Nghiên cứu TíNH AN TOàN Và TáC DụNG CủA THUốC THÔNG MạCH SƠ LạC HOàNTRONG ĐIềU TRị nhồi máu não sau giai đoạn cấp - Pdf 28

1
bộ giáo dục và đào tạo
bộ y tế
Trờng đại học y hà nội
NgÔ QuỳNH HOA
Nghiên cứu TíNH AN TOàN Và TáC
DụNG CủA THUốC
THÔNG MạCH SƠ LạC HOàN
TRONG ĐIềU TRị nhồi máu não
sau giai đoạn cấp

Chuyên ngành: Y học cổ truyền
Mã số: 62.72.02.01
Tóm tắt Luận án tiến sĩ y học

Hà Nội 2013
2
Công trình đợc hoàn thành
tại
Trờng đại học y hà nội
Ngời hớng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Đỗ THị PHƯƠNG
2. PGS. TS. NGUYễN TRầN THị
GIáNG HƯƠNG
Phản biện 1:
PGS.TS. Phạm Văn Trịnh

Phản biện 2:
GS.TS. Lê Quang Cờng
Phản biện 3:
PGS.TS. Trần Quốc Bình

Tạp chÝ nghiªn cứu Y học Phụ trương 80
(3D) 10/2012, tr 70 - 74.
6
THÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG KẾT LUẬN
MỚI
CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Tên đề tài “ Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của
thuốc “Thông mạch sơ lạc hoàn” trong điều trị nhồi máu não
sau giai đoạn cấp”.
Mã số: 62.72.60.01 Chuyên
ngành: Y học cổ truyền
Nghiên cứu sinh: Ngô Quỳnh Hoa
Cán bộ hướng dẫn: 1. PGS. TS. Đỗ Thị Phương
2. PGS. TS. Nguyễn Trần Thị
Giáng Hương
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Y Hà Nội
Những kết luận mới của luận án:
1. Về tính an toàn và tác dụng của Thông mạch sơ lạc hoàn
trên thực nghiệm: Chưa xác định được độc tính cấp và chưa
tính được LD50 của Thông mạch sơ lạc hoàn (TMSLH) trên
chuột nhắt trắng theo đường uống với liều lên tới 229g dược
liệu/kg thể trọng. TMSLH không gây độc tính bán trường diễn
trên thỏ khi cho thỏ uống liều 13,61g/kg/ngày (liều tương
đương với liều dùng trên người) và liều gấp ba lần
(40,82g/kg/ngày) trong bốn tuần liên tục. TMSLH có tác dụng
hạ huyết áp (HA) thông qua tác dụng trên hệ adrenergic (làm
giảm một phần tác dụng của adrenalin), không ảnh hưởng gì
đến hệ cholinergic. TMSLH có tác dụng giãn mạch tai thỏ cô
lập ở nồng độ 0,9%.
2. Về tác dụng điều trị của Thông mạch sơ lạc hoàn kết hợp với

hoàn: Thuốc TMSLH kết hợp XBBH chưa gây ra bất cứ tác
dụng không mong muốn nào trên lâm sàng, đồng thời cũng
8
chưa thấy sự thay đổi theo hướng bất lợi đối với một số chỉ số
huyết học và chức năng gan, thận trên cận lâm sàng.

Nội, ngày 30 tháng
3 năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
Nghiên cứu sinh
PGS. TS. Đỗ Thị Phương
Ngô Quỳnh Hoa
9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch não (TBMN) chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnh của hệ thần
kinh trung ương là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật phổ biến ở mọi
quốc gia trên thế giới. Trong các thể TBMN, nhồi máu não (NMN) chiếm đa số với
tỷ lệ 75% đến 80%. Những tiến bộ của y học trong thời gian gần đây đã góp phần
làm giảm tỷ lệ tử vong của TBMN, đồng nghĩa với tỷ lệ sống sót và tàn phế cũng
tăng lên dẫn đến nhu cầu điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMN cũng
tăng lên. Bên cạnh đó, TBMN thường liên quan rất chặt chẽ với một số yếu tố nguy
cơ mà phổ biến nhất là tăng huyết áp và xơ vữa động mạch. Do vậy, hiện nay việc
phối hợp đồng thời giữa điều trị phục hồi chức năng và điều trị các yếu tố nguy cơ
thường được áp dụng trong điều trị TBMN.
Để nâng cao hiệu quả trong điều trị và dự phòng cho bệnh nhân nhồi máu não sau
giai đoạn cấp, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của
thuốc “Thông mạch sơ lạc hoàn” trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp” với
các mục tiêu:
1- Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng trên tim mạch của thuốc “Thông mạch sơ
lạc hoàn” (TMSLH) trên động vật thực nghiệm.

