TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI & NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ - Pdf 24

Trường Đại Học Kinh Tế
Phòng Quản Lý Đào Tạo Sau Đại Học
CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC
HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ
TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Học viên: Huỳnh Thị Diễm Hà
Lớp: CHKT – K21 – Đêm 5
TPHCM 2012
MỤC LỤC
M? Đ?U 3
CHƯƠNG 1: NH?NG TƯ TƯ?NG CƠ B?N C?A CH? NGHIA DUY V?T CH?T PHÁC HY L?P C? Đ?I 3
Hoàn c?nh ra đ?i 4
Các tư tư?ng, trư?ng phái cơ b?n ch? nghia duy v?t ch?t phác Hy L?p c? đ?i 4
Khái ni?m 5
Trư?ng phái Milê 5
Trư?ng phái Hêcralit 8
Trư?ng phái đa nguyên Empêđ?c – Anaxago 9
Trư?ng phái nguyên t? lu?n Lơxip – Đêmôcrit 10
CHƯƠNG 2: GIÁ TR? VÀ H?N CH? C?A CH? NGHIA DUY V?T CH?T PHÁC HY L?P C? Đ?I 14
Giá tr? c?a ch? nghia duy v?t ch?t phác Hy L?p c? đ?i 14
H?n ch? c?a ch? nghia duy v?t ch?t phác Hy L?p c? đ?i 15
K?T LU?N 16
TÀI LI?U THAM KH?O 17
2
MỞ ĐẦU
- Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại thời cổ đại, là
thời kì phát triển rực rỡ của xã hội loài người. Hy lạp cổ đại không chỉ là một
trung tâm kinh tế - xã hội mà còn là một trung tâm văn hoá. Người Hy Lạp đã
xây dựng một nền văn minh vô cùng sáng lạng với những thành tựu rực rỡ
thuộc các lĩnh vực khác nhau. Chúng là cơ sở hình thành nền văn minh

Tiểu Á.
- Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo cơ sở cho sự phân hóa lao động và đề cao
lao động trí óc, coi thường lao động chân tay. Điều nay góp phần thúc đẩy
việc hình thành tầng lớp trị thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lí
luận để nghiên cứu triết học và khoa học.
- Hy Lạp cổ đại là chiếc nôi của nền văn minh Châu Âu và của cả nhân loại.
Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy
Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ thì
không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp và
đế quốc La Mã”.
- Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca, thần thoại. Thần thoại là nơi để con
người tưởng tượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí, nơi thể
hiện đời sống tâm linh, sự hình thành số phận , ……nơi đầu tiên để tư duy
triết học ra đời và từng bước triết học tách khỏi thần thoại, tự mình tư duy
về tự nhiên, đạo đức, về xã hội, về lẽ sống, về chân lý, về con người.
- Triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với lịch sử ra đời của nền chính trị Hy Lạp
cổ đại (mà đỉnh cao là nên dân chủ Aten) và phản ánh lịch sử của đất nước
này.
- Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau: thời kì hình thành, thời
kì cực thịnh và thời kì suy tàn. Cuộc đấu tranh giữa 2 khuynh hướng nhất
nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đoạn cực thịnh đã để lại
dấu ấn trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.
- Trong đó chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại đã để lại dấu ấn sâu
sắc nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại với các trường phái Mile,
Heraclit,…
II. Các tư tưởng, trường phái cơ bản chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp
cổ đại:
4
1. Khái niệm:
- Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại ra đời ở Hy Lạp vào thời kì

