đánh giá tác dụng của viên nén “giải ngữ” điều trị chứng thất ngôn ở bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là bệnh lý chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh thuộc
hệ thần kinh. Bệnh có tần suất 0,2% trong cộng đồng [1]. Trong đó, trên 80% các trường hợp
TBMMN có nguồn gốc thiếu máu cục bộ hay còn gọi là nhồi máu não (NMN) [6].
Cùng với sự phát triển của xã hội và y học, tỷ lệ sống sót sau TBMMN càng lớn
cũng đồng nghĩa với tỷ lệ tàn tật do TBMMN càng tăng. Di chứng của BN sau TBMMN
bao gồm các di chứng về vận động, cảm giác, các rối loạn chức năng cao cấp của vỏ não
Một trong số đó là tình trạng thất ngôn [4]. Trước đây, các nhà lâm sàng chỉ tập trung điều
trị để giảm thiểu các di chứng về vận động thì ngày nay, khi xã hội phát triển, cuộc sống
con người được nâng cao, việc phục hồi rối loạn ngôn ngữ sau NMN mang ý nghĩa y học,
xã hội và nhân văn sâu sắc.
Trên thế giới, ngành ngôn ngữ trị liệu phát triển mạnh mẽ với việc hình thành môn
khoa học chuyên nghiên cứu và điều trị các rối loạn về phát âm. Đây là cơ sở cho thực
hành phục hồi ngôn ngữ cho BN sau NMN của chuyên ngành phục hồi chức năng.
Nền y học cổ truyền phương Đông cũng đã có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này.
Tác giả Lê Văn Hải và Vũ Thường Sơn (2001) nghiên cứu điều trị rối loạn phát âm ở bệnh
nhân TBMMN bằng điện châm [7]. Tác giả Đào Hữu Minh và Triệu Kinh Sinh (2005) áp
dụng phương pháp kết hợp đầu châm và thiệt châm điều trị chứng thất ngôn sau TBMMN
[11]. Kết quả cho thấy chức năng ngôn ngữ của bệnh nhân được điều trị đã được cải thiện rõ
rệt Một hướng mới điều trị chứng thất ngôn ở BN TBMMN là dùng thuốc YHCT đã được
Trung Quốc áp dụng rộng rãi nhiều năm gần đây [21],[23]. “Thần tiên giải ngữ đan” là bài
thuốc cổ phương nằm trong quyển “Phụ nhân đại toàn lương phương”, đã được nghiên cứu
đưa vào lâm sàng điều trị cho BN thất ngôn do trúng phong tại các bệnh viện Trung y Trung
Quốc và đạt được kết quả khá tốt [19], [22]. Trong khi đó, ở Việt Nam đến nay chưa có nghiên
cứu nào dùng thuốc YHCT để điều trị bệnh nhân có rối loạn ngôn ngữ sau TBMMN.
Với mong muốn kế thừa và phát huy nền y học cổ truyền, góp phần nâng cao hơn
nữa hiệu quả phục hồi chức năng ngôn ngữ trên bệnh nhân TBMMN, chúng tôi tiến hành
đề tài: “Đánh giá tác dụng của viên nén “Giải ngữ” điều trị chứng thất ngôn ở bệnh
nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp” với các mục tiêu sau:
1. Mô tả hiệu quả điều trị của viên nén “Thần tiên giải ngữ” trong chứng thất