bị tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não do động mạch não đó phân bố bị giảm trầm
trọng, dẫn đến chức năng vùng não đó bị rối loạn.
Nguyên nhân: Có 3 nguyên nhân lớn. Nghẽn mạch (Huyết khối – thrombosis): là
tổn thương thành mạch, làm rối loạn đông máu, gây đông máu và/hoặc tắc động
mạch não và xảy ra ngay tại vị trí động mạch bị tổn thương. Tắc mạch (embolism):
cục tắc từ một mạch ở xa (từ tim, từ một mạch lớn vùng cổ) bong ra theo đường tuần
hoàn lên não đến chỗ lòng mạch nhỏ hơn sẽ nằm lại đó gây tắc mạch. Co thắt mạch
(vasocontriction): mạch máu co thắt gây cản trở lưu thông dòng máu.
Yếu tố nguy cơ: Nhóm yếu tố không biến đổi được: tuổi, giới, chủng tộc, địa lý và di
truyền. Nhóm yếu tố biến đổi được và có thể biến đổi được: phổ biến là tăng huyết
áp, rối loạn chuyển hóa lipid máu, bệnh lý tim mạch, béo phì, đái tháo đường…
Chẩn đoán: Lâm sàng: bệnh đột ngột, có tổn thương khu trú chức năng não, tồn tại
quá 24 giờ, không có yếu tố chấn thương. Có tiền sử: tăng huyết áp, xơ vữa động
mạch, đái tháo đường, bệnh tim… Cận lâm sàng: Chụp CLVT sọ não, CHT sọ não
có ổ giảm đậm độ thuần nhất.
Nguyên tắc điều trị: Điều trị toàn diện, giữ cân bằng các chức năng sinh lý, điều trị
đặc hiệu: tái lập lại tuần hoàn và bằng mọi cách bảo vệ tế bào vùng nửa tối khỏi chết.
Phục hồi chức năng sớm và kiên trì, hoà nhập bệnh nhân (BN) với cộng đồng.
1.2. NHỒI MÁU NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Quan niệm: Trúng phong còn gọi là thốt trúng vì bệnh phát sinh cấp, đột ngột và rất
nặng. Bệnh nhân đột nhiên ngã ra bất tỉnh hoặc vẫn còn tỉnh, bán thân bất toại hoặc
tứ chi không cử động được, miệng méo, mắt lệch, nói khó.
11
Nguyên nhân: không ngoài 6 yếu tố là phong (nội phong, ngoại phong), hỏa (can
hỏa, tâm hỏa), đàm (phong đàm, thấp đàm, nhiệt đàm), huyết (huyết hư, huyết ứ), khí
(khí hư, khí trệ, khí nghịch) và hư (tỳ hư, can thận hư, âm hư).
Cơ chế bệnh sinh: Từ đời Đường, Tống (618 - 1279) về trước, coi trọng phương diện
ngoại nhân. Từ đời Kim Nguyên (1280 - 1368) về sau, nguyên nhân chủ yếu là do nội
phong như Lưu Hà Gian chủ về hoả thịnh, Lý Đông Viên chủ về khí hư, Chu Đan Khê
chủ về đàm nhiệt, Diệp Thiên Sỹ cho rằng chủ yếu do can dương cang thịnh.

