Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của bò sữa chậm sinh và ứng dụng hormone để khắc phục - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TĂNG XUÂN LƯU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BÒ SỮA
CHẬM SINH VÀ ỨNG DỤNG HORMONE ĐỂ KHẮC PHỤC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: SINH SẢN VÀ BỆNH SINH SẢN GIA SÚC
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Tăng Xuân Lưu
ii
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Học
viện Nông nghiệp Việt Nam, những người đã giảng dạy và dìu dắt tôi trong suốt
hai năm học cao học đồng thời tạo điều kiện để tôi tiếp tục học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận án này.

Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục ảnh viii
Danh mục hình, sơ đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết 1
2. Mục tiêu đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4. Những đóng góp mới của luận án 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản trên bò 5
1.1.1. Đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái 5
1.1.2. Sự điều hòa hoạt động sinh dục của tuyến nội tiết 13
1.1.3. Hormone tuyến yên và vai trò của chúng trong sinh sản 15
1.1.4. Hormone của buồng trứng, nhau thai và prostaglandin trong sinh sản 16
1.1.5. Đặc tính sinh học của hormone sinh sản 17
1.1.6. Vai trò của một số hormone đối với gia súc cái 17
1.2. Progesterone và ứng dụng trong sinh sản 19
1.2.1. Vai trò của progesterone 19
1.2.2. Progesterone và hoạt động của buồng trứng 24
1.2.3. Progesterone và ứng dụng trong chăn nuôi 25
1.2.4. Định lượng progesterone để chẩn đoán có thai sớm 26
1.3. Một số nghiên cứu ở trong và ngoài nước về đặc điểm sinh sản và
điều tiết sinh sản trên bò có liên quan đến luận án 28
1.3.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài 28

iv
1.3.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 31
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.3.3. Chẩn đoán có thai sớm bằng định lượng progesterone trong sữa 90
3.4. Sử dụng hormone nhằm nâng cao khả năng sinh sản 92
3.4.1. Điều trị bệnh buồng trứng không hoạt động 92
3.4.2. Điều trị bệnh u nang buồng trứng 94
3.4.3. Điều trị bệnh thể vàng tồn lưu 96
3.4.4. Điều trị bò chậm sinh không rõ nguyên nhân bằng phác đồ tổng hợp
(GnRH- PGF2α- PGF2α- GnRH) 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
1. Kết luận 102
2. Kiến nghị 104
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 117

vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Ý nghĩa
AC
Adenylate Cyclase
ATP
Adenosine Triphosphate
BCS
Body Condition Score
CIDR
Controlled internal drug release
InsP
3


IGF-1
Insulin-like Growth Factor-1
IU
International Unit
THI
Temperature humidity index
LRH
Luteinizing Releasing Hormone
LH
Luteinizing Hormone
LTH
LuteinTrofic Hormone
ME
Metabolizable Energy
P
4

Progesterone (pregn-4-ene-3,20-dione)
PG
Prostaglandin
PRID
Progesterone internal drug release
PGF
2a

Prostaglandin F


PRLH
Prolactin-Releasing Hormone

3.20. Kết quả điều trị bò chậm sinh không rõ nguyên nhân bằng phác đồ
tổng hợp 99
viii
DANH MỤC ẢNH
STT
Tên hình ảnh
Trang
3.1. Bò đẻ sớm do bị strees nhiệt 56
3.2. Buồng trứng kém hoạt động 74
3.3. U nang nang trứng và thể vàng cùng tồn tại trên buồng trứng 74
3.4. U nang thể vàng 75
3.5. Thể vàng sinh lý (bên trái), thể vàng tồn lưu (bên phải) 75
3.6. Thể vàng sinh lý ngày thứ 5-6 của chu kỳ 87
3.7. Buồng trứng không hoạt động (thiểu năng) 88
3.8. U nang buồng trứng dạng tích nước 88
3.9. Thể vàng ở bò có thai ở 35- 60 ngày tuổi 91
2
điều trị bệnh thể vàng tồn lưu 46
2.9. Sử dụng công thức GnRH- PGF

