LUẬN VĂN:
Những vấn đề cơ bản của công
nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước
ta từ trước tới nay
Lời Nói Đầu
CNH-HĐH về logic cũng như về lịch sử là một quá trình tất yêu mà mọi quốc gia
trên thế giới đều phải trải qua. CNH-HĐH là điều kiện đầu tiên đối với hầu hết các quốc
gia muốn vươn lên hàng các quốc gia phát triển có thu nhập đầu người cao. Ví dụ: CNH-
HĐH là tiền đề cho quá trình tăng trưởng nhanh ở Singapore từ năm 1974 đến năm 1989,
cho HongKong những thập niên 70 và 80, Cộng hoà Nam Triều Tiên giai đoạn 1972 -
1981. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KHKT và xu hướng quốc tế hoá ngày càng mở
rộng, đất nước ta đã và đang từng bước CNH-HĐH theo định hướng XHCN
Trải qua mấy năm đổi mới, cục diện đất nước ta đã có nhiều thay đổi, chuyển sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước làm cho nền kinh tế trong nước phát triển mang
nhiều dấu hiệu khởi sắc mới. Nền kinh tế hàng hoá tạo ra bề mặt đất nước đa dạng phong
phú hơn, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Điều đó thể hiện ở tốc độ GDP tăng
đều qua các năm bình quân 8,2%/năm.
KT-CN tiên tiến để đạt được năng suất lao động xã hội cao. Đây có lẽ là một cách tiếp cận
đúng bởi nó đã đưa ra mục tiêu CNH-HĐH là tăng năng suất lao động xã hội - các quy
định cho sự tồn tại của một chế độ xã hội.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với định nghĩa về CNH-HĐH của hội nghị lần thứ 7
ban chấp hành TW Đảng khoá VII: “ CNH-HĐH là quá trình chuyểh đổi căn bản, toàn
diện các hoạt đọng sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và sự
tiến bộ KH-CN tạo ra năng suất lao đọng xã hội cao.
Việc cơ khí hoá trang thiết bị công nghệ hiện đại cho các ngành KTQD trong điều
kiện hiện nay phải được tiến hành theo quan điểm xây dựng nền kinh tế mở, đất nước đang
trong quá trình tham gia vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Xây dựng cơ sở vật
chất kĩ thuật cho CNXH là từng bước nâng cao và HĐH nền kinh tế trong nước dẫn đến
nhưngx biến đổi to lớn cả về kinh tế và chính trị. Từ những yêu cầu đặt ra ở trên các nhà kinh tế học trong nước đã đưa ra quan điểm
mới về CNH đó là:”CNH là quá trình trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đại cho tất cả các
ngành của nền KTQD. Cùng quá trình đó hình thành cơ cấu kinh tế mới cho phép khai thác
tốt nguồn lực của đất nước nhờ đó tạo nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế cao lâu bền cho
toàn bộ nền kinh tế và đảm bảo tiến bộ xã hội.
2. Thực chất CNH-HĐH:
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, quan niệm về CNH-HĐH dù trên góc độ nào cũng
không đồng nhất với quá trình phát triển công nghiệp. Tuy quá trình CNH có những nét
riêng đối với từng nước nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quy trình có tính chất phổ biến
cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước mà thôi. CNH là quá trình rộng lớn, phức
tạp, thực chất của quá trình này bao gồm các mặt:
2.1-CNH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành
KTQD, đặc biệt là ngành chiếm vị trí trọng yếu.
Thực hiện CNH trong điều kiện cách mạng KH-KT ngày nay, trang bị và trang bị lại
thực hiện quá trình CNH phải dựa vào các phải dựa vào các nguồn lực trong nước là chủ
yếu. Song việc khai thác các nguồn lực tự nhiên, phát huy các lợi thế tự nhiên để tham gia
vào các quan hệ kinh tế quốc tế cần kết hợp với việc tái tạo và bảo tồn các nguồn lực ấy
bởi mọi sự lạm dụng “Sức mạnh của con người “để chinh phục tự nhiên theo kiểu bóc lột,
huỷ hoại môi trường, tài nguyên sẽ dẫn con người đến chỗ tàn phá ngay môi trường tồn tại
của chính mình.
