HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
BÀI LUẬN VỀ DỰ ĐỊNH NGHIÊN CỨU
NGHIÊN CỨU TÍNH AN TOÀN VÀ TÁC DỤNG CỦA
THUỐC “VIỆT AN CUNG” TRONG ĐIỀU TRỊ
NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP
PHẠM PHÚ VINH
HÀ NỘI - 2016
NỘI DUNG
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
2
MỤC TIÊU
3
TỔNG QUAN
4
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1
5
Theo quy định, chế phẩm thuốc mới cần thiết được tiến
hành nghiên cứu tổng thể trên cả thực nghiệm và lâm
sàng. Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
MỤC TIÊU
“Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của
thuốc “Việt an cung” trong điều trị nhồi máu não
sau giai đoạn cấp”
1. Nghiên cứu tính
an toàn và tác
dụng trên tim mạch
của thuốc Việt an
cung trên động vật
thực nghiệm.
MỤC TIÊU
2. Theo dõi tác
dụng không mong
muốn của thuốc
Việt an cung trong
điều trị bệnh nhân
nhồi máu não sau
giai đoạn cấp.
Nhồi máu não là quá trình bệnh lý trong đó động mạch
não bị hẹp hoặc bị tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não
do động mạch não đó phân bố bị giảm trầm trọng, dẫn
đến chức năng vùng não đó bị rối loạn
TỔNG QUAN
Tai biến mạch não theo Y học cổ truyền
Quan niệm của chứng trúng phong:
Còn gọi là thốt trúng vì bệnh phát sinh cấp, đột ngột và
rất nặng, triệu chứng thường nhiều biến hóa, phù hợp
với tính thiện hành đa biến của phong.
BN đột nhiên ngã ra bất tỉnh hoặc vẫn còn tỉnh, bán thân
bất toại hoặc tứ chi không cử động được, miệng méo,
mắt lệch, nói khó.
Ghi chép về bệnh, bắt đầu từ Nội kinh là “tà khí xâm
phạm vào nửa người làm dinh vệ bị hao tổn nên chân
khí mất, chỉ còn tà khí lưu lại 9gây nên thiên khô”.
TỔNG QUAN
Nguyên nhân của trúng phong:
Nội thương hao tổn: tố chất cơ thể âm huyết suy, dương
thịnh hoả vượng
Ẩm thực bất tiết: do ăn uống không điều độ, ảnh hưởng
đến công năng tỳ vị, thấp nội sinh tích tụ sinh đàm...
Tình chí thương tổn: uất nộ thương can, can khí bất hoà,
khí uất hoá hoả, can dương bạo cang
Khí huyết hư tà trúng vào kinh lạc: do khí huyết không đủ,
liệt nửa người
• Điều trị ở giai đoạn hôn mê nông
• Điều trị ở giai đoạn hôn mê sâu
TỔNG QUAN
Phục hồi sau giai đoạn cấp
• Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng thuốc
YHCT:
- Liệt nửa người:
+ Khí hư huyết ứ, kinh lạc trở trệ
+ Chính khí hư, phong tà trúng vào kinh lạc
+ Âm hư dương xung, mạch lạc ứ trở
- Rối loạn ngôn ngữ
+ Phong đàm trở trệ kinh lạc
+ Thận tinh hư tổn
- Khẩu nhãn oa tà
- Nhị tiện không tự chủ do thận hư
TỔNG QUAN
Nghiên cứu ứng dụng thuốc Y học cổ truyền điều trị
nhồi máu não sau giai đoạn cấp
Một số nghiên cứu ở Trung Quốc
Hà Duyệt Mai dùng bài Linh liên thang sắc uống
Khúc Nguyên Hải (1985) ở Bệnh viện Trung Y Cát Lâm,
Trung Quốc, dùng “Địa long đan sâm thang” điều trị 32 BN.
Kết quả: tỷ lệ đạt 96%.
Hà Tiếu Tiên (1989) ở Bệnh viện Tuyên Vũ Bắc Kinh điều trị
3,0g
Xuyên khung
2,5g
Xích thược
2,5g
Đào nhân
2,0g
Hồng hoa
2,0g
Thiên ma
5,0g
Sa sâm
2,0g
7,5g
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu thực nghiệm
Chuột nhắt Swiss, thuần chủng.
Thỏ chủng Newzealand White.
Chó.
Đối tượng nghiên cứu lâm sàng
Là những BN từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới,
nghề nghiệp, được chẩn đoán là NMN sau giai đoạn
cấp được chuyển đến khám và điều trị tại BV Thanh
Nhàn.
CHẤT LIỆU - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu trên thực nghiệm
Nghiên cứu độc tính cấp
Nghiên cứu độc tính bán trường diễn
Nghiên cứu tác dụng trên tim mạch của chế phẩm
Việt an cung
NC tác dụng hạ huyết áp của chế phẩm Việt an cung.
NC tác dụng giãn mạch của chế phẩm Việt an cung.
CHẤT LIỆU - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu trên lâm sàng
Thiết kế nghiên cứu: Theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng
mù đơn, có đối chứng giả dược.
Cách chọn mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu: Chọn 90 bệnh nhân theo cỡ mẫu thuận tiện,
không có gì đặc biệt)
Dự kiến kết quả nghiên cứu độc tính bán trường diễn
Dự kiến tình trạng chung và thay đổi thể trạng của thỏ
Tình trạng chung: Thỏ ở cả 3 lô hoạt động bình thường
nhanh nhẹn mắt sáng lông mượt ăn uống tốt phân khô,
không có biểu hiện gì trong quá trình nghiên cứu.
Sự thay đổi về thể trọng: Cả 3 lô thỏ đều tăng trọng
lượng rõ rệt so với lúc trước khi nghiên cứu
DỰ KIẾN KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Dự kiến kết quả nghiên cứu lâm sàng
Kỳ vọng đạt được trên 60% bệnh nhân nhồi máu não
sau giai đoạn cấp sử dụng thuốc Việt an cung trong
nghiên cứu đạt kết quả tốt, giảm mức độ liệt, ổn định
huyết áp, giảm các nguy cơ tái phát.