5
- Trường phái Milê tự phát đầu tiên trong triết học Hi Lạp cổ đại vào thế
kỉ 6 trước công nguyên. Thời ấy, Milê là một trung tâm thương mại,
hàng hải lớn, điều này tạo điều kiện mở rộng tầm nhìn của con người,
kích thích sự phát triển khoa học và văn hoá (thiên văn, toán học, địa lí,
nghệ thuật tạo hình, triết học).
- Những nhà triết học ở Milê (tiêu biểu là Thalet, Anaximanđrôt,
Anaximênêt) không tin vào thần thoại truyền thống (coi các thần linh là
nguyên nhân tạo ra thế giới).
- Họ cho rằng bản chất duy nhất, bản nguyên của thế giới là một vật thể
xác định (theo Thalet đó là nước, theo Anaximanđrôt đó là một thực thể
vô định và vô hạn, theo Anaximênêt đó là không khí.) hoặc là một chất
không xác định, vô hình, vô thuỷ vô chung, gọi là apeiron, vĩnh viễn vận
động, tự tách ra những mặt đối lập đấu tranh với nhau (nóng và lạnh), kết
hợp lại hoặc phân rã ra tạo thành thế giới muôn hình vạn trạng.
 Thalet:
+ Thalet xuất thân từ một gia đình thương nhân giàu có, ông có điều
kiện đi du lịch ở nhiều nước, quen biết nhiều nhà triết học phương
Đông, qua đó tiếp thu được nhiều kiến thức mới mẻ và công lao của
ông là nâng tri thức đó lên trình độ khoa học .
+ Thalet đã làm cho hình học trở thành môn khoa học. Từ những kinh
nghiệm chiêm tinh, phỏng đoán thiên văn học Babilon,…. Hiện tượng
động đất được ông giải thích là sự đụng chạm giữa trái đất và sóng
biển trong bão tố. Đó là cách giải thích ngây thơ chưa có cơ sở khoa
học, nhưng ở thời bấy giờ, nó có ý nghĩa về thế giới quan duy vật.
+ Thành tựu nổi bật của Thalet là quan niệm triết học duy vật. Ông cho
rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế giới.
Mọi vật đều sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước. Theo
Thalet, vật chất (nước) tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì
biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi. Toàn bộ thế giới là một

không khí .
+ Ông cho rằng, hơi thở chính là không khí. Không khí là cái vô định
hình, mà bản thân Apeiron cũng chỉ là một tính chất của không khí
7
- Ý nghĩa lớn của trường phái Mile trong lịch sử là tìm cách giải thích thế
giới một cách hợp lí từ bản thân thế giới tự nhiên chứ không phải là từ
bên ngoài nó, đồng thời cũng đề ra những quan niệm biện chứng ngây
thơ (đấu tranh giữa các mặt đối lập, lượng chuyển hoá thành chất, tính tất
yếu,…).
3. Trường phái Hêcralit:
- Theo Mác – Lênin, Hêraclít là người sáng lập ra phép biện chứng,
hơn nữa ông là người xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật.
Phép biện chứng của Hêraclit chưa được trình bày dưới dạng một hệ
thống các luận điểm khoa học, nhưng hầu hết các luận điểm cốt lõi của
phép biện chứng đã được ông đề cập dưới dạng các câu danh ngôn
mang tính thi ca và triết lý.
- Hêcraclit đã nêu lên tư tưởng về sự vận động vĩnh viễn của vật chất.
Theo Hêraclit không có sự vật hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt
đối, mà trái lại, tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành
cái khác và ngược lại.
- Ông cho rằng thế giới muôn vật không do thần thánh nào tạo nên, cũng
không phải con người tạo ra mà là do ngọn lửa vĩnh viễn, linh động nhen
nhóm lên. Mọi sự vật luôn ở trạng thái vận động, biến đổi và chuyển hoá
qua lại. Ông nêu lên tư tưởng hiện vật đều trôi đi, hiện vật đều biến đổi
"người ta không thể tắm 2 lần trên 1 dòng sông". "Mặt trời luôn luôn đổi
mới và vĩnh viễn đổi mới".
- Sự vận động phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách
quan (mà ông gọi là logos ) quy định. Logos khách quan là trật tự khách
quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ,
học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con người. Logos chủ quan phải phù

lửa kết hợp lại tạo nên vạn vật, nhưng dưới tác dụng của lực hận thù,
chúng bị chia tách ra làm vạn vật biến mất.
+ Empêđốc đi từ việc thần thánh hóa các nguyên tố đến nhân cách hóa
các sự vật, ông gán cho chúng những thuộc tính của con người.
+ Ông cho rằng vũ trụ luôn vận động trải qua chu trình phát triển gồm 4
giai đoạn:
• Giai đoạn 1: tình yêu chiến thắng và ở trung tâm vụ trụ, hận thù
bị thất bại và bị đẩy ra ngoài biên. Vũ trụ như 1 quả cầu duy nhất,
đồng nhất, thống nhất và không phân chia.
9
• Giai đoạn 2: hận thù tiến dần vào tâm vũ trụ, tình yêu bị đẩy khỏi
tâm, vũ trụ bắt đầu phân hóa.
• Giai đoạn 3: hận thù chiến thắng, tình yêu thất bại, vũ trụ bị phân
hóa thành 4 yếu yếu tố, đất, nước, không khí, lửa.
• Giai đoạn 4: tình yêu tiến dần vào tâm vũ trụ, hận thù bị đẩy ra
khỏi tâm. Dưới sự tác dụng của lực tình yêu, đất, nước, không
khí, lửa kết hợp lại tạo nên vạn vật, hay tách ra khỏi nhau dưới
tác dụng của hận thù.
 Anaxago:
+ Tiếp nối quan điểm đa nguyên nhưng Anaxago không cho rằng vạn
vật là sự kết hợp của đất nước, không khí và lửa, mà ông cho rằng vạn
vật là phải được sinh ra từ những cái tương tự như chúng, ông gọi đó
là các hạt giống – cái bảo tồn và phát triển tính chất của sự vật cùng
loại.
+ Hạt giống cực nhỏ và có khả năng phân chia đến vô tận. Do vạn vật
có vô số nên tồn tại vô số hạt giống.
+ Sự biến hóa về chất của vạn vật là kết quả thay thế phần lớn các hạt
giống trong chúng. Để hạt giống sinh sôi, nảy nở hay thay thế nhau
cần phải có 1 động lực. Đó là Nus – trí tuệ thuần túy hay linh hồn của
thế giới.

