TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ HẠN CHẾ CỦA NÓ
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Người viết: Nguyễn Thị Thu Hằng
STT: 050 Lớp: Đêm 5 Khóa: 21
TP.HCM, tháng 02 năm 2012
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 1
DANH MỤC TRÍCH DẪN
1. http://thpt-aluoi-tthue.edu.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=print/Tai-
lieu-tham-khao/CO-SO-XA-HOI-CUA-SU-THI-AN-DO-VA-HY-LAP-42
2. TS. Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học Phần II- Các chuyên đề về triết học Mac –
LêNin 2011
3. TS. Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học Phần I-Đại cương về lịch sử triết học, 2011
4. http://lichsuvn.info/forum/showpost.php?p=384528&postcount=6
5. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB Chính
trị quốc gia- Hà Nội 2005
6. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc
gia- Hà Nội 2005
7. Học viện chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện chính trị - Hành
chính khu vực II Khoa Triết học. Đề cương bài giảng Triết học Mác – Lênin, , NXB
chính trị- Hành chính 2009
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học Phần II- Các chuyên đề về triết học Mac –
LêNin 2011
giới quan duy vật cũng rất quan trọng, hiểu được cội nguồn phát triển sẽ giúp chúng
ta hiểu sâu sắc hơn về chủ nghĩa duy vật biện chứng. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài
“Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó”
làm đề tài nghiên cứu của mình.
Tiểu luận này gồm có hai chương và tôi đã dựa vào các giáo trình: Hội đồng
Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác –Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc gia-
Hà Nội 2005, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB
Chính trị quốc gia- Hà Nội 2005, Học viện chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, Học viện chính trị - Hành chính khu vực II Khoa Triết học. Đề cương bài
giảng Triết học Mác – Lênin, , NXB chính trị- Hành chính 2009…
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 4
CHƯƠNG I: NHỮNG TƯ TƯỞNG, TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC CỦA
CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
Hy Lạp cổ đại thời kỳ này là một quốc gia nô lệ điển hình và có vị trí địa lý
thuận lợi là cửa ngõ giao lưu Đông – Tây nên Hy Lạp cổ đại đã có điều kiện tiếp thu
được những kiến thức về văn hóa phương Đông và khoa học tự nhiên của người Ai
Cập, Babilon và một phần là những kiến thức của người Ấn Độ cổ đại nên sớm trở
thành cái nôi của nền văn minh phương Tây. Từ những nét đặc thù về kinh tế - xã
hội ấy, triết học Hy Lạp cổ đại có một vị trí và vai trò rất quan trọng đối với lịch sử
triết học thế giới, nó đã mở đường cho sự phát triển triết học Tây Âu sau này.
II. CÁC TƯ TƯỞNG, TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA DUY
VẬT CHẤT PHÁC CỔ ĐẠI HY LẠP
1. Chủ nghĩa duy vật chất phác
Thực chất của chủ nghĩa duy vật chất phác là một hệ thống các quan điểm,
quan niệm ngây thơ về thế giới và con người. Các quan điểm, quan niệm của thế
giới này đều xuất phát từ luận điểm cơ bản cho rằng, căn nguyên của vạn vật là một
(hay vài) dạng vật chất cụ thể cảm tính nào đó mà sự biến đổi theo lẽ tự nhiên của
nó làm cho vạn vật trong thế giới (bao gồm cả con người và đời sống tinh thần của
từ bản nguyên đầu tiên là nước, là cái có thể cảm nhận được bằng giác quan và liên
quan chặt chẽ gần gũi với đời sống con người thì theo Anaximăngđrơ, lại là một cái
không xác định là apeiron- cái vô định hình, vô cùng tận, tồn tại bất diệt, vĩnh viễn.
Anaximăngđrơ cho rằng “apeiron chứa trong mình những lực lượng đối lập nhau;
chính sự đấu tranh của những lực lượng đối lập này mà vạn vật có hình thể, tính chất
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 6
khác nhau được sinh ra, và sau đó, các vật đối lập nhau sẽ hủy diệt nhau để trở về với
apeiron ”
[3,94]
Cũng giống như Talét, Anaximen đã tìm kiếm sự khởi đầu của vạn vật đó chính
là không khí, là yếu tố vật chất có liên quan mật thiết đối với đời sống con người.