vùng Broca và Wernicke. Phức hợp vùng Broca – dải hình cung – vùng Wernicke đặc biệt
quan trọng với chức năng ngôn ngữ và lời nói. Chính sự tổn thương phức hợp này dẫn tới
tình trạng thất ngôn [4].
1.1.3. Khái niệm thất ngôn và phân loại
1.1.3.1. Khái niệm
Thất ngôn là tình trạng rối loạn ngôn ngữ do tổn thương bán cầu não, điển hình do
TBMMN, bao gồm một hoặc nhiều các rối loạn chức năng về hiểu lời nói, hiểu chữ viết,
thể hiện bằng lời nói và bằng chữ viết. Có thể tất cả các lĩnh vực ngôn ngữ đều bị tổn
thương: âm vị học, hình thái học, ngữ nghĩa và dụng học[8].
1.1.3.2. Phân loại
* Tùy theo mức độ và hình thái khiếm khuyết của ngôn ngữ mà người ta có thể
phân loại thất ngôn thanh các thể khác nhau.
Thể thất
ngôn
Vị trí tổn thương Đặc điểm
Broca
Vùng Broca ở sau dưới thùy
trán bên trái
Nói cực kỳ khó khăn, phải cố gắng hết sức,
khiếm khuyết về cấu âm, không còn ngữ
pháp, rối loạn nhịp điệu. Khả năng hiểu
tương đối bình thường.
Wernicke
Vùng Wernicke bên trái
phía sau thái dương trên
Nghe hiểu kém, thể hiện bằng lời nói lưu
loát kèm theo nói nhịu. Đọc và viết thường
bị khiếm khuyết nặng.
Dẫn truyền
Hồi trên viền, sâu tới dải

Sơ đồ 1.2. Phân loại các dạng thất ngôn theo K.M Yorkston và D.R Beukelman 1979
1.1.3.3. Điều trị thất ngôn:
Mục tiêu điều trị cho BN là tạo cho họ một phương pháp giao tiếp khả thi. Các biện
pháp can thiệp phải dựa trên mức độ và khả năng giao tiếp hiện tại của họ. Nguyên tắc là
giao tiếp tối đa và có hiệu quả với người bệnh dựa trên các kỹ năng ngôn ngữ còn lại, cải
thiện và tái hồi phục các hình thức ngôn ngữ bị tổn.
1.2. TBMMN VÀ THẤT NGÔN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Theo YHCT, TBMMN thuộc chứng trúng phong, bệnh phát ra gấp vội, triệu chứng
xuất hiện nhiều cách biến hóa, phù hợp với tính thiện hành đa biến của phong[5].
1.2.1. Di chứng trúng phong [3]
1.2.1.1.Bán thân bất toại
a/ Khí hư huyết trệ, lạc mạch ứ trở: Khí trệ không vận được huyết, khí không vận hành
được, huyết không vinh dưỡng được, nên khí huyết ứ trệ, lạc mạch trở tắc, chân tay mình
mẩy tàn phế không cử động được.
- Triệu chứng: liệt nửa người, chân tay mềm vô lực, thường kiêm tay chân bên liệt
phù thũng, mặt vàng ải hoặc tối nhợt không tươi. Rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi tím nhợt hoặc
lệch. Mạch tế sác vô lực.
THẤT NGÔN
THẤT NGÔN
Toàn bộ
Broca
Liên vỏ vận động
Toàn bộ
Broca
Liên vỏ vận động
Wernick
Liên vỏ giác quan
Dẫn truyền. Quên từ
Wernick
Liên vỏ giác quan

Giác quan
Dẫn
truyền
Dẫn
truyền
Quên từ
Quên từ
(-) (+) (-) (+) (-) (+)
Nhắc lại
5
- Pháp điều trị: Bổ khí, hoạt huyết, thông kinh lạc.
- Bài thuốc: Bổ dương hoàn ngũ thang (sinh kỳ, quy vĩ, địa long, xuyên khung, đào
nhân, hồng hoa, xích thược).
b/ Can dương thịnh lên, lạc mạch ứ trở: Can dương thịnh lên hỏa bốc phong động, khí
huyết cũng nghịch lên trên, lạc vỡ huyết tràn, kinh mạch trở tắc, gây nên liệt nửa người mất
vận động.
- Triệu chứng: Phía bên liệt co cứng, kiêm chóng mặt nhức đầu, mặt đỏ tai ù, lưỡi đỏ
rêu vàng mỏng, mạch huyền cứng có lực.
- Pháp điều trị: Bình can tiềm dương, tức phong thông lạc
- Bài thuốc: Trấn can tức phong thang (ngưu tất, long cốt, thược dược, thiên môn,
mạch nha, đại giả thạch, mẫu lệ, huyền sâm, cam thảo, quy bản, nhân trần, xuyên luyện tử).
1.2.1.2. Thất ngôn : Tùy theo chứng trạng trên lâm sàng phân làm 3 thể:
a/ Phong đàm trở lạc:
- Triệu chứng: Phong đàm trở tắc ở trên, kinh lạc mất điều hòa, gây nên lưỡi cứng,
nói ngọng, chân tay tê dại, lưỡi bệu rêu lưỡi trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
- Pháp điều trị: Trừ phong đàm, tuyên khiếu, thông lạc.
- Bài thuốc: “Giải ngữ đơn” hoặc bài “Thần tiên giải ngữ đan”.
b/ Thận hư tinh suy:
Thận hư tinh khí không thừa tiếp lên trên được, gân mạch ở họng không được nuôi
dưỡng.

