BÀI TIỂU LUẬN-Những vấn đề cơ bản của Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá hiện nay - Pdf 28

Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
LỜI NÓI ĐẦU
000
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là con đường tất yếu phải tiến hành
đối với bất cứ nước nào, nhất là những nước có xuất phát điểm từ nền nông
nghiệp kém phát triển muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại.
Hiện nay ở nhiều nước, nhất là nước đang phát triển, phát triển công nghiệp
nông thôn được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đối với
Việt nam là một quốc gia lạc hậu, hơn 80% dân số sống ở nông thôn với một
cơ cấu kinh tế độc canh thuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc
làm rất bức bách. Đại hội lần X Đảng Cộng sản Việt nam đã khẳng định tính
đúng đắn đường lối CNH- HĐH nước ta, trong đó đặc biệt coi trọng phát
triển công nghiệp nông thôn, từ đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực hiện
CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Với đề tài này em mong góp phần vào những cố gắng chung đáp ứng nhu
cầu nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp nông thôn trong công cuộc
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
Đề tài gồm 3 phần:
1. Quan điểm Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá trước thời kỳ đổi mới
2. Quan điếm Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá trong thời kỳ đổi mới
3. Những vấn đề cơ bản của Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá hiện nay
Với kiến thức đã được học tập và thời gian tiếp xúc với thực tế ít, nên tôi
nhận thấy việc nghiên cứu đề tài này sẽ không tránh khỏi những mặt hạn
chế. Vậy kính mong thầy cô giáo cho nhận xét, đóng góp ý kiến cho bài tiểu
luận của Em được tốt hơn.
Hà Nội - Tháng 6 - Năm 2010
Học viên:
Phan Quang Trung
CHƯƠNG I
1
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị

đồng thời phát triển với phát triển ưu tiên của công nghiệp nặng đến chỗ
khẳng định lại vai trò cơ sở của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đối với sự
phát triển của công nghiệp nặng: “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”.
Ở giai đoạn này Đại hội Đảng IV bổ xung thêm vai trò kinh tế địa phương:
“Xây dựng kinh tế trung ương đồng thời phát triển kinh tế địa phương”, sau
2
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
đó nhấn mạnh sự kết hợp: “Kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa
phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất”.
Như vậy, đường nối, quan điểm về cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và
về vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng ở miền Bắc được Đại hội
Đảng III đề ra cho tới đầu những năm của thập kỷ bảy mươi đã được bổ
xung, phát triển rõ rệt, có cả những sửa đổi đáng kể:
 Nếu như trước đây cho rằng đã xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa trước khi thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì nay thấy
rằng xây dựng quan hệ sản xuất mới là quá trình nâu dài gắn với xây dựng
lực lượng sản xuất mới.
 Trong xây dựng kinh tế, vai trò của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
cũng như vai trò của kinh tế địa phương cũng được côi trọng hơn.
2. QUAN ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ CỦA NƯỚC
TA GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1975 – 1985
Sau chiến tranh mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước
cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đất nước chịu những đảo
lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc chiến tranh ác liệt, nâu dài,
tình hình thế giới có những mặt diễn biến không thuận lợi. Đây cũng là thời
điểm mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ một cách toàn diện
mặt tiêu cực của nó mà hậu quả là xuất hiện cuộc khủng hoảng kinh tế - xã
hội sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu những năm 80. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá tình hình đất nước

