cái lạc hậu, cái tiêu cực trong cái cũ, giữ lại toàn bộ,
cái tích cực trong nó và đem vào trong thành phần của cái mới sau khi đã
cải biến.
Quan điểm trên là quan điểm về phủ định biện chứng. Nó đối lập với
phủ định siêu hình là quá trình loại bỏ, tách rời cái cũ khỏi cái mới.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phủ định chỉ rõ, phủ
định biện chứng chỉ ra sự nảy sinh cái mới trong lòng cái cũ, bắt nguồn từ
cái cũ. Ở đây phủ định là sự gián đoạn trong sự phát triển liên tục của sự
vật. Nhờ những giai đoạn này, mà sự vật đạt được những trạng thái chất
lượng mới trong sự tồn tại, phát triển của chúng.
Phủ định biện chứng là quá trình nhiều mặt, không những phủ định về
lượng mà còn về chất, bộ phận và toàn bộ, phủ định bao hàm cả khẳng
định. Phủ định biện chứng là sự tự phủ định do mâu thuẫn bên trong của sự
vật qui định, chứ không phải là quá trình đem từ ngoài vào sự vật. Phủ định
là một phương thức mới, một thành tố tất yếu của quá trình phát triển. Sự
vật mới, yếu tố mới, hình thành phát triển nhất định phải phủ định sự vật và
yếu tố cũ. Không có phủ định thì không có bất cứ quá trình phát triển nào.
Khái niệm phủ định của phủ định: Phủ định của phủ định là khái niệm
chỉ quá trình phát triển của sự vật từ thấp lên cao được thực hiện bằng hai
lần phủ định cơ bản, nhờ đó sự vật mới hình thành.
Trong thực tế, phủ định của phủ định là một chuỗi những phủ định.
Mỗi phủ định đều bao hàm khẳng định. Phủ định cho ta thấy tính chất lặp
lại trong quá trình phát triển của sự vật. Sau lần phủ định thứ hai sự vật
dường như trở lại cái ban đầu.
Nhưng thực tế sự quay trở lại đó đã ở trên một trình độ cao hơn về
chất so với ban đầu của nó. Phủ định nối tiếp nhau theo những chu kỳ tạo
thành đường xoắn ốc.
giống ở nhiều sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau. Cái đơn nhất là
18
Biện chứng duy vật
phạm trù chỉ những thuộc tính, hay yếu tố nào đó của sự vật nhất định,
không tồn tại lặp lại trong các sự vật khác. Giữa cái riêng và cái chung có
mối liên hệ thống nhất với nhau. Tuy nhiên giữa chúng cũng có sự đối lập,
cái riêng là bộ phận còn cái chung là toàn thể. Cái chung, cái riêng, cái đơn
nhất có thể chuyển hoá lẫn nhau.
Chúng ta phải thấy được vai trò quan trọng, quyết định của cái chung
trong sự thiết lập hệ thống các sự vật, thấy được tính phong phú, toàn thể
của cái riêng trong sự tồn tại tất yếu của sự vật. Cái đơn nhất thể hiện tính
khác biệt của cái riêng này và cái riêng khác.
Nguyên nhân và kết quả.
Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố của sự
vật hay các sự vật với nhau trong điều kiện nào đó, thì gây ra sự biến đổi
này hay khác của sự vật. Kết quả là sự biến đổi do tác động lẫn nhau của
các yếu tố, các mặt hay các sự vật khác nhau gây nên. Quan hệ nhân quả
tồn tại, tác động khách quan, phổ biến và đa dạng trong thế giới. Giữa
nguyên nhân và kết quả có một số mối quan hệ: nguyên nhân và kết quả là
hai mặt của quá trình thống nhất, giữa nguyên nhân và kết quả cũng có sự
đối lập, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trong nguyên
nhân lại gồm một số loại nguyên nhân: nguyên nhân bên trong và nguyên
nhân bên ngoài, nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản, nguyên
nhân thứ yếu và nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân chủ quan và nguyên
nhân khách quan. Chúng ta tôn trọng tính khách quan của quan hệ nhân
quả. Muốn hiểu nguyên nhân thì phải thông qua kết quả. Phải có quan điểm
phân loại nguyên nhân mới thấy rõ vai trò của mỗi nguyên nhân trong việc
quyết định kết quả. Muốn khắc phục triệt để hậu quả phải khắc phục từ
nguyên nhân. Đó chính là ý nghĩa của phương pháp luận của quan hệ nhân
tích cực cho việc thiết lập những tổ chức mới.
Tất nhiên và ngẫu nhiên.
Tất nhiên là cái xảy ra do nguyên nhân bên trong cơ bản của sự vật qui
định và trong những điều kiện nhất định, nó nhất định phải xảy ra đúng như
20
Biện chứng duy vật
thể không khác được. Ngẫu nhiên là cái xảy ra do nguyên nhân bên trong
của sự vật qui định. Cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên tồn tại khách quan, phổ
biến và đa dạng trong các sự vật hiện tượng. Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
có một sự thống nhất, tất nhiên chỉ có thể xem xét trong mối quan hệ với
cái ngẫu nhiên và ngược lại. Không có tất nhiên thì không có ngẫu nhiên và
ngược lại cũng như thế.
Muốn nhận thức cái ngẫu nhiên phải chỉ ra nguyên nhân bên trong cơ
bản qui định nó, đối với cái ngẫu nhiên thì giải thích từ nguyên nhân bên
ngoài. Nhận thức tất nhiên giúp ta khắc phục hậu quả từ nguồn gốc, từ
nguyên nhân của nó.
Khả năng và hiện thực.
Khả năng là những tiền đề phát sinh của cái mới bên trong cái cũ, là
những mầm mống, khuynh hướng phát triển khách quan trong các sự vật.
Hiện thực là sự xuất hiện của những sự vật, quá trình mới hay là khả năng
đã thành hiện thực. Khả năng và hiện thực là hai giai đoạn của một quá
trình thống nhất trong sự phát triển của sự vật. Không có khả năng thì
không có hiện thực và ngược lại. Khả năng nào thì có hiện thực đó, không
có khả năng cho mọi hiện thực và hiện thực cho mọi khả năng. Khả năng
và hiện thực khác nhau về bản chất, khả năng là cái có trước và hiện thực là
cái có sau. Khả năng qui định hiện thực còn hiện thực phụ thuộc vào khả
năng. Giữa khả năng và hiện thực có thể chuyển hoá lẫn nhau.
21
C/ Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000 - NXB Sự
thật Hà Nội 1991 - Trang 12.
D/ Tạp chí triết học, số 1 (101), tháng 2 - 1998.
Đ/ Triết học Mác - Lênin - NXB Chính trị quốc gia.
23