2.5- CNH không phải là một mục đích tự thân mà là một phương thức có tính chất
phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước.
Không thể thực hiện có hiệu quả quá trình CNH khi hệ thống chính trị xã hội không
ổn định và không được đổi mới. Ngược lại cũng không thể giữ được ổn định về chính trị
xã hội, chủ quyền của đất nước nếu không thưc hiện có hiệu quả quá trình CNH
Từ toàn bộ những vấn đề đã phân tích trên đây, có thể nói thực chất của CNH là sự
phát triển công nghệ, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội (công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ) từ trình độ cong nghệ thấp lên trình độ công nghệ hiện đại. Lực lượng lao động sẽ
chuyển dịch thích ứng về cơ cấu ngành nghề, về trình độ tay nghề và học vấn. 3. Một số mô hình chiến lược CNH.
Từ thực tiễn của nhiêu nước đang phát triển, để thực hiện thành công quá trình CNH,
người ta đã khái quát thành 3 loại mô hình chiến lược CNH theo nội dung trọng tâm của
mỗi mô hình.
Chiến lược thay thế nhập khẩu (Hướng nội)
Lịch sử cho thấy chiến lược này đã được các nước đi tiên phong trong CNH thực
hiện từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX thông qua việc lập hàng rào bảo hộ sản xuất
trong nước chống lại sự cạnh tranh hàng ngoại nhập.
Tư tưởng cơ bản của chiến lược này là mỗi nước đang phát triển cần phát triển mạnh mẽ
sản xuất hàng hoá nhất là hàng tiêu dùng để thay thế các hàng hoá phải nhập khẩu từ các nước
tư bản phát triển. Thực hiện có hiệu quả tư tưởng này không những có thể khai thác được
nguồn lực sẵn có đáp ứng các nhu cầu cơ bản, cấp thiết trong nước mà còn mở rộng thị trường
phát triển sản xuất hàng hoá, tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề về xã hội, tiết
công dồi dào và rẻ. Mặc dù cũng đã tạo được một số điều kiện phát triển kinh tế nhưng
việc tập trung các ngành này lại gặp một số trở ngại: cầu sản phẩm thô trên thị trường quốc
tế tăng chậm, điều kiện mậu dịch bất lợi, sự phát triển các ngành này đôi khi phụ thuộc vào
sự đầu tư của các nước công nghiệp phát triển. Điều đó cho thấy sự thành công của mô
hình chiến lược hướng ngoại phụ thuộc vào một loạt các chính sách kinh tế vĩ mô của
chính phủ:
+ Chính sách tỉ giá hối đoái linh hoạt bám sát sự biến động của tỉ giá trên thị trường
quốc tế và thị trường các nước bạn.
+ Chính sách khuyến khích và trợ giúp xuất khẩu.
+ Chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài
+ Thành lập và quản lý các khu chế xuất, phát triển tập trung các cơ sở sản xuất, dịch
vụ nhằm phục vụ cho xuất khẩu
Mô hình chiến lược này ngày càng có sức hấp dẫn cao với nhiều nước đang phát
triển. 3.3- Chiến lược hỗn hợp.
Trong bối cảnh mới, ngoài hai chiến lược nói trên, trên thực tế đã hình thành chiến
lược hỗn hợp. chiến lược này được xây dựng trên cơ sở kết hợp các yếu tố của chiến lược
hướng nội (coi trọng thị trường trong nước, phát triển sản xuất các sản phẩm mà trong
nước có khả năng và sản xuất có hiệu quả)và các yếu tố của chiến lược hướng ngoại (lấy
yêu cầu của thị trường quốc tế làm hướng phấn đấu trong phát triển các ngành trong nước.
Với mô hình chiến lược này không những khắc phục được yếu điểm của mô hình chiến
lược hướng nội và hướng ngoại mà còn điều chỉnh trọng tâm của hai mô hình chiến lược
đã nêu trên tránh sự cực đoan trong xác định thị trường và phương hướng phát triển các
ngành kinh tế.