nhau. Tuỳ theo trình độ lực lượng sản suất đạt được trong thực tế mà xã hội
hoá sản xuất dưới những hình thức phù hợp với trình độ khác nhau của lực
lượng sản để mở rộng đường cho lực lượng sản xuất phát triển hơn nữa, tiến
đến trình độ xã hội hoá nền kinh tế trên cơ sở chế độ công hữu về các tư liệu
sản xuất chủ yếu dưới nhũng hình thức thích hợp, từ thấp đến cao.
Thực hành nhiều chế độ phân phối khác nhau tuỳ theo sự phát triển của
các quan hệ sở hữu, tiến dần đến sự thống trị của chế dộ phân phối theo số
lượng và chất lượng lao động.
Trong cơ chế mới, kế hoạch vẫn đóng vai trò quan trọng, là công cụ quản lý
vĩ mô của Nhà nước nhưng chủ yếu mang tính chất định hướng, hướng dẫn
sự phát triển của thị trường, các tổ chức kinh doanh, sản xuất.
Nền kinh tế được quản lý bằng các phương pháp kinh tế là chủ yếu, với
động lực thúc đẩy là sự kết hợp hài hoà lợi ích của toàn xã hội, lợi ích của
tập thể và lợi ích riêng của từng cá nhân, lợi ích nâu dài và lợi ích trước
mắt…
Nền kinh tế mở hội nhập với nền kinh tế thế giới trên nguyên tắc vừa hợp
tác, vừa cạnh tranh và đảm bảo tính độc lập, tự chủ theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.

CHƯƠNG II
QUAN ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
4
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
1. KHÁI NIỆM VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA CNH – HĐH
1.1 Khái Niệm
Ở thế kỷ thứ XVII, XVIII, khi cách mạng công nghiệp tiến hành ở Tây
Âu, công nghiệp hoá được biểu hiện là một quá trình thay thế lao động thủ
công bằng lâo động sử dụng máy móc. Những khái niện kinh tế nói chung và
khái niệm công nghiệp hoá – hiện đại hoá nói riêng mang tính lịch sử, tức là

Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
 Do yêu cầu đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất để hoàn thiện quan
hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, tạo ra sự phù hợp giữa qua hệ sản
xuất với lực lượng sản xuất, trên cơ sở đó hình thành những quan hệ sản
xuất mới về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, tư tưởng.
 Do yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nhanh chóng hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới tạo điều
kiện tốt để thực hiện phân công, hợp tác quốc tế.
 Do yêu cầu xây dựng củng cố quốc phòng, hiện đại hoá quân đội, xây
dựng lực lượng quân sự mạnh có vũ khí hiện đại đủ sức bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. PHÂN TÍCH BỐI CẢNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CNH – HĐH
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay có các đặc điểm sau:
 Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Sở dĩ như vậy là vì trên thế
giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, một
số nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh
tế tri thức, nên phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ, tiếp cân kinh tế tri thức để hiện đại hoá
những nghành, những khâu, những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt.
 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá là tất yếu với tất cả các nước chậm phát
triển nhưng với mỗi nước, mục tiêu và tính chất của công nghiệp hoá có
thể khác nhau. Ở nước ta, công nghiêppj hoá nhằm xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền
độc lập dân tộc.
 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện cơ chế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước. Điều này làm cho công nghiệp hoá trong giai
đoạn hiện nay khác với công nghiệp hoá trong thời kỳ trước đổi mới.
Trong cơ chế quản lý kinh tế hoạch hoá tập trung – hành chính, bao

triển tự do, toàn diện của con người.
 Tạo điều kiện cho khoa học, công nghệ phát triển nhanh, tiên tiến, hiện
đại, tăng cường lực lượng vật chất – kỹ thuật cho quốc phòng vững
mạnh, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đời sống kinh
tế - chính trị - xã hội của đất nước.
 Tạo điều kiện nhanh chóng xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ,
đa dạng hoá, đa phương hoá, phát triển kinh tế hàng hoá, thực hiện tốt
mở rộng phân công hợp tác lao động sản xuất trong nước và quốc tế,
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trên tất cả các mặt, các lĩnh
vực hoặt động.
CHƯƠNG III
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ –HIỆN ĐẠI
HOÁ HIỆN NAY
7
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
1. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CNH – HĐH
1.1 Xây dựng cơ sở vật chất – cách mạng khoa học công nghệ
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX với nội dung là cơ khí hoá sản xuất nhằm chuyển lao
động thủ công sang lao động bằng máy móc. Cách mạng khoa học tiếp tục
phát triển mạnh vào cuối thế XIX đầu thế kỷ XX và đã đạt được nhiều thành
tựu cao về cơ khí hoá và hoá học hoá.
Ngày nay, cách mạng khoa học và công nghệ phát triển cao với những đặc
trưng cơ bản là:
 Cách mạng khoa học kỹ thuật gắn liền với cách mạng công nghệ lên gọi
là cách mạng khoa học và công nghệ với những thành tựu công nghệ
hiện đại làm biến đổi sâu sắc trình độ, khả năng sản xuất, số lượng và
chất lượng sản phẩm.
 Khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp bởi thành
tựu của nhiều nghành khoa học như: khoa học tự nhiên, khoa học xã