có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Tác giả Đào Hữu Minh và Triệu Kim Sinh (2004) đã nghiên cứu lâm sàng điều trị
chứng thất ngôn sau TBMMN bằng phương pháp kết hợp đầu châm và thiệt châm tại Viện
Lâm sàng số 2- Trường Đại Học Trung Y dược Nam Kinh-Trung Quốc. Kết quả cho thấy
chức năng ngôn ngữ của nhóm bệnh nhân được điều trị cải thiện rõ rệt hơn nhóm đối
chứng (p < 0,01) [11].
Tác giả Lý Từ Bình dùng thiệt châm điều trị thất vận ngôn sau trúng phong cho hiệu quả
điều trị 93,48% so với nhóm đối chiếu 69,4% với p<0,01 [25].
Thuyền Xuân Bình điều trị thất ngôn cho 86 trường hợp thất ngôn hậu trúng phong,
sử dụng thiệt châm kết hợp thể châm, phối hợp với thuốc: xạ hương, đởm nam tinh, ngưu
hoàng, thấy kết quả rất khả quan, tỷ lệ có hiệu quả đạt 98,8% [25].
Tác giả Chu Kiến Quân (2004) nghiên cứu tác dụng của băng phiến kết hợp với
“Giải ngữ đan” trong điều trị chứng thất ngôn do trúng phong. Kết quả cho thấy nhóm phối
hợp băng phiến có hiệu quả điều trị hơn so với nhóm dùng “Giải ngữ đơn” đơn thuần [20].
Tác giả Vương Hoành Đào, Hoàng Chí Lương (2008) nghiên cứu lâm sàng bài thuốc
“Thần tiên giải ngữ đan” điều trị chứng thất ngôn sau trúng phong đã nhận thấy kết quả cải
thiện ngôn ngữ là 88,8%, hơn nhóm đối chứng với tỷ lệ 60,5% [19].
7
Ở Việt Nam, điện châm được sử dụng từ những năm 1970 để điều trị di chứng nói
khó do TBMMN và đã thu được những hiệu quả đáng kể. Những người có công lớn trong
lĩnh vực này là Nguyễn Tài Thu, Trần Thúy, Hoàng Bảo Châu. Một số kết quả nghiên cứu
dùng điện châm phục hồi tiếng nói cho BN TBMMN đã được đăng trên tạp chí Châm cứu
Việt Nam, trên báo chí Pháp và trên tạp chí Đông Nam Á tại Paris [theo 7].
Tác giả Lê Văn Hải và Vũ Thường Sơn (2001) nghiên cứu điều trị các rối loạn phát
âm ở BN bị TBMMN bằng điện châm cũng thu được kết quả rất khả quan: 41,2% hồi phục
tốt, 37,2% hồi phục khá [7].
Điều trị thất ngôn bằng thuốc YHCT ở Việt Nam chưa được sử dụng hay đề cập
nghiên cứu. Đây có thể là một hướng mới để nâng cao hiệu quả điều trị thất ngôn hiện tại
và trong tương lai.
1.3. BÀI THUỐC “THẦN TIÊN GIẢI NGỮ ĐAN”