12
CHƯƠNG 2. CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1. Thuốc NC trên thực nghiệm:
Thuốc dùng NC trên thực nghiệm là thuốc TMSLH. Khi sử dụng trên thực
nghiệm cho súc vật được hòa trong nước thành dạng cao lỏng.
2.1.1. Thuốc NC trên lâm sàng:
* Thuốc Thông mạch sơ lạc hoàn: dùng cho nhóm NC (thành phần và tác dụng
đã đề cập ở mục 1.3.).
* Thuốc giả dược: dùng trong nhóm đối chứng (ĐC). Thành phần chủ yếu là
bột sắn và tá dược, hoàn thành viên có trọng lượng, kích thước và màu sắc
giống hệt thuốc TMSLH.
Đều được bào chế tại Khoa YHCT Bệnh viện Đa khoa Xanh – Pôn, đã đạt
tiêu chuẩn kiểm định cơ sở do Viện Kiểm nghiệm Trung Ương kiểm định.
Liều dùng: viên hoàn 10g x 6 viên/ngày chia hai lần (sáng, chiều) sau ăn 30 phút.
* Thuốc hạ huyết áp Natrilix SR viên nén 1,5mg do Servier (Pháp) sản xuất.
Cách dùng: 1 viên/ngày, uống vào 8 giờ sáng, trong 5 ngày đầu.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Nghiên cứu trên thực nghiệm: Chuột nhắt trắng chủng Swiss, 100 con. Thỏ
chủng Newzealand White 40 con. Chó 15 con. Tất cả các động vật nghiên cứu đều
trưởng thành, khỏe mạnh, cả 2 giống được nuôi trong điều kiện thí nghiệm tại Bộ
môn Dược lý trường Đại học Y Hà Nội.
2.2.2. Nghiên cứu trên lâm sàng: 90 BN, cả nam và nữ, tự nguyện tham gia NC,
được chẩn đoán NMN sau giai đoạn cấp.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán theo y học hiện đại
Lâm sàng: BN được chẩn đoán xác định là NMN sau giai đoạn cấp từ 15 ngày đến
6 tháng, còn liệt nửa người các mức độ khác nhau, liệt thần kinh VII, thất ngôn, rối
loạn cơ tròn Tỉnh táo, nghe và hiểu lời nói. Đánh giá mức độ liệt: chọn BN có di
chứng từ độ 2 đến độ 4 theo độ liệt Rankin, có chỉ số Barthel từ 0 đến 75 điểm (độ II
đến độ IV), có từ 0 đến 89 điểm (độ II đến độ IV) theo thang điểm Orgogozo. Huyết

- Lô chứng: uống nước cất, 5ml/kg/ngày.
- Lô trị 1: uống thuốc liều 13,61g/kg/ngày (tương đương với liều dùng cho
người, tính theo hệ số 3).
- Lô trị 2: uống thuốc liều 40,82g/kg/ngày (gấp 3 lần liều ở lô trị 1).
Các chỉ tiêu theo dõi: Cân nặng, huyết học, sinh hóa chức năng gan thận, mô
bệnh học gan và thận vv so sánh với lô chứng.
* Nghiên cứu tác dụng hạ huyết áp: chó được uống TMSLH liều 6,80
g/kg/ngày tương đương liều lâm sàng (đã được ngoại suy liều trên chó theo hệ số 2).
Và theo dõi các chỉ số HAtt, HAttr, huyết áp trung bình (HAtb), tần số tim khi chưa
uống thuốc thử và sau khi uống thuốc thử 30 phút/lần, liên tục trong 6 giờ.
Nghiên cứu ảnh hưởng của TMSLH trên huyết áp chó thông qua hệ adrenergic
và hệ cholinergic: theo dõi huyết áp bình thường. Tiêm adrenalin hoặc tiêm
acetylcholin lần 1. Chó uống TMSLH liều 6,80 g/kg/ngày tương đương liều lâm
14
sàng, theo dõi các chỉ số huyết áp tại bốn thời điểm sau uống thuốc thử 30 phút, 60
phút, 90 phút và 120 phút. Tiêm adrenalin hoặc tiêm acetylcholin lần 2 (ghi HAtt,
HAttr, HAtb tại các thời điểm NC).
* Nghiên cứu tác dụng giãn mạch: Được tiến hành trên tai thỏ cô lập theo
phương pháp Kravkov. Truyền dung dịch thuốc thử ở các nồng độ khác nhau ở độ
cao 100cm vào động mạch giữa. Theo dõi số giọt dung dịch chảy ra ở 2 tĩnh mạch
vành tai trong một phút lúc trước và sau khi dùng thuốc thử.
2.3.2. Nghiên cứu trên lâm sàng: Thiết kế NC: thử nghiệm lâm sàng mù đơn,
có đối chứng giả dược. 90 BN, cả nam và nữ, tự nguyện tham gia NC, được
chẩn đoán NMN sau giai đoạn cấp, phân loại theo từng cặp đồng khả năng
(về mức độ tổn thương, tuổi, giới), sau đó tiếp tục bốc thăm chia vào 2
nhóm NC và nhóm ĐC.
* Phác đồ điều trị:
- Nhóm ĐC: gồm 45 BN được điều trị thuốc giả dược, viên 10g x 6 viên/ngày
chia 2 lần (sáng, chiều) sau ăn 30 phút, với liệu trình điều trị 30 ngày.
- Nhóm NC: gồm 45 BN dùng chế phẩm TMSLH, viên 10g x 6 viên/ngày chia