sản xuất với tính chất và trình độ động lực sản xuất. Do vậy, việc phát triển
công nghệ, khoa học cần chú ý một số diểm sau:
 Phải ứng dụng công nghệ mới tiên tiến, hiện đại kết hợp với công nghệ
truyền thống.
 Sử dụng tốt công nghệ mới, tạo ra nhiều việc làm mới, tốn ít vốn, quay
vòng nhanh, hiệu quả cao giữ được nghề truyền thống.
 Kết hợp xây dựng và phát triển cả bề rộng và bề sâu, cả xây dựng mới
và cải tạo cũ, thực hành tiết kiệm.
 Kết hợp các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thích hợp. Ưu tiên cho
quy mô vừa và nhỏ, xây dựng quy mô lớn khi có đủ điều kiện. Coi
trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội.
1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân là tổng thể hữu cơ các mối
quan hệ chủ yếu về chất lượng và số lượng tương đối ổn định của các yếu tố
kinh tế, các bộ phận hợp thành của nền kinh tế, các lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh
tế xã hội nhất định. Hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân bao gồm nhiều cơ cấu
như: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu các thành phần kinh tế, trong đó cơ
cấu ngành kinh tế là quan trọng nhất.
Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là quá
trình chuyển dịch cơ cấu từ lạc hậu, ít hiệu quả sang một cơ cấu ngày càng
phù hợp với xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện đại do sự tác động
của cách mạng khoa học và công nghệ. Đó là xu hướng tỷ trọng giá trị sản
phẩm công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, tỷ trọng giá trị sản phẩm nông
nghiệp ngày càng giảm.
Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, trình đọ phân công lao động còn
thấp, tỷ lệ lao động nông nghiệp cao, cơ cáu kinh tế sản xuất nhỏ và phổ
biến, sản xuất hang hoá chưa phát triển. Do vậy để phát triển kinh tế hàng
hoá, xây dựng nền sản xuất lớn, xã hội chủ nghĩa, hình thành cơ cấu kinh tế
hợp lý, tất yếu phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội và phân bố dân cư

