đánh giá tác dụng của phụ lạc cao trong điều trị thống kinh cơ năng tuổi trẻ - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
§¸NH GI¸ T¸C DôNG CñA PHô L¹C CAO
TRONG §IÒU TRÞ THèNG KINH C¥ N¡NG tuæi trÎ
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ
HÀ NỘI – 2011
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
§¸NH GI¸ T¸C DôNG CñA PHô L¹C CAO
TRONG §IÒU TRÞ THèNG KINH C¥ N¡NG tuæi trÎ
Chuyên ngành: Y học cổ truyền
M· sè: 60.72.60
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Lê Thị Hiền
HÀ NỘI – 2011
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thống kinh là hiện tượng gặp phổ biến ở các thanh thiếu niên. Khoảng
50% phụ nữ có biểu hiện thống kinh nhẹ, 15% phụ nữ có biểu hiện thống kinh
nặng, ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày của họ và không thể
giảm đau bằng các thuốc giảm đau thông thường [2]. Một số tác giả trong và
ngoài nước nhận xét tỷ lệ thống kinh cơ năng chiếm khoảng 75% trong tổng
số phụ nữa bị thống kinh [5].
Thống kinh cơ năng là hành kinh có đau bụng, đau xuyên ra cột sống,
đau lan xuống hai đùi, lan ra toàn bộ bụng, kèm theo có thể đau đầu, căng vú,
buồn nôn, nôn, thần kinh bất ổn định, không có tổn thương thực thể [12].
Việc điều trị thống kinh hiện nay chủ yếu dùng các loại thuốc giảm đau YHHĐ

những cảm giác khó chịu này sẽ hết ngay khi máu kinh chảy ra [12].
Thống kinh bao hàm ý nghĩa đau khi hành kinh. Phần đông phụ nữ có
biểu hiện ít nhiều đau đớn nhất là trong ngày đầu, kinh nguyệt chưa thông,
lượng ít, máu thường sẫm màu. Sau 1- 2 ngày, lượng kinh tăng lên, có máu
cục hoặc những khối có hình dạng như nội mạc bong ra, đau lập tức giảm.
Nhiều phụ nữ còn mô tả nhiều loại khó chịu khác trước và trong khi hành
kinh như là: ra mồ hôi, mạch nhanh, đau đầu, buồn nôn, nôn, ỉa chảy, đái rắt,
run, có cơn dị ứng (hen, mẩn ngứa), hạ huyết áp thậm chí ngất xỉu Các triệu
chứng nảy phải coi như là những biểu hiện của hội chứng tiền đình [6], [7].
Lúc đầu đau bụng kinh bắt đầu ngay sau lúc có kinh hoặc trước đó một thời
gian ngắn và thường không kèm theo các biều hiện bệnh lý của chậu hông.
Sau đó đau tăng lên và đi kèm với các triệu chứng ở vùng chậu hông nhưng
tăng kích thích ở bộ phận sinh dục và tiểu khung. Thường đau ở vùng bụng
dưới, người bị nặng có thể lan ra sau lưng hoặc là đau sâu trong bụng. Những
chứng này thường phát có chu kỳ, phụ thuộc vào chu kỳ kinh nguyệt, được
gọi là thống kinh. Chứng đau giữa hai chu kỳ kinh thường xuyên, liên quan
đến rụng trứng, cơ chế chưa rõ ràng.
5
1.1.1.1. Khái niệm thống kinh cơ năng:
Thống kinh cơ năng là hành kinh có đau bụng, đau xuyên ra cột sống, lan
xuống hai đùi, lan ra toàn bộ bụng, kèm theo có thể đau đầu, căng vú, buồn
nôn, thần kinh bất ổn định. Thống kinh phân làm 2 loại thống kinh cơ năng
nguyên phát và thống kinh cơ năng thứ phát. Thống kinh cơ năng nguyên phát
xảy ra sau tuổi dậy thì, hay nói đúng hơn là ngay vòng kinh đầu tiên có phóng
noãn. Thường cơ năng, nghĩa là không có tổn thương thực thể. Thống kinh
cơ năng thứ phát xảy ra sau nhiều năm hành kinh không đau, nay mới đau,
còn gọi là thống kinh muộn, thống kinh mắc phải. Thống kinh thứ phát
thường do nguyên nhân thực thể như tử cung đổ sau, chít lỗ cổ tử cung, u xơ
tử cung ở eo tử cung làm cho máu kinh khó thoát ra. Lạc nội mạc tử cung là
nguyên nhân thực thể rõ nét nhất gây thống kinh, do máu kinh bị ứ lại ở