thuốc, kết quả không thấy thỏ có biểu hiện khác thường. Các kết quả về cân nặng,
huyết học (hồng cầu, huyết sắc tố, hematocrit, số lượng bạch cầu, công thức bạch
cầu, số lượng tiểu cầu), sinh hóa (ALT, AST, bilirubin, protein, albumin, creatinin)
thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Riêng hàm lượng cholesterol ở lô trị 2
giảm ở thời điểm sau 4 tuần dùng thuốc và 2 tuần ngừng thuốc (p<0,05). Mô bệnh
học gan, thận của thỏ không khác biệt với lô chứng.
3.1.3. Tác dụng dược lý trên tim mạch: Có tác dụng làm hạ huyết áp chó tại thời
điểm sau uống TMSLH 120 phút và kéo dài đến thời điểm 270 phút thông qua hệ
adrenergic. Làm giãn mạch tai thỏ cô lập ở nồng độ 0,9%.
3.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRÊN LÂM SÀNG
3.2.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân NMN:
* Đặc điểm nhóm BN nghiên cứu
- Tuổi trung bình giữa 2 nhóm tương đương nhau (65,89 ± 7,85 và 65,07 ± 7,66)
(p>0,05). Nhóm tuổi 60 – 69 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,67% ở nhóm ĐC và 37,78% ở
nhóm NC).
- Tỷ lệ nữ/nam ở nhóm ĐC là 1,14/1 và ở nhóm NC là 1,05/1 (p>0,05).
- Thời gian từ khi mắc NMN đến khi được điều trị ở giai đoạn cấp từ ngày thứ 3 trở
xuống chiếm tỷ lệ cao 66,67% ở nhóm ĐC và 60,0% ở nhóm NC (p>0,05).
- Thời gian từ khi mắc NMN đến khi tham gia NC dưới 3 tháng chiếm tỷ lệ cao ở cả
2 nhóm (75,56% và 88,89%) (p>0,05).
- Thời gian khởi phát bệnh NMN trong ngày từ 4 đến 8 giờ là cao nhất 44,44% ở
nhóm ĐC và 57,78% ở nhóm NC (p>0,05).
* Theo Y học hiện đại
- Các yếu tố nguy cơ: BN rối loạn chuyển hóa lipid máu ở cả 2 nhóm đều chiếm tỷ lệ
cao nhất (93,33%) rồi đến tăng huyết áp (51,11%).
- Vị trí tổn thương ở bán cầu trái cao hơn ở bán cầu phải. Đa số BN có kích thước ổ
tổn thương dưới 1,5cm. Tỷ lệ BN có một ổ tổn thương cao hơn nhiều ổ (p>0,05).
16
- Tỷ lệ BN liệt nửa người phải chiếm tỷ lệ cao ở cả 2 nhóm. Đa số BN có liệt VII trung
ương, rối loạn ngôn ngữ, tăng phản xạ gân xương và rối loạn cảm giác (p>0,05).