tế mới. Phân công lao động quốc tế, thực hiện đưa người lao động đi làm
việc ở các nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động như nghiên cứu khoa học
kỹ thuật, giáo dục đào tạo, lao động sản xuất…
Phân công lao động xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành
cơ cấu kinh tế hợp lý. Đó là yêu cầu cần thiết khách quan của nước ta trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân. Xây dựng cơ
cấu kinh tế tối ưu đòi hởi phải đảm bảo theo những yêu cầu sau đây:
 Tạo ra những ngành sản xất mới, những quan hệ kinh tế mới, tạo nhiều
việc làm phù hợp với quy luật khách quan, phản ánh được đúng xu
hướng vận động phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
 Phải phù hợp với thị trường trong nước và thị trường quốc tế, phù hợp
với sự tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển.
 Vốn đầu tư ít, hiệu quả cao cho phép khai thác tối đa tiềm năng, thế
mạnh của đất nước, của các ngành, các thành phần kinh tế, đầy mạnh
phát triển cả bề rộng và bề sâu.
 Hoạt động quay vòng đồng vốn nhanh, lãi suất cao, thực hiện sự phân
công hợp tác quốc tế theo hướng quốc tế hoá sản xuất và đời sống ngày
càng phát triển của cơ cấu kinh tế mở.
 Phải tạo được đà cho sự phát triển tiếp theo của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
10
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
Trên tinh thần đó, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định: “Nước
ta chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sáu quan
điểm và năm nhiệm vụ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đại hội IV của
Đảng ta đã cụ thể hoá và bổ xung một số diểm mới là :
 Phát triển nông - lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát
triển toàn diện kinh tế nông thôn, cùng với xây dựng nông thôn mới,
nhằn khai thác mọi tiềm năng về lao động, đất đai và các nguồn tài
nguyên để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt ở những ngành mũi
nhọn, có lợi thế phát triển, làm tăng tỉ lệ giá trị gia tăng ở từng sản
phẩm; giảm chi phí lao động và nguyên liệu, vật liệu; tăng chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ
cấu lao động xã hội theo hướng hiện đại.
 Những năm gần đây, thực hiện chủ trương “từng bước phát triển kinh tế
tri thức” của Đại hội IX, ở nước ta đã xuất hiện những nhân tố mới,
những mô hình phát triển mới dựa vào tri thức. Thí dụ: Tổng Công ty
Bưu chính – viễn thông; những cánh đồng 600 triệu đồng ở xã Đoàn
Thượng (Gia Lộc, Hải Dương); các cơ sở trồng hoa dựa trên công nghệ
cao ở Đà Lạt (điển hình là Công ty HASFARM); những kết quả ứng
dụng công nghệ mới trong các ngành thuỷ sản, công nghiệp đóng tàu
biển; ở Viện Máy và dụng cụ công nghiệp (IMI), ở một số trường đại
học lớn, ở Công ty phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ (AP), ở Công
ty cổ phần TRAPHACO
Như vậy, chủ trương “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát
triển kinh tế tri thức” là cần thiết và có tính khả thi. Có quyết tâm thực hiện
chủ trương này, chúng ta mới có thể giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực
lượng sản xuất, tạo nền tảng vật chất để đi lên.
Đại hộ Đảng X cũng nói rõ “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước” là
nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống
chính trị, của mỗi người công nhân và của toàn xã hội trong thời kỳ đổi mới
hiện nay.
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xẫ hội to lớn, đang phát triển,
bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương
trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản
xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
2. TIỀN ĐỒ CỦA QÚA TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ

kém và chuyển biến chậm.
Vai trò của kinh tế hộ tuy đã được khẳng định, nhưng khả năng về mặt tài
chính của họ thì còn rất eo hẹp và nhỏ bé. Trên đây cũng là những khó khăn
cơ bản mà nó đã không gây sự kìm hãm nhỏ đối với quá trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá nông nghiệp hiện nay.
Khác với nhiều nước trong khu vực, sự phát triển sản xuất ở Việt Nam
lại diễn ra trong bối cảnh mức tăng dân số và tỷ lệ đói nghèo cao. Công tác
giáo dục và đào tạo, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi cao
còn nhiều khó khăn, hạn chế. Hệ thống phúc lợi công cộng, cơ sở vật chất kỹ
thuật và các vấn đề xã hội khác còn một khoảng cách xa với yêu cầu. Tỷ lệ
người nghèo, hộ nghèo tuy có xu hướng giảm nhưng mức sống còn rất thấp.
Chênh lệch mức sống vật chất và văn hoá giữa nông thôn và thành thị, giữa
các vùng ngày càng tăng. Căng thẳng xã hội về nguồn nhân lực dư thừa ngày
càng nóng bỏng. Bên cạnh đó, trong nhiều năm chiến lược phát triển kinh tế
xã hội chưa chú ý đúng mức tới bảo vệ môi trường, môi trường sống trong
lành ở nông thôn cũng đang bị suy thoái nghiêm trọng. Rừng núi nghèo kiệt,
13
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
nguồn nước ngày càng khan hiếm và đang bị ô nhiễm, đất đai bị bào mòn và
suy thoái, tài nguyên sinh vật không được bảo tồn, thiên tai thì dồn dập trên
diện rộng v.v.
Thị trường trong và ngoài nước thì luôn biến động yêu cầu về nâng
cao hiệu quả kinh tế, nâng cao mức sống thì ngày càng cao, trong khi khả
năng đáp ứng của kinh tế hộ còn giới hạn. Quá trình mở cửa nền kinh tế tạo
ra nhiều thuận lợi nhưng cũng đặt rất nhiều những khó khăn về kinh tế -
chính trị cho đất nước. Điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ bùng
nổ ở Đông Nam á từ giữa năm 1997 ngày càng nghiêm trọng và lan rộng,
chuyển thành khủng hoảng kinh tế, đưa tới sự xáo động về chính trị - xã hội
ở một số nước, thậm chí dẫn tới những biến đổi nhất định trong quan hệ
quốc tế