- PGF

- GnRH 46

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam bắt đầu phát triển từ những năm 1960 và trở
thành ngành sản xuất hàng hóa vào những năm 1990. Từ năm 1986 đến 1999,
đàn bò sữa tăng trưởng trung bình 11% /năm. Năm 2001, Chính phủ đã có chủ
trương đẩy mạnh phát triển ngành sữa của Việt Nam với Quyết định
167/2001/QĐ/TTg về “Một số chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa trong giai
đoạn 2001-2010”. Do đó, năm 2001 Việt Nam có 41.241 con, năm 2002 là
55.848 con, tăng trưởng đạt 35,42%/ năm; giai đoạn 2001-2005 tăng 41,89%,
năm 2011 đạt 122.000 con và năm 2013 đạt 186.390 con, tăng 19,56%/năm. Dự
báo đến năm 2015 đạt 291.646 con (tăng 15%) và đến năm 2020 lên 469.700 con
(Hoàng Kim Giao, 2014). Để đạt được 469.700 con vào năm 2020, các nhà kỹ
thuật và người chăn nuôi cần phải làm gì ?.
Bò sữa ở nước ta chủ yếu là con lai HF (Holstein Friesian × Lai Zebu)
chiếm trên 60%, còn lại là bò HF (Holstein Friesian) thuần. Bò HF thuần chủ yếu
được nuôi tập trung với quy mô lớn ở một số doanh nghiệp, công ty lớn như:
Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu Sơn La, Công ty cổ phần sữa Vinamilk
(Tuyên Quang, Nghệ An…), Công ty cổ phần thực phẩm sữa TH (Nghệ An),

thiệp các bệnh về sinh sản Do đó, nghiên cứu để xác định đúng những nguyên
nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của bò sữa là việc làm cần thiết.
Hoạt động sinh sản của gia súc mang tính chu kỳ và chịu sự điều tiết của
hệ thần kinh và thể dịch. Yếu tố thần kinh điều khiển hoạt động có “định hướng”,
còn yếu tố thể dịch tác động theo hướng bản năng sinh học thông qua sự hoạt
động có tính quy luật của các hormone hướng sinh sản như: Follicle Stimulating
Hormone (FSH), Luteinizing Hormone (LH), Gonadotropin Releasing Hormone
(GnRH), Prostaglandin (PG), Progesterone… Trong số các hormone này,
progesterone có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của buồng trứng. Việc xác định
được hàm lượng hormone progesterone trong cơ thể bò cái là xác định được
trạng thái hoạt động của buồng trứng, làm căn cứ để cải thiện khả năng sinh sản
của chúng. Hướng này đang được nhiều nước quan tâm. Việc đánh giá tình trạng
hoạt động của buồng trứng cũng như sử dụng các chế phẩm hormone hướng sinh

3
dục để điều khiển nâng cao khả năng sinh sản của bò sữa theo ý muốn đã được
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, áp dụng có hiệu quả.
Đối với ngành chăn nuôi bò sữa, việc rút ngắn tuổi động dục lần đầu, rút
ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ, tăng số con được sinh ra đồng nghĩa với tăng
sản lượng sữa trong một đời con cái. Ngoài ý nghĩa kinh tế, tăng khả năng sinh
sản cũng có nghĩa tăng nhanh số lượng đàn giống, tái sản xuất mở rộng
Đàn bò sữa lai HF vùng Ba Vì nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung
được chăn nuôi chủ yếu trong nông hộ, đã có những yếu tố không thuận lợi làm
ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn bò này, nhưng mức độ tốt hay xấu,
những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chúng và giải pháp
nào có thể khắc phục hiện tượng chậm sinh cho đàn bò sữa là vấn đề được đặt ra.
2. Mục tiêu đề tài
Đánh giá được thực trạng sinh sản của đàn bò sữa nuôi tại Ba Vì, Hà Nội
và tình trạng hoạt động của buồng trứng ở bò chậm sinh, từ đó giúp cho người
chăn nuôi có được thông tin và hướng tác động đúng nhằm nâng cao hiệu quả

tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi.
4. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã tiếp cận một phương pháp nghiên cứu mới trong việc xác định,
đánh giá, phân loại cụ thể các nguyên nhân gây chậm sinh trên bò sữa. Đó là
phương pháp số hóa (định lượng hormone progesterone), kết hợp với phương
pháp truyền thống (lâm sàng) làm cho kết quả lâm sàng được chính xác hơn
trong chẩn đoán và điều trị bệnh trên buồng trứng.
Đưa ra các phác đồ điều trị bệnh một cách cụ thể cho từng trạng thái trên
buồng trứng đã giúp cho các nhà kỹ thuật ở cơ sở sản xuất có thể áp dụng một
cách thuận thiện và chính xác hơn, đạt được hiệu quả cao. Nhất là đối với các địa
bàn không có những kỹ thuật giỏi.
Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà chuyên môn,
tham khảo dùng trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu và ứng dụng trong thực
tiễn sản xuất.
5
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản trên bò
1.1.1. Đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái
1.1.1.1. Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu
Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện,
buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ tinh, đồng

sự điều hoà chặt chẽ của hormone, do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã phân chia chu
kỳ động dục của bò thành 2 pha chính:
Pha Folliculin: gồm toàn bộ biểu hiện trước khi rụng trứng.
Pha Lutein: gồm những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể
vàng. Trong một chu kỳ động dục của bò thường có các đợt sóng nang
(Foliculas Wave), đây là sự phát triển đồng loạt của một số bào noãn trong cùng
một thời gian. Theo dõi sự phát triển của buồng trứng bằng phương pháp nội soi
và siêu âm cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 đợt sóng nang (một số
ít có 4 đợt). Đợt 1 bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu
kỳ. Đợt 2 vào ngày 11-17 và đợt 3 vào ngày 18-0 (ngày 0 là ngày bắt đầu động
dục). Mỗi đợt sóng nang có thể phát triển (huy động) tới 15 nang kích thước từ 5-
7mm. Một số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích
thước của nang khống chế ở đợt 1; 2; 3 có thể đạt tới 12-15mm vào các ngày 6;
13; 21 (Sato et al., 1992a). Trong mỗi sóng có một nang trứng phát triển nhanh
hơn các nang trứng khác và trở thành nang trội, mặc dù nang trội của mỗi đợt
sóng nang có khả năng phát triển đến rụng trứng nhưng do bị progesterone của
thể vàng ức chế nên không phát triển đến giai đoạn rụng trứng mà bị thoái hóa,
chỉ có một nang trội của đợt sóng nang cuối cùng phát triển đến giai đoạn rụng
trứng do lúc này thể vàng thoái hóa và hàm lượng progesterone bị giảm. Sự có
mặt của progesterone ở pha thể vàng làm cho các nang trứng trội bị thoái hóa và
đợt sóng nang mới lại xuất hiện.
Khi sử dụng progesterone ngoại sinh đã kéo dài chu kỳ động dục và tạo ra
sự luân chuyển của nang trội. Nồng độ progesterone trong máu tăng lên ức chế sự
liên tục của sóng LH (Luteinizing Hormone - hormone hoàng thể hóa do tuyến yên
tiết ra) có tác dụng kích thích rụng trứng và phát triển thể vàng ở con cái, làm cho
nang trội có thời gian sống ngắn hơn. Progesterone ức chế sự ảnh hưởng lên sự
phát triển của pha nang trội, do vậy các mức độ progesterone của thể vàng bình

7
thường thúc đẩy sự thoái hóa của các nang trội và tạo ra sóng nang mới (Adams et