Tỷ lệ % 6,67 42,22 62,22 2,22 55,56 68,89
Độ 3 Số BN 28 19 12 35 19 7
Tỷ lệ % 62,22 42,22 26,67 77,78 42,22 15,56
Độ 4 Số BN 14 7 3 9 1 0
Tỷ lệ % 31,11 15,56 6,67 20,00 2,22 0
p < 0,01 < 0,01
Nhận xét: thang điểm Rankin trước điều trị độ 3 chiếm tỷ lệ cao ở cả nhóm ĐC (62,22%) và
nhóm NC (77,78%); sau điều trị độ 2 ở nhóm ĐC là 62,22% và nhóm NC là 68,89% (p<0,01).
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt theo thang điểm Rankin
Nhận xét: sau 30 ngày điều trị đa số BN có kết quả dịch chuyển độ liệt Rankin
chuyển được 1 độ: 80,0% ở nhóm ĐC và 68,89% ở nhóm NC (p<0,05).
Loại
Tỷ lệ %
Loại
17
Bảng 3.2. So sánh tiến triển độ liệt của chỉ số Barthel theo thời gian điều trị
Chỉ số Barthel
Nhóm đối chứng (n = 45) Nhóm nghiên cứu (n = 45)
N
0
N
15
N
30
N
0
N
15
N
30

N
0
N
15
N
30
N
0
N
15
N
30
90 - 100
(Độ I)
Số BN 0 1 3 0 0 3
Tỷ lệ % 0 2,22 6,67 0 0 6,67
70 - 89
(Độ II)
Số BN 3 6 19 0 0 24
Tỷ lệ % 6,67 13,33 42,22 0 0 53,33
50 - 69
(Độ III)
Số BN 18 29 21 20 42 18
Tỷ lệ % 40,00 64,44 46,67 44,44 93,33 40,00
0 - 49
(Độ IV)
Số BN 24 9 2 25 3 0
Tỷ lệ % 53,33 20,00 4,44 55,56 6,67 0
p < 0,01 < 0,01
Nhận xét: sau điều trị độ II ở nhóm ĐC là 42,22% và nhóm NC là 53,33%.

Nhóm
đối chứng
(n = 45)
N
o
133,89 ± 13,09 82,89 ± 5,59 99,91 ± 7,79
N
30
131,44 ± 7,71 82,22 ± 5,89 98,70 ± 7,39
p < 0,05 > 0,05 > 0,05
Nhóm
nghiên cứu
(n = 45)
N
o
133,44 ± 11,91 84,89 ± 6,44 102,45 ± 7,33
N
30
130,02 ± 7,49 82,44 ± 4,60 98,07 ± 5,00
p < 0,05 < 0,05 < 0,01
Nhận xét: nhóm NC HAtt trước điều trị là 133,44mmHg ± 11,91; sau điều
trị là 130,02mmHg ± 7,49 (p<0,05); HAtb trước điều trị là 102,45mmHg ±
7,33, sau điều trị là 98,07mmHg ± 5,00 (p<0,01).
Trong số 46 bệnh nhân THA giai đoạn 1 (ở cả 2 nhóm) được sử dụng
phác đồ NC và thuốc Natrilix SR 1,5mg x 1 viên/ ngày trong 5 ngày đầu
tham gia NC. Sau 5 ngày chỉ số huyết áp của tất cả BN nghiên cứu đều ở
mức bình thường, các BN này được tiếp tục điều trị bằng phác đồ NC.
Trong suốt thời gian còn lại, không có BN nào có THA.
3.2.2.2. Cải thiện tình trạng lâm sàng và độ liệt theo Y học cổ truyền
Bảng 3.6. So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Rankin

(n = 45)
Loại A 2 25,00 6 16,22
> 0,05Loại B 4 50,00 20 54,05
Loại C 2 25,00 11 29,73
Cộng 8 100 37 100
Nhóm
nghiên cứu
(n = 45)
Loại A 5 55,56 18 50,00
> 0,05Loại B 3 33,33 15 41,67
Loại C 1 11,11 3 8,33
Cộng 9 100 36 100
Nhận xét: nhóm ĐC giảm một độ thể TPKL 54,05%, thể TPTP 50,00% (p>0,05).
Nhóm NC giảm hai độ ở thể TPKL 50,00%; thể TPTP 55,56% (p>0,05).
Bảng 3.8. So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt của thang điểm Orgogozo theo thể
TPTP và TPKL
Nhóm
Kết quả dịch chuyển độ liệt Orgogozo
pTPTP TPKL
Số BN Tỷ lệ (%) Số BN Tỷ lệ (%)
Nhóm
đối chứng
(n = 45)
Loại A 1 12,50 5 13,51
> 0,05Loại B 4 50,00 28 75,68
Loại C 3 37,50 4 10,81
Cộng 8 100 37 100
Nhóm
nghiên cứu
(n = 45)