cầu về nâng cao đời sống con người đó là xã hội càng phát triển, đời sống
con người càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và
thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại.
Như vậy chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới hy vọng
đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó.
Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, trước hết là quá trình quốc tế hoá, khu vực
hoá các quan hệ kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất thương mại, trao đổi
thông tin khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ buộc chúng ta phải
đẩy nhanh việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp để
chúng ta có thể tận dụng vốn, khoa học, kỹ thuật kinh nghiệm quản lý nước
ngoài vào trong hoàn cảnh thực tiễn vận dụng vào quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nước ta nhằm để tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế, rơi vào
tình trạng "bãi rác công nghiệp" của thế giới, dẫn đến cuộc sống đói nghèo,
lệ thuộc kinh tế nước ngoài v.v.
Như vậy đứng trước những yêu cầu đổi mới đang diễn ra trước mắt ta
cần khẳng định trong bối cảnh quốc tế hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là xu hướng phát triển chung của thế giới, trình độ công nghiệp hoá hiện
đại hoá biểu hiện trình độ phát triển của xã hội. Vì vậy công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn nói riêng là con đường đúng đắn mà Đảng ta đã lựa chọn trong quá
trình đi lên chủ nghĩa xã hội của mình, nó là "nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", nó là con đường tất yếu để đưa nước ta
thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và "nguy cơ tụt hậu" xã hơn so với các nước
trong khu vực.
3.2 Nội dung
Về vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và cải
thiện đời sống nông dân, một số ý kiến trong Đại hội Đảng X cho rằng,
muốn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải giải quyết đồng bộ các
vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Những nội dung nêu trong Báo
cáo chính trị chưa đủ rõ, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại

Trong khi đó, phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và
dịch vụ vừa có ý nghĩa to lớn trong việc tạo việc làm cho người lao
động, vừa làm tăng hiệu quả cho kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập,
mức sống cho cư dân nông thôn. Phát triển làng nghề truyền thống góp
phần đáng kể khai thác các tiềm năng kinh tế của các địa phương vad
phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đầu tư xây dưng công nghiệp
nông thôn, phát triển các ngành dịch vụ cũng xuất phát từ yêu cầu của
xu thế chuyển dịch này.
 Phá thế độc canh trong nông nghiệp, đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp,
hình thành những vùng chuyên canh quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu
nguyên liêuh cho công nghiệp nhẹ và xuất khẩu. Đa dạng hoá sản xuất
16
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị
nông nghiệp vừa tạo điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn
diện, đáp ứng nhu cầu về nhiều loại sản phẩm nông nghiệp của dân cư,
vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguyên liệu về công nghiệp nhẹ
và nhu cầu xuất khẩu. Sự hình thành những vùng chuyên canh quy mô
lớn cho phép ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ, nâng
cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh
của nông sản.
• Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong nông nghiệp,
nông thôn.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hởi phải trang bị đòi hỏi phải
trang bị kỹ thuật cho các ngành của nền kinh tế theo hướng hiện đại. Đo đó,
phát triển kinh tế nông thôn trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá có
nội dung rất quan trọng và phải đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công
nghệ. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp thể hiện tập trung ở những lĩnh vực sau:
 Cơ giới hoá: Các hoạt động sản xuất nông thôn chủ yếu là dựa vào lao