- Mộc hương: Tên khoa học Radix Helenii; là rễ đã phơi khô của cây mộc hương. Tính
ôn vị khổ, tân, vào kinh vị, đại tràng, can. Có tác dụng hành khí, chỉ thống, kiện tỳ trừ đàm.
- Cam thảo: Tên khoa học Radix Glycyrrhiza; là rễ còn bỏ vỏ hoặc cạo lớp bần của
cây cam thảo. Tính bình, vị cam, vào kinh tâm, phế, tỳ, vị và thông 12 kinh. Có tác dụng
kiện tỳ ích khí, nhuận phế, chỉ ho, giải độc, điều hòa các vị thuốc.
Các vị thuốc được bào chế và bảo quản theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam.
9
CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1. Bài thuốc nghiên cứu: “Thần tiên giải ngữ đan”
- Nguồn gốc: Phụ nhân đại toàn lương phương, quyển 3
- Thành phần bài thuốc:
STT Tên vị thuốc Tên khoa học
Liều
dùng
Tác dụng
1 Bạch phụ tử Radix Aconiti
lateralis
4g Thẩm thấp trừ đàm, khu phong
chống co thắt, giải độc tán kết
2 Thiên ma RhizomaGastrodiae
elatae
10g Khu phong trấn kinh
3 Toàn yết Scorpio 4g Trừ phong thông lạc
4 Nam tinh Araceae Rhizoma 9g Thanh nhiệt, trừ đàm, trừ phong
5 Thạch xương bồ Rhizoma Acori 15g Hóa đàm khai khiếu
6 Viễn trí Radix Polygalae 12g An thần ích trí, khứ đờm giải uất
7 Khương hoạt Rhizoma et Radix
Notopterygii
10g Phát tán phong thấp, giảm đau

Nấu nước 2
Nấu nước 2
Tán bột
Tán bột
Dịch chiết 1
Dịch chiết 1
Dịch chiết 2
Dịch chiết 2
Cô đặc
Cô đặc
Lọc, loại bớt tạp chất
Lọc, loại bớt tạp chất
Dịch chiết tổng
Dịch chiết tổng
Làm thành cốm
Làm thành cốm
Dập viên 0,3g
Dập viên 0,3g
Đóng lọ 100 viên
Đóng lọ 100 viên
Mộc
hương
Mộc
hương
Phơi
Phơi
11
2.1.2. Phương tiện nghiên cứu
- Thang điểm Orgogozo (1986) (xem phụ lục 1)
- Bộ trắc nghiệm BDEA cải biên rút gọn (phụ lục 2)

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, so sánh trước- sau.
- Cỡ mẫu nghiên cứu: Chọn cỡ mẫu chủ đích: n = 60 bệnh nhân được chẩn đoán
TBMMN sau giai đoạn cấp đáp ứng các tiêu chuẩn về lựa chọn bệnh nhân đã trình bày ở
phần 2.2.1., sau đó chia làm 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng.
+ Nhóm đối chứng: 30 BN điều trị theo phác đồ nền (thuốc YHHĐ và điện châm).
+ Nhóm nghiên cứu: 30 BN điều trị bằng phác đồ nền như trên phối hợp với viên nén
“Giải ngữ’’ trong thời gian 30 ngày.
2.3.2. Quy trình nghiên cứu
* Tuyển chọn bệnh nhân
- Chọn các bệnh nhân thỏa mãn các yêu cầu của đối tượng nghiên cứu trong mục 2.2.1.
- Các xét nghiệm cận lâm sàng được thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai: Xét nghiệm
huyết học, sinh hóa máu, CT Scanner sọ não hoặc MRI sọ não.
* Chia nhóm
Chia các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn vào hai nhóm theo phương pháp ghép
cặp, tương đồng về tuổi, giới và mức độ bệnh:
- Nhóm đối chứng: Điều trị theo phác đồ gồm thuốc YHHĐ, YHCT, điện châm theo
phác đồ nền của khoa YHCT bệnh viện Bạch Mai.
Ở nghiên cứu này chúng tôi dùng phác đồ nền:
+ Gliatilin 1g x 2 ống / ngày – tiêm bắp sáng, chiều
+ Thủy châm Neurobion 5000 ngày 1 ống
+ Nootropyl 0,8g x 3 viên/ngày
+ Các thuốc điều trị bệnh kèm theo nếu có
+ Điện châm: Các huyệt kiên tỉnh, kiên ngung, tý nhu, khúc trì, thủ tam lý, ngoại
quan, hợp cốc, phong thị, dương lăng tuyền, túc tam lý, huyền chung (bên liệt), bàng liêm
tuyền, ngoại kim tân, ngoại ngọc dịch.
- Nhóm nghiên cứu:
+ Điều trị như nhóm đối chứng
+ Phối hợp thêm thuốc viên “Thần tiên giải ngữ", ngày 20 viên chia 2 lần, uống
thuốc sau bữa ăn.