Nhóm
Kết quả dịch chuyển độ liệt Barthel
pHàn Nhiệt
Số BN Tỷ lệ (%) Số BN Tỷ lệ (%)
Nhóm
đối chứng
(n = 45)
Loại A 3 21,43 5 16,13
> 0,05Loại B 8 57,14 16 51,61
Loại C 3 21,43 10 32,26
Cộng 14 100 31 100
Nhóm
nghiên
cứu
(n = 45)
Loại A 5 33,33 18 60,00
< 0,05Loại B 6 40,00 12 40,00
Loại C 4 26,67 0 0
Cộng 15 100 30 100
Nhận xét: nhóm ĐC loại A (giảm 2 độ) ở thể hàn 21,43% và thể nhiệt 16,13%
(p>0,05). Nhóm NC thể hàn 33,33% loại A và thể nhiệt 60,00% (p<0,01).
Bảng 3.11. So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt
của thang điểm Orgogozo theo phân loại hàn, nhiệt
Nhóm
Kết quả dịch chuyển độ liệt Orgogozo p
Hàn Nhiệt
Số BN Tỷ lệ (%) Số BN Tỷ lệ (%)
Nhóm
đối chứng
(n = 45)

đối chứng
(n = 45)
N
o
4,13 ± 0,46 120,04 ± 13,00 6,65 ± 1,31 218,87 ± 52,74
N
30
4,16 ± 0,37 119,87 ± 11,12 6,39 ± 1,40 225,20 ± 52,63
p > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05
Nhóm
nghiên cứu
(n = 45)
N
o
4,26 ± 0,48 123,53 ± 14,89 6,43 ± 1,06 222,91 ± 64,70
N
30
4,23 ± 0,44 121,87 ± 11,11 6,45 ± 1,14 219,62 ± 48,07
p > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05
Nhận xét: sau 30 ngày điều trị, số lượng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin,
22
số lượng bạch cầu, tiểu cầu của BN ở cả 2 nhóm so với trước điều trị thay
đổi không đáng kể, không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.13. So sánh giá trị trung bình một số chỉ số đông máu trước và sau điều
trị
Nhóm
Giá trị trung bình của một số chỉ số đông máu (
X
± SD)
Tỷ số APTT INR Fibrinogen (g/l)

C) ALT (U/l-37
0
C)
Nhóm
đối chứng
(n = 45)
N
o
32,03 ± 8,83 30,25 ± 11,92
N
30
32,36 ± 6,50 30,37 ± 10,42
p
> 0,05 > 0,05
Nhóm
nghiên cứu
(n = 45)
N
o
31,52 ± 9,15 30,63 ± 11,74
N
30
30,76 ± 5,59 29,29 ± 6,98
p
> 0,05 > 0,05
Nhận xét: sau 30 ngày điều trị, hoạt độ AST, hoạt độ ALT của BN cả 2 nhóm so với
trước điều trị thay đổi không đáng kể, không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.15. So sánh giá trị trung bình ure, creatinin và glucose máu trước và sau điều trị
Nhóm
Giá trị trung bình của ure, creatinin và glucose máu (

Nhóm
Giá trị trung bình của thành phần lipid máu (
X
± SD)
Cholesterol
(mmol/l)
Triglycerid
(mmol/l)
Cholesterol
LDL
(mmol/l)
Cholesterol
HDL
(mmol/l)
Nhóm
đối chứng
(n = 45)
N
o
5,74 ± 0,47 1,96 ± 0,36 2,68 ± 0,69 1,49 ± 0,45
N
30
5,65 ± 0,54 1,93 ± 0,35 2,59 ± 0,54 1,54 ± 0,41
p > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05
Nhóm
nghiên cứu
(n = 45)
N
o
5,42 ± 0,66 1,98 ± 0,38 3,02 ± 0,61 1,39 ± 0,45