+ Ông là nhà Triết học duy vật cổ đại nhất trong thế giới cổ đại. Ông là
người hiểu biết sâu rộng rất nhiều lĩnh vực: Triết học, toán học, đạo
đức học, sinh vật học… là học trò và người kế tục phát triển quan
điểm của Lơxip.
+ Đêmôcrit xây dựng học thuyết nguyên tử luận về thế giới. Theo ông
khởi nguyên của thế giới không phải là một sự vật cụ thể nào đó như
nhiều học thuyết trước đó đã quan niệm mà là các nguyên tử (theo
tiếng Hy Lạp cổ: nguyên tử – atoma – nghĩa là các phần tử nhỏ nhất,
đơn vị) tức tồn tại và khoảng không, tức cái không – tồn tại. Nếu như
các nhà triết học phái E lê phủ nhận các không – tồn tại , thì
Đêmôcrit và các nhà nguyên tử luận – theo nhận xét của Aritốt –
thậm chí còn cho rằng “cái tồn tại có thực không hơn gì cái không –
tồn tại, bởi vì sự vật tồn tại không mảy may hơn gì khoảng không, và
cả hai đều là nguyên nhân vật chất”. Cái không – tồn tại chính là
11
khoảng không trống rỗng , nó không ảnh hưởng gì tới các sự vật
( tức là tồn tại) trong nó cả.
+ Giữa tồn tại (tức là các nguyên tử) và cái không tồn tại (tức khoảng
không) có nhiều đặc tính khác nhau. Các nguyên tử thì đậm đặc hoàn
toàn, còn khoảng không thì hoàn toàn trống rỗng. Các nguyên tử thì
rất đa dạng trong khi khoảng không thì thuần nhất. Các nguyên tử
bao giờ cũng có kích thước, hình dạng nhất định, nhưng khoảng
không lại vô tận và không có hình dạng nào cả.
+ Đêmôcrit cho rằng nguyên tử không nhìn thấy được, không âm
thanh, màu sắc và mùi vị. Chúng đồng nhất với nhau về chất nhưng
khác nhau về hình thức, thứ tự và tư thế. Ông quan niệm nguyên tử là
vô hạn về lượng và hình thức. Mỗi sự vật đều được cấu tạo bởi
những nguyên tử do sự kết hợp giữa chúng với nhau theo một trật tự
và thế nhất định. Sự biến đổi vật chất là do sự thay đổi trình tự sắp
xếp của những nguyên tử tạo thành còn bản thân nguyên tử thì không

vào thành tâm. Các nguyên tử nhẹ và nhỏ hơn thì bị đẩy ra vùng
ngoại biên. Nhờ đó, các hành tinh, kể cả trái đất được tạo nên. Lửa,
không khí, ánh sáng, nhờ những luồng gió xoáy – do chuyển động
của các nguyên tử theo hình xoáy tròn – đã tạo ra bầu trời. Các hành
tinh cũng thuộc về thế giới chúng ta. Mỗi thế giới tựa như một hình
cầu được khép kín bởi các nguyên tử hình cong. Các thế giới cũng
nằm trong quá trình biến đổi, vận động không ngừng.
+ Đêmôcrit đã có công lao to lớn trong xây dựng lý luận nhận thức giải
quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của
cảm giác là điểm khởi đầu của nhận thức và tư duy trong việc nhận
thức thế giới.
+ Ông cho rằng đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế giới xung
quanh con người và nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào
con người nên con người mới nhận thức được.
+ Đêmôcrit phân chia nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức
chân lý. Nhận thức mờ tối do các giác quan đem lại còn nhận thức
chân lý là do sự phân tích sâu sắc về sự vật để nắm bắt bản chất bên
trong của nó.
13
+ Triết học duy vật của Đêmôcrit đã đóng vai trò quan trọng trong chủ
nghĩa vô thần. Ông cho rằng sự tồn tại của thần chẳng qua là sự cách
hoá những hiện tượng của tự nhiên hay những thuộc tính của con
người chẳng hạn thần Dớt là sự nhân cách hoá mặt trời, thần ATêna
là sự nhân cách hoá thuộc tính của con người.
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT
CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
I. Giá trị của chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại:
- Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề căn
bản của triết học mà sau này các học thuyết triết học sẽ từng bước giải
quyết theo nội dung của thời đại mình.