không cần. Tuy nhiên, do sự giảm khả năng diễn đạt nói và/hoặc hiểu lời nói khiến việc
đối thoại về một chủ đề mở rộng khó khăn hoặc không thực hiện được.
Độ 4: Giảm độ lưu loát trong khi nói hoặc giảm tính linh hoạt trong cách hiểu, đoán
14
ý; khi trình bày ý kiến hoặc diễn đạt bị hạn chế nhẹ, không gặp khó khăn khi diễn đạt ý
tưởng hoặc tìm ý tưởng.
Độ 5: Khó khăn về ngôn ngữ rất ít; BN có thể có một chút rắc rối khi chưa phù hợp
với người nghe trong giao tiếp. Khiếm khuyết tối thiểu về nói, chỉ BN mới cảm thất những
khó khăn của bản thân nhưng người đối thoại không thấy.
* Tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng: Rối loạn tiêu hóa, đau đầu chóng
mặt, mẩn ngứa, buồn nôn, nôn, các tác dụng không mong muốn khác
2.3.3.2. Các chỉ số cận lâm sàng
- Huyết học: số lượng hồng cầu, huyết sắc tố, số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu
- Hóa sinh máu: ure, creatinin, glucose, AST, ALT.
* Cách theo dõi: Các chỉ tiêu trên được đo lường vào ngày N1 và N30 của quá trình
điều trị.
2.3.4. Phương pháp đánh giá kết quả điều trị
2.3.4.1. Trên lâm sàng
* Đánh giá mức độ phục hồi độ liệt vận động theo chỉ số Orgogozo trước và sau điều trị:
- Tốt: Chuyển được 2 độ liệt trở lên
- Khá: Chuyển được 1 độ liệt
- Kém: không chuyển độ liệt
* Đánh giá mức độ phục hồi tình trạng nói khó tính theo độ dịch chuyển của thang điểm
đánh giá mức độ nặng của thất ngôn.
- Tốt: dịch chuyển 2 độ trở lên
- Khá: dịch chuyển 1 độ
- Kém: không dịch chuyển
* Đánh giá tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng.
2.3.4.2. Trên cận lâm sàng
Đánh giá sự thay đổi trước sau của các chỉ số cận lâm sàng tại 2 thời điểm N1 và N30.

Độ tuổi mắc bệnh tỷ lệ cao nhất là 50-69 tuổi, chiếm 60%. Tuổi trung bình nhóm
NC là 62,93 ± 9,45 tuổi; nhóm ĐC là 57,73 ± 8,57 tuổi. Không có sự khác biệt về tuổi giữa
nhóm NC và nhóm ĐC.( p