II/ CNH-HĐH ở Việt Nam.
1. Sự cần thiết phải CNH-HĐH ở Việt Nam.
1.1-Những đặc điểm chủ yếu nền KT-XH ở Việt Nam
Thực tiễn ở nước ta trong tình hình hiện nay có những vấn đế nổi cộm mà tất yếu
CNH mới tránh khỏi lạc hậu, lạc lõng và lạc điệu trước bước tiến như vũ bão của thế giới.
1.2- Thực trạng CNH-HĐH ở nước ta.
Qua mấy chục năm thực hiện CNH chúng ta đã xây dựng được những cơ sở vật chất
kỹ thuật nhất định. Song thực trạng CNH ở nước ta vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:
*Các mặt còn hạn chế:
+ Quá trình CNH diễn ra quá chậm.
+ Năng lực sản xuất công nghiệp còn nhỏ bé chưa đủ sức đầu tư phát triển, tỷ trọng
công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội còn thấp. Năm 1992 tổng giá trị tài sản cố định
toàn ngành công nghiệp ước khoảng 3,4 tỷ USD chiếm khoảng 25% giá trị tài sản cố định
của toàn bộ nền kinh tế (không kể giá trị đất đai, đường xá), tỷ trọng công nghiệp trong
GDP chỉ chiếm 22,6%, nông nghiệp chiếm 34,5% và dịch vụ chiếm 37,9%. Năm 1993 tỷ
trọng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trong GDP tương ứng: 22,7%;30,9%; 40,8%.
+ Ngành công nghiệp vẫn chủ yếu là gia công. Ngoại trừ các sản phẩm tiêu dùng
phục vụ trong nước hầu hết các sản phẩm xuất khẩu đều được thực hiện dưới hình thức gia
công; các ngành công nghiệp mới như chế tạo ô tô, xe máy, điện tử mới chỉ dừng lại ở
trình độ lắp ráp GKD, SKD trong đó các linh kiện đều do nước ngoài cung cấp. Hơn nữa, ngoài điện, than, xi măng chúng ta vẫn còn phải nhập khẩu 60% sắt thép, 90% hoá chất
(thuốc trừ sâu 100%; phân Kali 100%; phân Đạm 98% ).
+ Trình độ công nghiệp vẫn còn ở mức lạc hậu, chắp vá, thiếu đồng bộ. Hầu hết các
ngành kinh tế - kỹ thật trình độ thiết bị công nghệ lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ so với trình độ
trung bình của thế giới. Đó là hạn chế cơ bản khiến sản xuất công nghiệp của ta tiêu hao
nhiều nguyên vật liệu, năng suất lao động thấp mà chất lượng và khả năng cạnh tranh của
sản phẩm lại không cao. VD: để sản xuất 1kwh điện chạy than các nước khác dùng 1900
kcal, ta tiêu hao 2700 kcal; hiệu suất nhiệt trong các nhà máy nhiệt diện loại này của họ là
35% ta mới đạt 29%; tổn thất điện của họ từ 12-15%, của ta là 22%
+ Chưa hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn. Trong giai đoạn 1991-1995,
hầu hết các ngành công nghiệp đều có mức tăng trưởng khá, đặc biệt là công nghiệp quốc
doanh chiếm 70% giá trị sản lượng công nghiệp. Song trên thực tế, chúng ta vẫn chưa xác
cơ sở thay thế lao độnh thủ công bằng máy móc nhằm mục đích nâng cao hiệu suất lao
động của toàn xã hội. Đó là một giai đoạn phát triển mà mọi quốc gia đều phải trải qua đặc
biệt là đối với các nước đang phát triển như nước ta, muốn từ một nền nông nghiệp lạc hậu
tiến lên thành một nước công nghiệp tiên tiến.