nghiệm lâm sàng qua nhiều năm người ta đã xác định trong vòng kinh có
phóng noãn (có hoàng chế, có progesteron), mới có thống kinh (trừ những
trường hợp có tổn thương thực thể). Cho bệnh nhân thống kinh uống những
thuốc ức chế tổng hợp Prostaglandin thường đem lại hiệu quả giảm đau.
Những thực nghiệm cho thấy các thuốc kích thích cơ quan cảm thụ bêta ức
chế sự tổng hợp Prostaglandin làm mất co bóp tử cung và thiếu máu cũng như
đau đớn do các hiện tượng này gây ra.
* Thần kinh vận mạch và thần kinh thực vật
Thần kinh vận mạch: hiện tượng co thắt mạch dẫn tới thiếu máu tại chỗ
và dẫn tới kinh nguyệt, đau.
Tính chất xác thực của hiện tượng co mạch đã được Woodbury chứng minh
một cách rõ ràng bằng tiêm Vasopressin cho 30 phụ nữ trong khi hành kinh
đã gây được thống kinh cho 30 phụ nữ. Hiện tượng co mạch này cũng coi
7
tương tự như co thắt mạch vành trong cơn đau thắt ngực. Cũng còn một mắt
xích có liên quan hay gặp nhưng kém phần quan trọng, đó là yếu tố kích thích
đau, nhạy cảm đau, vai trò của vỏ não. Nói đến thần kinh thực vật tác động
lên các phân bố thần kinh ở tạng là nói đến vai trò cảm giác, vận động, vận
mạch, chế tiết, có mối quan hệ qua lại với nội tiết vùng dưới đồi, khứu não và
những chức năng trung tâm nhạy cảm mà tới nay sinh lý học thần kinh chưa
hiểu được hết.
Cơ chế gây thống kinh do thần kinh được minh họa như sau:
Progesteron Chế tiết bất thường Prostaglandin
Vasopressin Tăng hoạt động co thắt của cơ và
mạch máu cơ tử cung
Thiếu máu cơ tử cung
Yếu tố tâm lý
Giảm ngưỡng đau Thống kinh
Sơ đồ minh họa cơ chế thần kinh [2]
Yếu tố tâm lý trước đây được đánh giá có vai trò quan trọng đối với

của một quá trình trong cơ thể chung. Cảm giác đau có thể mượn đường dẫn
truyền của tủy sống dẫn tới các trung tâm ở não giữa và vỏ não, đặc biệt là
vùng dưới đồi. Những tác dụng thứ phát của đau dưới dạng những biểu hiện
tâm lý, những phản ứng thần kinh vận mạch, có thể ảnh hưởng đến toàn thể
các nhạy cảm (gan, túi mật, ruột, bộ phận tiết niệu ). Prostaglandin tác dụng
lên những sợi cơ trơn cũng có vai trò làm xuất hiện những triệu chứng kèm
theo cúa thống kinh [12].
- Tiến triển của thống kinh cơ năng
Người ta thấy thống kinh giảm đi qua giao hợp và có thể khỏi khi có thai
và cho con bú. Có lẽ hoạt động tình dục đã làm cơ tử cung được kích thích và
phát triển. Nhưng một số trường hợp, sau thời kỳ sinh sản, hành kinh trở lại,
hiện tượng thống kinh lại tái diễn. Thống kinh do thần kinh thực vật thường
gây ra cho phụ nữ tình trạng đau đớn, mệt mỏi. Chỉ sau khi sạch kinh, người
bệnh mới cảm thấy dễ chịu hơn [12].
- Điều trị thống kinh cơ năng
Việc điều trị những bệnh nhân bị thống kinh cơ năng nặng là một công
việc khó khăn trong điều trị học. Thống kinh có thể giải quyết được triệt để
nếu phát hiện được rõ ràng nguyên nhân gây bệnh. Những trường hợp do tổn
thương thực thể như: chít hẹp cơ học, lạc nội mạc tử cung, viêm nhiễm cổ tử
cung Đối với phụ nữ trẻ, điều trị càng bảo tồn được nhiều càng tốt bấy nhiêu
[12]. Dựa vào sinh lý bệnh học có thể dùng các phương pháp dưới đây, điều
trị ngay sau khi đau (thống kinh):
* Điều trị nội khoa:
• Vật lý trị liệu – chườm nóng tại chỗ
• Dùng thuốc làm dịu nhẹ, tạo giấc ngủ, thường có kết quả, nhưng dễ
kéo bệnh nhân ra khỏi các hoạt động thường ngày (Seduxen,
Distalgetic )
10
• Các thuốc ức chế tổng hợp Prostaglandin, bao gồm tất cả những
thuốc giảm đau hạ nhiệt, giảm đau, chống viêm không Steroid. Các