> 0,05 )
3.1.1.2. Giới
Bảng 3.2. Phân bố theo giới
Nhóm
Nhóm NC
(n=30)
Nhóm ĐC
(n=30)
Tổng số
p
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Nam
15 50 17 56,67 32 53,33
Nữ
15 50 13 43,33 28 46,67
Nhận xét : Bệnh nhân nam và nữ tương đương nhau. Tỷ lệ nam/nữ = 1,14.
p >0,05, vậy không có sự khác biệt về giới tính giữa hai nhóm.
3.1.1.3. Phân bố tổn thương trên lâm sàng
Bảng 3.3. Phân bố định khu tổn thương trên lâm sàng
16
Nhóm
Bên liệt
Nhóm NC
(n=30)
Nhóm ĐC
(n=30)

- 100% BN có bên liệt và bên thuận tay trùng nhau. 3 BN liệt hai bên có 2 BN thuận tay phải
và 1 BN thuận tay trái. 2 BN không liệt vận động đều thuận tay phải.
- Trong số 60 BN thất ngôn của cả hai nhóm có 85% BN thuận tay phải; chỉ có
15% BN thuận tay trái.
3.1.1.4. Phân loại BN theo thời gian bị bệnh trước điều trị
17
Biểu đồ 3.1. Phân bố bệnh nhân theo thời gian bị bệnh đến điều trị
Nhận xét: Không có sự khác biệt về phân bố bệnh nhân theo thời gian bị bệnh đến điều trị
giữa nhóm nghiên cứu với nhóm đối chứng (p> 0,05).
3.1.2. Phân loại mức độ di chứng lúc vào của hai nhóm
Bảng 3.5. Phân bố bệnh nhân theo chỉ số Orgogozo lúc vào của hai nhóm
Nhóm
Độ
Nhóm NC (n=30) Nhóm ĐC (n=30)
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Độ I 2 6,67 2 6,67
>0,05
Độ II 0 1 3,33
Độ III 8 26,67 9 30
Độ IV 20 66,67 18 60
Tổng 30 100 30 100
Nhận xét: Bệnh nhân trước điều trị ở hai nhóm chủ yếu tập trung vào độ III-IV. Ở nhóm
NC chiếm 93,34%; nhóm ĐC chiếm 90%. Sự khác biệt về chỉ số Orgogozo giữa hai nhóm
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
p > 0,05
18
Bảng 3.6. Phân bố bệnh nhân theo mức độ thất ngôn lúc vào của hai nhóm
Nhóm
Nhóm NC (n=30) Nhóm ĐC (n=30)
p

NC
Độ liệt
Nhóm NC (n=30) Nhóm ĐC (n=30)
p
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
I 2 6,67 2 6,67
>0,05
II 0 1 3,33
III 8 26,67 9 30
IV 20 66,67 18 60
N
15
I 3 10 2 6,67
>0,05
II 5 16,67 9 30
III 15 50 10 33,33
IV 7 23,33 9 30
I 7 23,33 6 20
>0,05
II 11 36,67 14 46,67
III 9 30 7 23,33
IV 3 10 3 10
Nhận xét:
- Trước điều trị, số BN độ I, II ở nhóm NC là 6,67%; thấp hơn nhóm ĐC chiếm tỷ
lệ 10%. BN độ IV nhóm NC chiếm 66,67%; cao hơn nhóm ĐC (60%). Sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
- Sau 15 ngày điều trị, số BN độ I, II ở nhóm NC 26,67%; thấp hơn ở nhóm ĐC
chiếm 36,67%. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
- Sau 30 ngày điều trị, số BN độ I, II ở nhóm NC đạt tỷ lệ 60% so với nhóm ĐC là
66,67%. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

gian ở nhóm nghiên cứu (p< 0,05).
Bảng 3.10. So sánh tiến triển mức độ thất ngôn giữa hai nhóm theo thời gian
Thời điểm
NC
Độ
thất ngôn
Nhóm NC (n=30) Nhóm ĐC (n=30)
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
N
1
1 4 13,33 2 6,67 > 0,05
2 4 13,33 6 20
3 8 26,67 7 23,33
4 14 46,67 14 46,67
5 0 1 3,33
N
15
1 2 6,67 2 6,67
< 0,05
2 4 13,33 5 16,67
3 4 13,33 5 16,67
4 11 36,67 15 50
5 9 30 3 10
N
30
1 0 1 3,33
< 0,05
2 3 10 3 10
3 5 16,7 6 20
4 8 26,67 8 26,67