Theo ông, khắp vũ trụ được bao trùm bởi không khí và thở: “Cũng như linh hồn
chúng ta, là không khí, giữ chúng ta cùng nhau, cùng hít thở, và không khí bao
quanh toàn bộ thế giới”
[4]
. Dưới góc nhìn của Anaximen thì: Mọi vật được sinh ra từ
không khí, do có năng lực tán tụ mà không khí có thể biến thành nước, đất đá hay
lửa. Lửa do nhẹ mà bay lên tạo thành bầu trời. Đất đá do nặng mà rơi xuống đất tạo
thành tâm vũ trụ. Và từ chúng vạn vật ra đời, tồn tại.
[3,94]
b) Trường phái Hêraclit
- Quan niệm về thế giới:
Sự lớn nhất, nổi tiếng nhất ở Hêraclit là triết học duy vật với nhiều tư tưởng biện
chứng chất phác có giá trị. Ông cho rằng: Thế giới vật chất là do chính vật chất sinh
ra, mà dạng vật chất đầu tiên sinh ra các dạng vật chất khác đó là lửa. Lửa là bản
nguyên vật chất, là nguyên tố vật chất đầu tiên của mọi dạng vật chất
[5,76]
. Vạn vật
đều từ lửa mà ra rồi lại quay trở về với lửa. Toàn bộ thế giới đều là sản phẩm biến đổi
của lửa.“Cái chết của lửa – là sự ra đời của nước, từ cái chết của nước sinh ra không
nhưng ông không tuyệt đối nó vì cảm tính không đủ sức để khám phá tự nhiên. Vì
vậy, muốn nhận thức được những bí ẩn của tự nhiên phải tư duy, phải có đầu óc sáng
suốt. Ông còn nêu lên rằng chân lý luôn mang tính tương đối vì tùy thuộc vào hoàn
cảnh và điều kiện mà thiện- ác, xấu- tốt sẽ chuyển hóa cho nhau.
c) Trường phái đa nguyên Empêđốc – Anaxago:
Empêđốc là người đầu tiên đã thay đổi học thuyết nhất nguyên thành một loại
học thuyết đa nguyên để xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật
chất để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật.
Empêđốc thừa nhận có sự tồn tại của 4 khởi nguyên độc lập, bất biến là: đất,
nước, không khí, lửa. Các nguyên tố này trộn lẫn nhau và tách biệt nhau bởi sự tác
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 8
động của 2 loại lực là: tình yêu và hận thù. Do đó, tình yêu và hận thù, trên nhiều
phương diện được coi như vật chất giống như bốn nguyên tố kia, chúng chính là
nguyên nhân tạo ra mọi sự thay đổi. Dưới con mắt của Empêđốc thì nếu như với sự
tác dụng lực tình yêu, đất, nước, không khí, lửa kết hợp lại tạo nên vạn vật thì dưới tác
dụng của lực hận thù chúng bị chia tách ra làm vạn vật mất đi. Và vạn vật khác nhau
xuất hiện hay biến mất là tuỳ thuộc vào liều lượng của các yếu tố đất, nước, không
khí, lửa, và tuỳ thuộc vào mức độ tác động của 2 loại lực tình yêu và hận thù sẽ dẫn
đến những kết quả khác nhau. Theo ông, vũ trụ tồn tại trải qua bốn giai đoạn, sự sống
hình thành trong đại dương và sau đó lan ra khắp nơi trên thế giới.