N
o
3 6,67 2 4,44 > 0,05
N
30
5 11,11 0 0 < 0,05
Tăng cholesterol
HDL
N
o
7 15,56 14 31,11 > 0,05
N
30
4 8,89 2 4,44 > 0,05
Nhận xét: trước điều trị số BN tăng cholesterol và/hoặc tăng triglycerid đều
chiếm tỷ lệ cao ở cả nhóm ĐC (82,22% và 66,67%) và nhóm NC (80,0% và
62,22%). Sau điều trị số BN tăng cholesterol và/hoặc tăng triglycerid ở nhóm
NC (44,44% và 53,33%) thấp hơn nhóm ĐC (77,78% và 75,56%) (p<0,05).
3.2.4. Tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng
Bảng 3.18. Tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng
Biểu hiện
Nhóm đối chứng (n = 45) Nhóm nghiên cứu (n = 45)
Số BN Tỷ lệ (%) Số BN Tỷ lệ (%)
Nhức đầu, chóng mặt 0 0
Rối loạn tiêu hoá 0 1 2,22
Buồn nôn, nôn 0 0
Nổi mề đay 0 0
Tác dụng không mong
muốn khác
0 0

thứ 3 (3 lần/ngày, phân lỏng, số lượng trung bình). Các BN còn lại khi dùng thuốc
TMSLH đều không có triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, đau bụng, chán ăn, nôn
mửa, rối loạn tiêu hóa, mẩn ngứa, dị ứng. Tất cả các BN đều phản ánh là dùng
TMSLH đều cảm thấy thoải mái dễ chịu, ăn ngủ có tiến bộ, sức khoẻ tốt hơn. Điều
đó chứng tỏ bài thuốc không có tác dụng không mong muốn trên lâm sàng.
Trên một số chỉ số cận lâm sàng, sau khi dùng TMSLH trong 30 ngày liên tục,
không thấy có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p>0,05) về các chỉ số huyết học (số
lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu, tỷ
số APTT, INR, nồng độ fibrinogen) và các chỉ số sinh hóa (ure, creatinin,
glucose, hoạt độ AST, ALT) sau điều trị so với trước điều trị. Kết quả này chứng
25
tỏ thuốc TMSLH không ảnh hưởng đến chức năng tạo máu, đông máu và chức
năng gan thận trên lâm sàng.
Tính an toàn của thuốc là một tiêu chí quan trọng đầu tiên phải xem xét khi
tiến hành NC bất cứ một loại thuốc nào. Các kết quả NC về độc tính cấp và bán
trường diễn của TMSLH đã cho phép đưa ra những kết luận ban đầu về tính an toàn
của thuốc trên động vật thực nghiệm. Kết quả NC trên lâm sàng điều trị các bệnh
nhân NMN sau giai đoạn cấp bằng TMSLH đã khẳng định một lần nữa là thuốc
TMSLH có tính an toàn cao, phù hợp với kết quả NC về tính an toàn của thuốc trên
thực nghiệm.
4.2. HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA THUỐC “THÔNG MẠCH SƠ LẠC HOÀN” KẾT
HỢP VỚI XOA BÓP BẤM HUYỆT
4.2.1. Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, bệnh nhân NMN sau giai đoạn cấp gặp ở nhiều lứa
tuổi khác nhau (trẻ nhất là 50 tuổi và già nhất là 85 tuổi). Nhóm tuổi 60 – 69 chiếm tỷ
lệ cao nhất (46,67% ở nhóm ĐC và 37,78% ở nhóm NC). Kết quả này phù hợp với
nhiều tác giả trong nước như theo Lê Văn Thính, Trịnh Việt Thắng, Trương Mậu
Sơn. Tỷ lệ nam giới (47,78 %) thấp hơn so với nữ giới (52,22 %); tỷ lệ trung bình của
số BN nam so với nữ là 1/1,09. Kết quả này thấp hơn so với các tác giả khác: Tôn
Chi Nhân, Vũ Thường Sơn, Lê Văn Thính. Có thể do địa bàn và thời gian nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status