nghiệp nông thôn. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để
kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại phát triển sản xuất hàng hoá với
quy mô ngày càng lớn.
 Kinh tế tập thể: Với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà lòng cốt là
hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên
kết rộng rãi những lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế. Kinh tế tập thể lấy lợi
ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập
thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên, góp phần xoá
đói giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên, phát triển cộng
đồng. Phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn phải trên
cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực
cho kinh tế hộ, trang trại phát triển, gắn với tiến trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, không ngừng
phát triển sức sản xuất, nâng cao hiệu quả, năng suất và sức cạnh tranh
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
 Kinh tế tư nhân: là lực lượng quan trọng và năng đọng trong cơ chế thị
trường, có khả năng về vốn liếng, về tổ chức quản lý, về kinh nghiệm
sản xuất, về khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh doanh
ngành nghề đa dạng, tăng cường năng lực chế biến, tiêu thụ nông sản,
làm dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn. Nhà nước có
chính sách hỗ trợ, hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển.
 Kinh tế nhà nước: Các doanh nghiệp nhà nước với ưu thế về quy mô
lớn lên gặp nhiều thuận lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm đầu ra và giải
quyết các yếu tố đầu vào như giống, thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ khoa
học công nghệ… Do đó, kinh tế nhà nước ở nông thôn trong lĩnh vực
dịch vụ dưới các hình thức: trạm giống, công ty bảo vệ thực vật, công
ty thuỷ lợi, công ty thương mại… là hết sức cần thiết đối với nông
nghiệp, nông thôn. Hơn nữa, đây là những vị trí then trốt trong kinh tế
nông nghiệp, nông thôn, do đó, nếu kinh tế nhà nước nắm giữ những vị

KẾT LUẬN
000
Qua phân tích toàn diện cả nội dung, biện pháp và thực trạng của quá trình
CNH - HĐH nông nghiẹp Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua, ta có
thể khẳng định: công nghiệp hoa, hiện đại hoá nông nghiệp Việt Nam là một
quá trình hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý và ứng dụng những thành
tựu tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và
kinh tế nông thôn phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của đất nước trong từng thời kỳ và luôn giữ vững định hướng của Đảng và
nhà nước đã đặt ra.
Rút kinh nghiệm từ bài học không thành công của thời bao cấp, trong những
năm đổi mới vừa qua vấn đề CNH - HĐH nông nghiệp, đã được điều chỉnh
cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp và bước đa cho phù hợp với yêu cầu
của thực tiễn. Tuy vậy, tình hình CNH - HĐH trong nông nghiệp nước ta
hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề, chưa hoàn thiện hết. Điều đó cũng dễ
hiểu, vì CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn vốn là vấn đề phức tạp, có
nhiều nội dung liên quan đến hàng chục triệu hộ nông dân trên địa bàn nông
thôn rộng lớn với 80% dân số cả nước, sinh sống. Vì vậy quá trình đó diễn
ra phải từ thấp đến cao, từ thí điểm đến mở rộng các mô hình khác nhau và
mỗi mô hình đều dựa trên những điều kiện kinh tế và kỹ thuật nhất định của
ngành, địa phương hoặc vùng lãnh thổ, đồng thời tham khảo kinh nghiệm
của thế giới, nhất là các nước trong khu vực đã tiến hành CNH - HĐH nông
nghiệp, nông thôn
Trong điều kiện Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 21 này, CNH - HĐH
nông nghiệp gắn liền với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp
trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Vì vậy vấn đề rất quan trọng mà CNH -
HĐH nông nghiệp không thể thiếu là phát triển mạnh ngành nghề dịch vụ
20
Tiểu luận Kinh Tế Chính Trị

LỜI NÓI ĐẦU 1
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
MỤC LỤC 22
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status