Để đưa đất nước phát triển thì tất nhiên phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền
sản xuất lớn hiện đại và có quy mô để tạo ra thế mạnh và sử dụng chúng một cách có hiệu
quả, đồng thời chúng ta cũng cần có một đội ngũ công nhân trí thức và đông đảo. Đó chính
là nền tảng chủ yếu để tạo ra tiềm lực về kinh tế, đất nước trong thời kì quá độ. Do đó
CNH là quá trình mang tính quy luật để tạo cơ sở vật chất cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Từ nền sản xuất nhỏ cũ kĩ lạc hậu tiến lên nền sản xuất lớn đòi hỏi phải có sự thay
đổi về trình độ trang bị kĩ thuật. Vậy CNH là cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất, tăng
năng suất lao động, tạo ra tiền đề cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế với tốc độ cao
góp phần vào ổn định, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
Thực hiện CNH-HĐH là ngày càng nâng cao vai trò quản lý của nhà nước trong nền
kinh tế thị trường, đồng thời ngày càng đẩy mạnh và phát huy nhân tố con người, phát huy
những kinh nghiệm, thành tựu KH-KT hiện đại trong sản xuất. CNH-HĐH đã và đang tạo
điều kiện vật chất cho việc củng cố và tăng tiềm lực kinh tế.
Dù một số mô hình chiến lược tỏ ra không thành công thì CNH-HĐH vẫn là “chìa
khoá của sự phát triển ”;gắn với sự tăng trưởng về CNH-HĐH chẳng là cái gì ngoài một
phương tiện manh mẽ để tăng năng suất của con người, qua đó tăng số lượng sản phẩm, tính đa dạng và cả chất lượng sản phẩm nữa. Các nước phát triển khác hẳn các nước khác
ở chỗ đã CNH-HĐH.
2. Nội dung cơ bản của CNH-HĐH ở Việt Nam.
2.1- CNH-XHCN là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế
cơ khí hoá, nền sản xuất xã hội trên cơ sở áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng
KHKT và chuyển giao công nghệ hiện đại.
Trong điều kiện nước ta hiện nay do nền sản xuất nhỏ lao động thủ công còn rất phổ
biến, tiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN thì CNH và cách mạng KHKT
quá trình sản xuất làm cho chúng ngày càng hiện đại. Đồng thời cải tiến các trang thiết bị
công nghệ máy móc hiẹn có khai thác tối đa năng lực sản xuất và công nghệ hiện có, tranh
thủ đổi mới để ngày càng nâng cấp và hoàn thiện các công nghệ hiện có. Nâng cao chất
lượng sản phẩmhàng hoá bán ra. Kết hợp chặt chẽ công nghệ truyền thống với công nghệ
hiện đại ưu tiên công nghệ tốn ít vốn, nhanh tạo nhiều việc làm, ưu tiên ứng dụng và phát
triển các công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin, sinh học, chế tạo, gia công vật liệu.
Quan hệ phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, bảo đảm vừa mở
rộng xây dựng cơ sở mới cần thiết nâng cao và hiện đại hoá các cơ sở hiện có xây dựng
các quy mô mô hình, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ thu hồi vốn nhanh.
Việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mới, thực hiện cơ khí hoá các ngành của nền
kinh tế quốc dân phải giải quyết vấn đề: xây dựng phải đi đôi với quản lý kết hợp chặt chẽ
tổ chức lại sản xuất với phân công lại lao động trong từng đơn vị kinh tế trên phạm vi toàn
xã hội, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh và cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ
cao đủ khả năng đáp ứng của nền sản xuất hiện đại.
2.2-Hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với tổ chức và phân công lại lao
động xã hội và điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư.
Sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong tiến trình CNH-HĐH gắn liền một
cách hữu cơ với quá trình phân công lao động xã hội giữa các ngành, các vùng, các thành
phần kinh tế tồn tại và vận động trong một tổng thể nền kinh tế thống nhất. Chúng có cùng
mối liên hệ tất yếu khách quan dưới những hình thức tổ chức sản xuất nhất định, hình
thành cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đất nước ta bước vào thời kỳ CNH và HĐH thì tất yếu phải đổi mới cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế là tổng thể các cơ cấu ngành
vùng và các thành phần kinh tế.
Trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện nay thì việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải bảo
đảm tính hiệu quả của kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn cơ bản, Nhà nước đứng trên phương
diện quản lý vĩ mô nền kinh tế lấy mục tiêu chính là hiệu quả kinh tế, gắn một cách hữu cơ
giữa xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá với phát
triển mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
khác.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới phải phù hợp với khả nâưng cung ứng của nền
kinh tế và sự phát triển cuả các quan hệ hợp tác quốc tế. Nhu cầu tối ưu mà khả năng của
nền kinh tế có thể đáp ứng được cần phải thể hiện đầy đủ trong cơ cấu kinh tế của mỗi
nước, với tình hình nước ta trước mắt phải phát triển tư liệu sản xuất, phát triển các ngành
công nghiệp nhẹ, công nghiệp hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm, các hàng xuát khẩu,
đồng thời chú ý thoả đáng đến xây dựng một số ngành mũi nhọn, coi trọng các ngành có
khả năng đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, quan tâm đúng mức đến kết cấu hạ tầng cần
thiết để phát triển nền kinh tế hàng hoá, phát triển các ngành dịch vụ, chú ý đến quan hệ
hợp tác đa phương, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Khai thác khả năng hợp tác quốc tế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chúng
ta phải phát triển mạnh xuất khẩu hàng hoá nông sản phảm, công nghiệp nhẹ nhập từ kỹ
thuật công nghệ mới, công nghệ thích hợp phát triển sản xuất gia công hàng hoá.
Bảo đảm kết hợp chặt chẽ quy mô vừa và nhỏ làm chính giữa ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến với khai thác và phát huy những kinh nghiệm truyền thống và
công cụ cải tiến.
Đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ tiên tiến đồng thời cải tiến và phát triển các công
nghệ hiện có và phát triển các ngành sản xuất những mặt hàng cổ truyền.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH đòi hỏi phải kết hợp sự phát triển tuần
tự thủ công nửa cơ khí, cơ khí hoá, tự động hoá, điện khí hóa làm cho tỷ trọng hàng hóa
dịch vụ được sản xuất bằng phương pháp công nhệ hiện đại trong các ngành kinh tế quốc
dân tăng, cơ cấu kinh tế mới phải đẩm bảo thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu
kinh tế, quốc phòng an ninh và sự ổn định chính trị xã hội, chúng có quan hệ với nhau tạo
điều kiện và tiền đề cho nhau cùng phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới cũng phải kết hợp chặt chẽ giữa CNH và
HĐH do hiện nay cuộc cách mạng KHKT hiện đại đang đưa tới sự thay đổi tiền đề về chất,
kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới. Bởi vậy quá trình CNH ở nước ta khác với CNH ở
nước khác.
là tư liệu sản xuất hiện đại và con người hiện đại - chủ thể của quá trình sản xuất đó.
Hiện nay khoa học-kỹ thuật-công nghệ ngày càng phát triển, tư liệu sản xuất ngày
càng phức tạp trong khi yếu tố con người ở Việt Nam lai chịu ảnh hưởng lâu ngày của cơ
chế tập chung quan liêu bao cấp. Điều đó tất yếu đòi hỏi phải không ngừng được đào tạo
và đào tạo lại để nâng cao trình độ kĩ năng, kĩ sảo nhằm nắm bắt và sử dụng cho được
thành tựu đó vào quá trình sản xuất, thônh qua đó nhằm phục vụ cho chính cuộc sống của
chúng ta.
3.3- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học-kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới.
Phải đảm bảo cơ sở khoa học cho các quyết định quan trọng của các cấp lãnh đạo
hình thành những ngành mới với kỹ thuật cao.