8
Hypothalamus tiết GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone) vào hệ
thống động mạch vùng dưới đồi - tuyến yên làm thùy trước tuyến yên tăng tiết
FSH và LH, kích thích sự phát triển nang trứng. Trong hàng loạt các nang
phát triển, xuất hiện nang trứng phát triển nhanh hơn và trở thành nang trội.
Estradiol và Inhibin được tổng hợp từ các tế bào hạt của nang trội. Hàm lượng
estradiol tăng cao, tác động ngược dương tính vào hypothalamus, kích thích
sản xuất LH tăng cao làm nang trội giải phóng tế bào trứng. Inhibin tác động
ngược âm tính làm giảm hàm lượng FSH dưới ngưỡng cần thiết đối với sự tồn
tại của các nang còn lại, làm thoái hóa các nang trứng còn lại. Tuy nhiên, ở
hàm lượng FSH thấp nang trội vẫn có khả năng phát triển và rụng trứng do
nang trội có sự mẫn cảm với FSH nhờ sự có mặt của IGF-1 (Inhibin-like
Growth Factor-1: yếu tố sinh trưởng giống Inhibin) trong tế bào với hàm
lượng cao hơn và nang trội có thụ thể tiếp nhận LH của các tế bào hạt sớm
hơn các nang khác và do vậy nang trội phát triển đến giai đoạn rụng trứng mà
không bị thoái hóa trong điều kiện FSH thấp (Campbell et al., 1995).
Vai trò của FSH
Kích noãn tố gọi tắt là FSH, là một glycoprotein được tìm thấy ở người
và các động vật khác nhau, được tổng hợp và tiết ra bởi các tế bào nội tiết của
thùy trước tuyến yên. FSH có chức năng điều hòa quá trình sinh trưởng, phát
triển, thành thục về tính và các quá trình sinh sản của cơ thể. FSH hoạt động
thông qua sự liên kết vào các thụ thể (receptor) đặc trưng, được định vị vào một
nơi riêng biệt trên tế bào hạt của nang trứng và các tế bào hạt trên buồng trứng,
là vị trí đích để FSH hoạt động. Các nghiên cứu gần đây cho thấy FSH rất cần
thiết cho tất cả các giai đoạn phát triển của nang trứng như: chuyển hóa tiền các
tế bào hạt dẹt thành các tế bào hình lập phương, phát triển các nang trứng thứ
cấp và chuyển hóa nang trứng từ nang trứng thứ cấp thành nang trứng phát triển
do FSH ảnh hưởng trực tiếp lên sự hình thành nang. Vai trò của FSH trong sự
điều khiển phát triển các nang trứng nhỏ hơn 1mm được rất nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu và đến nay vẫn có nhiều quan điểm trái ngược nhau. Một

tăng tiết tạo ra sự phản hồi âm tính cho FSH ở trục dưới đồi tuyến yên. Sự suy
giảm FSH dẫn đến hàm lượng estrogene giảm đó là cơ sở xảy ra đồng thời với
sự ưu tiên một nang trội.

10
Vai trò của LH:
Đối với gia súc cái, LH có vai trò kết hợp với FSH làm giảm sự bài tiết
của estrogen ở những nang Graff lớn, làm cho bao noãn thành thục. Sự có mặt
của LH với nồng độ cao có vai trò làm rách vách nang trứng gây rụng trứng. Một
vai trò quan trọng của LH là kích thích sự tạo và duy trì hoạt động của tế bào thể
vàng buồng trứng (thực chất của quá trình này là tăng số lượng thể nhận LH ở
các tế bào hạt dưới ảnh hưởng của FSH). Đối với con đực, LH kích thích tế bào
kẽ (tế bào Leydig) của dịch hoàn sản xuất testosteron (Cù Xuân Dần và Lê Khắc
Thận, 1985).
1.1.1.3. Quá trình mang thai
Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được
bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong. Trong thực tế, sự có
thai của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ. Thời
gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như tuổi của bò mẹ, điều kiện
nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc
vào lứa đẻ hoặc tính biệt của thai. Thời gian mang thai của bò dao động trong
khoảng 278-290 ngày.
Theo Trần Trọng Thêm (1986), đối với đàn bò Holstein Friesian tại Trung
tâm giống bò sữa Hà Lan Sao Đỏ, thời gian có chửa là 279,87 ngày. Thời gian
chửa của bò Sind đỏ Philipin là 280 ngày (252-299), của bò Pakistan là 285 ngày
(257-328). Theo Rubenkop (1975) thời gian chửa ở bò lang trắng đen (LTĐ), F
2