(n=30)
3,07±1,25 3,7±1,43 4,1±1,24 1,03±0,61
p< 0,05
p< 0,05
ĐC
(n=30)
3,2±1,03 3,4±1,1 3,9±1,16 0,7±0,53
p< 0,05
p< 0,05
p >0,05 <0,05 <0,05 <0,01
Nhận xét:
- Trước điều trị, điểm trung bình độ thất ngôn của nhóm NC là 3,07±1,25; nhóm ĐC
là 3,2±1,03. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05).
- Sau 15 ngày điều trị, nhóm NC điểm trung bình độ thất ngôn là 3,7±1,43; nhóm ĐC
là 3,4±1,1. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Sau 30 ngày điều trị, điểm trung bình độ thất ngôn của nhóm NC là 4,1±1,24; nhóm
ĐC là 3,9±1,16. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
• So sánh trước và sau điều trị:
- Nhóm NC, điểm trung bình sau điều trị 4,1±1,24 cao hơn trước điều trị 3,07±1,25.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Nhóm ĐC, điểm trung bình sau điều trị 3,9±1,16 cao hơn trước điều trị 3,2±1,03.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Bảng 3.12. Đánh giá kết quả dịch chuyển độ thất ngôn ở hai nhóm
Nhóm Nhóm NC
(n=30)
Nhóm ĐC
(n=30) p
1-2
23
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)

1
N
30
Hồng cầu
(T/l)
4,59±0,36 4.55±0.30
>0,05
4,69±0,54 4,65±0,59
>0,05
Bạch cầu
(G/l)
8,87±3,13 8.15±1,.99
>0,05
7,88±2,15 7,72±1,78
>0,05
Tiểu cầu
(G/l)
276,57±87,79 282,17±60,92
>0,05
261,77±71,72 272,97±57,96
>0,05
Hb (g/l)
130,53±13,42 128,80±11,02
>0,05
136,07±18,79 133,70±17,54
>0,05
Nhận xét: Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, Hemoglobin trước và sau điều trị của
bệnh nhân hai nhóm đều trong giới hạn bình thường. iKhông có sự khác biệt về các chỉ số
huyết học trước và sau điều trị ở cả 2 nhóm (p>0,05).
Bảng 3.14. Sự thay đổi các chỉ số sinh hoá trước và sau điều trị

(U/l-37
0
C)
30,.97±17,55 29,00±13,26 >0,05 32,20±13,58 28,93±12.28 >0,05
ALT
(U/l-37
0
C)
27,67±18,20 26,43±13,95 >0,05 35,30±28,67 30,33±19,94 >0,05
Nhận xét:
Các chỉ số Ure, creatinin, AST, ALT trước và sau điều trị của bệnh nhân ở hai
nhóm đều trong giới hạn bình thường.
Không có sự khác biệt về các chỉ số sinh hoá ở hai thời điểm của cả hai nhóm
(p>0,05).
Bảng 3.15. Tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng
Triệu chứng
Nhóm nghiên cứu (n=30)
n Tỷ lệ (%)
Chóng mặt, nhức đầu 0
Mẩn ngứa, mề đay 0
Nôn, buồn nôn 1 3,33
Rối loạn tiêu hóa 1 3,33
Khác 0
Nhận xét:
Trong quá trình điều trị, 1 BN có tác dụng không mong muốn là buồn nôn; 1 BN có
rối loạn tiêu hoá. Tuy nhiên, tác dụng phụ này chỉ gặp phải trong lần đầu uống thuốc và tự
hết khi đã uống quen. Không có BN nào phải ngừng thuốc trong quá trình điều trị.
25
BÀN LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi xin phép trình bày một số bàn luận sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status