3.4 - Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Ngày nay công cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại và có xu hướng quốc tế
hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng đa dạng, tạo ra mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế dân tộc. Đồng thời cũng tạo ra khả năng và điều kiện để các
nước tham gia vào phân công hợp tác quốc tế. Nước ta kinh tế phát triển chậm, do đó mở
rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài để tranh thủ vốn, kinh tế, kinh nghiệm tổ chức quản lý
đào tạo cán bộ công nhân thông qua đa phương hoá các quan hệ và hình thức hoạt động
kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
Khai thác và sử dụng khéo léo các nguồn lực bên ngoài để huy động tối đa mọi
nguồn lực bên trong sẽ tạo ra tiền đề cần thiết cũng như cấc điều kiện có liên quan để đẩy
nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước.
3.5 - Tăng cường và cải tiến chế độ quản lý kinh tế của nhà nước.
Việc này nhằm tạo môi trường thuận lợi cho quá trình CNH-HĐH nền kinh tế, giữ
vững sự phát triển kinh tế cao, đưa nền kinh tế phát triển đúng hướng. Theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ngày càng nâng cao và phát huy vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong
nền kinh tế thị trường, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước thành công
vững mạnh. III/ CNH-HĐH-Kinh nghiệm thế giới.
ngoài. Tỷ lệ vốn trong nước của ASEAN từ 20%năm 1970 lên 36% năm 1980 và 44%năm
1990 so với vốn đầu tư.
*Các nước Nics Đông á:
Các nước này thực hiện quá trình CNH gồm 7 giai đoạn:
+Nhập công nghệ từ nước ngoài, không quan tâm đến tính thích hợp với các điều
kiện trong nước.
+Tổ chức cơ sơ hạ tầng một cách giản đơn để hỗ trợ cho các công nghệ nhập từ nước
ngoài.
+Nhập linh kiện, thiết bị, hạ tầng,nhà máy từ nước ngoài tiến hành lắp ráp trong
nước.
+Mua bằng sáng chế về công nghệ nước ngoài và chế tạo công nghệ trong nước.
+Sử dụng năng lực nghiên cứu và triển khai nhằm tạo lập năng lực nội sinh, thích
nghi công nghệ nhập với hoàn cảnh địa phương. Lúc này quốc gia bắt đầu kiểm soát số
phận công nghệ của mình.
+Sử dụng phát triển mạnh mẽ khả năng nghiên cứu và triển khai quốc gia để đổi mới
công nghệ. Sản xuất công nghẹ cho thị trường nội địa và xây dựng tiềm lực xuất khẩu công
nghệ.
+Phát triển mạnh mẽ năng lực đổi mới công nghệ với nhịp độ liên tục xuất hiện các
sản phẩm mới.
Cũng có thể tóm tắt chiến lược CNH của các nước Nics Đông á như sau:
Bước một, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thay thế nhập khẩu, trong khi vẫn nhập
khẩu các sản phẩm, các thành phẩm và công nghiệp nặng khác.
Bước hai, xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng và phát triển công nghiệp nặng cần nhiều
vốn nhằn sản xuất các sản phẩm trung gian, thiết bị máy móc.
Bước ba, chuyển giao công nghệ, công nghiệp hàng tiêu dùng cần nhièu lao động,
đẩy mạnh công nghiệp có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao để xuất khẩu.
Theo đánh giá của bộ KH-CN & môi trường thì nuớc ta đang ở giai đoạn 1 và 2.
Song từ những năm 80 trở lại đây, các nước Nics Đông á gặp khó khăn lớn về giá công
nhân cao, lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm công nghiệp sử dụng nhiều lao động đã hết. Vì
hội. 3. Thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời
sống.
Mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp cần lựa chọn cho mình phương hướng, nội dung, bước
đĩ, biện pháp ứng dụnh tiến bộ KH-CN vào sản xuất và đời sống cho thích hợp
Phát triển sâu rộng quan hệ liên kết kinh tế giữa khoa học với sản xuát, đào tạo với
nghiên cứu khoa học và sản xuát thong qua các hình thức đa dạng và có hiệu quả.
Tổ chức lại các viện nghiên cứu và các trường đại học theo hướng tập trung và kết
hợp có hiệu quả các nguồn lực, gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo.
4. Trên cơ sở quán triệt quan điểm chiến lược con người, cần có hệ thống biện
pháp đồng bộ về phân bố, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng con người.