3/4 (LTĐ), F
3

(378 ngày nuôi dưỡng tốt và 424 ngày nuôi dưỡng kém) (Nguyễn Văn Thưởng
và Trần Doãn Hối, 1982); 540 ngày (Nguyễn Kim Ninh và Lê Trọng Lạp, 1992);
473 ngày (Trần Trọng Thêm, 1986).
1.1.1.5. Sự hồi phục sau khi đẻ
- Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ:
Sau quá trình co bóp để đẩy thai ra ngoài, tử cung dần dần co lại (hầu
như trở lại kích thước ban đầu), quá trình đó gọi là hồi phục tử cung sau khi đẻ,
là giai đoạn sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phân tiết prostaglandin ở
thân sừng tử cung, ảnh hưởng tới khả năng động dục trở lại sau khi đẻ.
Trước đây người ta cho rằng thời gian để bộ máy sinh dục của bò cái hồi
phục hoàn toàn sau khi đẻ chỉ là 3 tuần. Những kết quả nghiên cứu sau này
chứng minh rằng thời gian này dài hơn. Đối với bò đẻ lứa đầu là 42 ngày, bò đã
đẻ nhiều lần là 50 ngày. Kích thước tử cung của bò sau khi đẻ được hồi phục trở
lại gần như bình thường vào khoảng ngày thứ 30 nhưng cần thêm 15 ngày nữa thì
trương lực cơ tử cung mới được hồi phục hoàn toàn (Sato et al., 1992a).
2
1


V
T
K

12
Phương pháp khám qua trực tràng cho biết, 4 ngày sau khi đẻ thể tích tử
cung giảm còn 1/2 và tử cung hồi phục gần như hoàn toàn khoảng ngày thứ 18
sau khi đẻ. Trong thời gian sau khi đẻ, sự phá hoại của mô nội mạc tử cung kèm
theo sự có mặt của số lượng lớn bạch cầu và việc giảm thấp lòng mạch nội mạc
tử cung, các tế bào cổ tử cung giảm về số lượng và kích thước. Những biến đổi
nhanh chóng và không cân đối có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai

kinh tác động thông qua các thụ quan nhạy cảm, nơi tiếp nhận tất cả các xung
động của ngoại cảnh vào cơ thể. Đầu tiên là đại não và vỏ não mà trực tiếp là
Hypothalamus tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) GH-RF kích thích
thùy trước tuyến yên tiết FSH, LH và các hormone đó theo máu tác động tới
buồng trứng làm nang trứng phát triển đến mức độ chín và tiết ra estrogen.
Ở quá trình sinh lý bình thường, trong gia súc đến tuổi trưởng thành,
buồng trứng đã có nang trứng phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ
thể con vật đã có sẵn một lượng nhất định về estrogen, chính estrogen tác
động lên trung khu vỏ đại não và ảnh hưởng đến hypothalamus, tạo điều kiện
cho sự xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ
(Gonadotropin Releasing Hormone hay là hormone giải phóng FRH và LRH)
(Trần Tiến Dũng và cs., 2002).
Hormone giải phóng FRH (Follitropin-Releasing Hormone) và LRH
(Luteinizing Releasing Hormone) được gọi chung là GnRH.
Hormone FRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH, kích tố này kích
thích sự phát triển noãn nang của buồng trứng, cũng đồng nghĩa với việc lượng
estrogen tiết ra nhiều hơn. Estrogen tác động vào các bộ phận sinh dục thứ cấp
đồng thời tác động lên trung tâm hypothalamus, vỏ đại não, gây nên hiện tượng
động dục.
Thùy trước tuyến yên tiết ra hormone LH và LRH dưới sự kích thích của
LRH. LH tác động vào buồng trứng, làm trứng chín; kết hợp với FSH làm nang
trứng vỡ ra và gây nên hiện tượng thải trứng, hình thành thể vàng. LRH kích
thích thuỳ trước tuyến yên phân tiết LTH (Luteino Trofic Hormone). LTH tác
động vào buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng, kích thích thể vàng phân

14
tiết progesterone. Progesterone tác động ngược lên tuyến yên ức chế phân tiết
FSH, LH và quá trình động dục chấm dứt.
Progesterone tác động vào tử cung làm cho tử cung dày lên, tạo cơ sở tốt
cho việc làm tổ của hợp tử - phôi lúc ban đầu (tạo sữa tử cung). Ở con vật có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status