Bước tiếp theo hướng đến trường phái đa nguyên đã được thực hiện bởi
Anaxago. Ông cho rằng vạn vật được sinh ra từ những cái tương tư như chúng, và
ông gọi cái đó là các hạt giống- cái vô cùng nhỏ và có thể phân chia đến vô cùng tận
và bản thân nó không đồng nhất, nó chứa tất cả các hạt giống khác ở liều lượng nhỏ
hơn. Vì có nhiều vô kể các hạt giống khác nhau nên có vô số vạn vật tồn tại.Mỗi sự
vật chứa trong mình mọi hạt giống của các sự vật khác nhưng nó chỉ bị quy định bởi
tính chất hạt giống của chính nó. Ông nói: “Tất cả các vật sẽ có trong mọi vật;
chúng không thể tách riêng ra, nhưng tất cả các vật đều có một phần của mọi
vật.”
[4]
vị trí. Đêmôcrít là người đầu tiên trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại đưa ra khái
niệm “không gian”. Theo ông “không gian là khoảng chân không rộng lớn, trong đó
những nguyên tử vận động vĩnh viễn”
[5,78]
. Nguyên tử vận động trong khoảng không
gian theo đường lốc xoáy đẩy các nguyên tử nhỏ nhẹ ra bên ngoài, nguyên tử nặng
thì được tụ lại vào tâm, kết hợp với nhau tạo nên mọi vật. Và từ đây Trái Đất, sự
sống, con người, vũ trụ…xuất hiện. Nguyên tử có vô vàn hình dạng, chính vì thế
giải thích được tính đa dạng của các sự vật trong thế giới vật chất.
+ Về nguồn gốc của sự vật và và sự sống:
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 10
Về sự sống con người, Đêmôcrít bác bỏ quan niệm duy tâm, tôn giáo khi cho
rằng sự sống do thần thánh sinh ra. Theo ông, sự sống là kết quả của một quá trình
biến đổi lâu dài của giới tự nhiên: “ Sự sống phát sinh từ những vật thể ẩm ướt,
dưới tác dụng của nhiệt độ. Sinh vật sống đầu tiên được hình thành từ nước bùn,
chúng sống dưới nước, sau đó chúng lên sống trên cạn và tiến hóa dần đưa đến sự
xuất hiện con người”
[3,99]
Đêmôcrít phê phán quan niệm tôn giáo về sự bất tử của linh hồn, ông cho rằng
linh hồn cũng được tạo thành từ các nguyên tử và linh hồn sẽ rời thể xác và tan rã
thành các nguyên tử khi sinh vật chết đi.
- Về lý luận nhận thức:
Đêmôcrít có nhiều công lao trong việc xây dựng lý luận về nhận thức. Ông
phân nhận thức con người thành dạng nhận thức do các cơ quan cảm giác đem lại và
nhận thức nhờ lý tính. Nhận thức do cơ quan cảm giác mang lại là nhận thức mờ tối,
chưa đem lại chân lý. Muốn khám được bản chất sự vật cần phải thông qua nhận
thức lý tính. Nhận thức cảm tính là tiền đề của nhận thức lý tính.Thông qua nhận
thức lý tính cho phép đạt chân lý, tuy nhiên đó là một quá trình khó khăn và phức
tạp, đòi hỏi phải có một năng lực tư duy để tìm tòi khám phá.
- Quan niệm về chính trị - xã hội;
nhau.Từ những quan niệm về thế giới của các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã
đặt nền móng cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về thế giới và vũ trụ sau này.
- Trong khi triết học chủ nghĩa duy tâm thời kỳ này còn chịu ảnh hưởng nặng
nề của thần linh và tôn giáo, coi ý niệm là cái có trước, còn thế giới sự vật là cái có
sau và được sáng tạo bởi ý niệm thì các nhà triết học duy vật cổ đại Hy Lạp đã có
những sự khám phá tìm tòi về sự vận động của thế giới tự nhiên, phủ nhận sự tồn tại
của thần linh, Thượng đế. Với những thành tựu đạt được này mà chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 12
Hy Lạp đã phát triển lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức đương đầu chống lại các trào
lưu duy tâm đang thịnh hành lúc bấy giờ.