Sử dụng lao động xã hội phải trên cơ sở phân bố lao động hợp lý giữa các ngành và
các vùng. Muốn sử dụng và phân bố lao động hợp lý, phải đào tạo và bồi dưỡng. Đồng
thời phải đào tạo và bồi dưỡng cũng phải gắn với phân bố sử dụng.
5. Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế -xã hội của liên kết kinh tế
Đây là sự liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực của nền KTQD mà biểu hiện trực tiếp
của nó là liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các ngành
khác nhau, các lĩnh vực khác nhau dựa trên nguyên tắc tự nguyện cùng có lợi tuân theo
luật pháp nhằm thực hiện quá trình tái sản xuất kinh doanh mở rộng của từng doanh nghiệp
và toàn bộ nền KTQD đạt hiệu quả KT-XH cao hơn.
Thông qua các biện pháp kinh tế, tổ chức sản xuát là chủ yếu để phát huy vai trò của
các doanh nghiệp trong mối liên hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau.
6. Đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao vai trò của nhà nước đối với sự nghiệp CNH
nhanh và có hiệu qủa.
Đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong phạm vi pháp luật cho các doanh nghiệp và
hộ kinh tế gia đình.
Phát huy vai trò của quản lý nhà nước trong: Định hướng, điều tiết, tao môi trường,
- HĐH.
Lựa chọn mục tiêu CNH - HĐH đúng đắn là một bước cơ bản bảo đảm sự tăng
trưởng được thực hiện đúng hướng. Những khả năng bền vững của quá trình này cho lâu
dài đạt được đến đâu, phụ thuộc vào việc sử dụng chất xám và hệ thống kinh tế một cách
tối ưu nhất. CNH - HĐH ở Việt nam trong thập niên 90 do vậy phải tập trung vào nông
nghiệp, công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng dựa trên cơ sở của sự xây dựng và cải
tạo thích đáng cơ sở hạ tầng cứng và mềm một cách căn bản và lâu dài. Xuất phát từ nhận
thức về vai trò và tầm quan trọng của CNH - HĐH đến sự phát triền kinh tế -xã hội của đất
nước, tôi nhận thấy rằng: yếu tố quyết định thắng lợi CNH - HĐH là yếu tố con người, là
mặt bằng dân trí, là đỉnh cao của trí tuệ; CNH - HĐH là sự nghiệp của toàn xã hội chúng
ta. Vì vậy, chính sách phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH - HĐH phải được
thực hiện trên ba mặt: giáo dục, đào tạo, sử dụng và tạo việc làm. Chắc hẳn ai cũng biết
một chân lý: "Đầu tư cho người đàn ông, ta được ông bố tốt. Đầu tư cho người đàn bà, ta
được một gia đình tốt. Đầu tư cho một thầy giáo ta được một thế hệ tốt”. Đi đôi với phát
triển giáo dục là phát huy truyền thống văn hoá kết hợp với tinh thần, trí tuệ của cả một
dân tộc với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng thời phát triển công
nghiệp bằng HĐH sâu trong nông nghiệp theo hướng xuất khẩu sản phẩm đã chế biến các
mặt hàng thế mạnh của đất nước.
Đất nước ta đang bước vào những kĩ nguyên mới xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu đưa đất
nước đi lên. Cũng chính thời kì này sự CNH - HĐH được đặt lên là vấn đề hàng đầu mà
mỗi chúng ta, những con người Việt Nam đang dầy công vun đắp đẩy nhanh tiến trình
CNH - HĐH đất nước, đưa đất nước bước sang một thời kì mới, một trang sử mới vẻ vang
hơn. Xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, xây dựng
cơ sở vật chất hiện đại cho nền kinh tế đó là nhiệm vụ của chúng ta phải thực hiện được, Mỗi người hãy đóng góp một phần trách nhiệm của mình để xây dựng đất nước đi lên, đẩy
nhanh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, đưa đất nước tiến lên XHCN một cách vững
mạnh.