của quá trình biến đổi dần đần từ thấp đến cao của tự nhiên.
- Những thành quả quan trọng nhất của chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp
cổ đại là thuyết nguyên tử đã đặt cơ sở cho sự phát triển của khoa học tự
nhiên, phép biện chứng chất phác và Logic học hình thức của Xôcrat.
- Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại đã để lại những triết lý mang
giá trị vượt thời gian "người ta không thể tắm 2 lần trên 1 dòng sông", "Mặt
trời luôn luôn đổi mới và vĩnh viễn đổi mới",…
- Nó thể hiện sự tiến bộ về mặt đạo đức xã hội khi đề đạt mô hình nhà nước
pháp trị, dân chủ với mục đích đem lại hạnh phúc, tự do cho con người, phê
phán những bất công, trục lợi bất lương
- Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại không chỉ đóng góp những lý
luận giải quyết những vấn đề cho xã hội đương thời mà các nhà triết học
duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại đã đặt ra những vấn đề mà triết học và
khoa học đời sau phải giải đáp.
- Ngoài ra, chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại mà cụ thể là Đêmôcrít
đã có một công lao to lớn nữa đối với triết học, đó là lôgíc học (Tác phẩm
"Bàn về lôgíc học" (Canon); tác phẩm này đã bị thất lạc, người ta chỉ biết
về nó một cách gián tiếp qua lời của Arixtốt, Platôn). Theo đó thì ông đã
nêu ra nhiều vấn đề về lôgíc học như định nghĩa khái niệm, phương pháp so
sánh, quy nạp, giả thiết.v.v, trong đó phương pháp quy nạp có vị trí nổi bật.
Arixtốt đã coi Đêmôcrít là tiền bối của mình về lôgíc học, là người đầu tiên
nghiên cứu lôgíc của khái niệm, lôgíc quy nạp.
II. Hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại:
15
- Do hạn chế nhất định về trình độ khoa học nên thế giới quan duy vật chất
phác thường đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể là sự kết hợp của trực
quan và phỏng đoán mà thiếu những chứng cứ dựa trên kết quả nghiên cứu
khoa học. Nó vẫn còn mang tính tư duy trừu tượng là chủ yếu.
- Các vấn đề triết học còn chưa rõ ràng, còn rời rạc chưa hệ thống hóa.
- Thế giới quan duy vật chất phác không triệt để, vì nó không lí giải được bản

xã hội.
- Vì vậy học tập nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật là
hết sức cần thiết. Nó giúp ta nắm vững phép biện chứng duy vật, thấu suốt
những phương pháp luận đồng thời nắm được nguồn gốc ra đời, hình thành,
phát triển qua quá trình đấu tranh gay gắt với chủ nghĩa duy tâm và các quan
điểm siêu hình để khẳng định được vị trí to lớn của nó trong nhận thức và cải
tạo thế giới.
- Hiện nay đất nước ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc
nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa duy vật là nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy.
Nghiên cứu từ lịch sử của nó cũng là một phương pháp biện chứng trong
nghiên cứu triết học. Đảng ta khẳng định nguyên tắc là phải trung thành với
Mác - Lênin, giữ đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, không che giấu sai lầm
và phải vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng Mác Xít để khắc phục
những sai lầm xây dựng thành công nhà nước xã hội chủ nghĩa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách Triết hoc (phần 1: đại cương về lịch sử triết hoc) – khoa Lý Luận
Chính Trị - Tiểu ban Triết hoc – Trường ĐH Kinh tế TPHCM
2. Triết học Phương Tây – Hoàng Xuân Việt.
3. Triết học Hy- Lạp giản yếu- Hào Nguyên Nguyễn Hoá- Nhà xuất bàn
Thanh niên
17
4. />option=com_content&task=view&id=394&Itemid=265
5. />phai-triet-hoc-hi-lap-co-dai.html
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status