2. Giá trị về nhận thức luận
- Các nhà triết học trường phái Milê tuy còn mộc mạc, thô sơ nhưng đã chứa
đựng những yếu tố biện chứng chất phác, mở ra thời đại lý trí của triết học – khoa
học. Hêraclit thì có nhiều phân tích về nhận thức luận và ông được Lênin đánh giá cao
những quan niệm đó và cho rằng chúng đã thể hiện một trong những điểm cơ bản của
phép biện chứng. Đến Đêmôcrit ông có nhiều công lao trong việc xây dựng lý luận về
nhận thức. “Ông đặt ra và giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận
thức, vai trò của cảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của
tư duy trong việc nhận thức tự nhiên”
[5,79]
. Các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã
có một trình độ nhận thức cao hơn và sâu sắc hơn về thế giới, giúp con người có một
cách nhìn nhận tiến bộ hơn. Những lý luận nhận thức này là nền tảng cho những
nghiên cứu của nhân loại sau này.
3. Giá trị trong những quan niệm về con người và xã hội
- Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề về con người. Đạo đức lần
đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập đến. Họ đã có những tư tưởng, quan
niệm tiến bộ về con người và xã hội, họ đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con
người. Dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung, họ đều khẳng định con
người là tinh hoa cao quý nhất. “Thế giới quan duy vật chất phác không dựa vào cái
thần, tạo ra các linh hồn. Hay những khái niệm mang ảnh hưởng của chủ nghĩa duy
tâm “linh hồn”, “tình yêu”, “hận thù” của Empêđốc.
- Đêmôcrit tuy có cho rằng vận động là thuộc tính của vật chất, gắn liền với
vật chất nhưng hạn chế của ông là ở chỗ ông không giải thích được nguồn gốc của
sự vận động.
- Tuy có tiến bộ trong việc coi trọng về vấn đề con người, đề cao con người
nhưng vì còn chịu ảnh hưởng của giai cấp chủ nô thống trị nên vẫn bảo vệ lợi ích
Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại và những giá trị hạn chế của nó Trang 14
của tầng lớp mình, bảo vệ chế độ dân chủ chủ nô, chưa thấy được tính tất yếu của
việc giải phóng con người hoàn toàn tự do khỏi chế độ nô lệ.
- Chính phép biện chứng còn ngây thơ chất phác chưa rõ ràng, còn rời rạc,
chưa hệ thống hóa, trừu tượng nên sau giai đoạn phát triển rực rỡ đã không đứng
vững và bị phép siêu hình xuất hiện từ thế kỷ IV đến thế kỉ XV thay thế bởi triết học
– thần học
KẾT LUẬN
Nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại mà điển hình là chủ nghĩa duy vật
chất phác, nó đã chứa đựng mầm mống của tất cả các hình thức thế giới quan, nó đã
đặt ra hầu hết các vấn đề triết học căn bản mà sau này các học thuyết triết học sẽ
từng bước giải quyết theo nội dung của thời đại mình. Những thành tựu của chủ
nghĩa duy vật ngây thơ, chất phác trong triết học Hy Lạp cổ đại có ý nghĩa rất lớn
đến sự phát triển của chủ nghĩa duy vật nói chung và sự nhận thức của con người nói
riêng về thế giới. Những thành tựu này góp phần tạo thành bộ khung cơ bản nhất để
mô tả thế giới. Những tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại dù còn rất sơ khai nhưng
bước đầu nó đã cho thấy quan hệ biện chứng trong tự nhiên và mối quan hệ biện
chứng trong xã hội. Tuy còn nhiều hạn chế nhưng trong thời kỳ cổ đại, Chủ nghĩa
duy vật chất phác đã thu được nhiều thành tựu tạo nên chỗ đứng và nền tảng vững
chắc là cơ sở cho sự phát triển của Chủ nghĩa duy vật những giai đoạn sau. Qua đó,
chúng ta rút ra được bài học kinh nghiệm trong thực tiễn: Xuất phát từ một lập
trường triết học khác nhau, con người sẽ đi đến chỗ lựa chọn những phương hướng
và cách thức giải quyết vấn đề một cách khác nhau. Điều đó có nghĩa là, việc chấp