1.1.2. Y học cổ truyền
1.1.2.1. Quan niệm thống kinh theo YHCT
Trong lịch sử phát triển của Y học cổ truyền đã có nhiều quan điểm về
thống kinh. Các đại y gia đã có nhiều khám phá về chứng hậu bệnh nguyên,
bệnh cơ và trị liệu chứng thống kinh.
Trương Trọng Cảnh, trong thiên “Phụ nữ tạp bệnh mạch chứng và điều
trị” trong “Kim quy yếu lược” đã viết: “Phụ nữ kinh thủy bất lợi hàng tháng,
vùng bụng dưới trướng đầy và đau”.
Sào Nguyên Phương, trong Chủ bệnh nguyên hậu luận đã nêu “Phụ nhân
có kinh nguyệt đau bụng do lao thương khí huyết dẫn đến cơ thể hư, cảm phải
khí phong hàn xâm nhập vào bào lạc gây tổn thương hai mạch Xung, Nhâm –
hai mạch biểu lý. Đến kỳ kinh, huyết hư cảm thụ phong hàn, huyết khí động,
phong hàn và huyết khí kết hợp dẫn đến đau”.
Đến đời nhà Tống, danh y phụ khoa Trần Tự Minh đã nghiên cứu phát
triển biện chứng luận trị của thống kinh. Ông cho là hai mạch Xung, Nhâm
đều khời phát từ trong bào cung, cũng là bể của kinh mạch. Nếu đường kinh
không thông, hàn tà xâm nhập gây đau (thống). Mạch trầm khẩn do hàn khí
xâm nhập huyết thất, huyết ngưng bất hành, huyết mới và huyết cũ tác động
lẫn nhau sinh ra đau. Ông đã chế ra “Ôn kinh thang” trị hàn ngưng gây thống
kinh, “Quế chi đào nhân thang” trị huyết tứ gây thống kinh và “Địa hoàng
thông kinh hoàn” để điều trị cứng kinh quyết kết tích thành khối, đau bụng
12
xông lên ngực và lan ra hai bên sườn (hiếp thống) nhằm dưỡng huyết, công
tích [2]
Đến đời nhà Minh, Vương Khẩn Đường trên cơ sở nghiên cứu của những
người đi trước đã tìm ra bệnh cơ của thống kinh hư chứng. Ông cho rằng “Khí
huyết thịnh, âm huyết hòa tắc hình thể thông”. Khi khí huyết bất túc, kinh hậu
giục hành gây đau. Ông đã chế ra “Việt thống tán” để trị huyết khí bất túc dẫn
đến thống kinh. Dùng “Lục quân tử thang” gia Bào khương trị khí hư thống
kinh, dùng “Tứ vật thang” gia Nhân sâm, Bạch truật trị huyết hư thống kinh.

Nguyễn Trung Hòa đã thừa kế Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh và các y
gia Trung Quốc, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng nhiều năm đã
nêu ra hai loại nguyên nhân chủ yếu gây thống kinh là:
• Hư: huyết hư, thận hư và hư hàn
• Thực: Khí trệ, huyết ứ, huyết nhiệt và hàn thực
Ứng với mỗi thể loại có biện chứng và trị liệu tương ứng đặc hiệu.
Nhưng nhìn chung đều do khí huyết tắc trệ mà gây đau “Bất thông tắc thống”
nên trị liệu cũng phải đạt được mục đích làm cho khí huyết lưu hành, “Thông
tắc bất thống” nên hết đau. Căn cứ theo bệnh tình thì bệnh hư dùng phép bổ
mà thông, bệnh thực dùng phép ôn mà thông, khí trệ nên thuận khí hành trệ,
huyết ứ nên hoạt huyết tiêu ứ, chứng hàn lấy ôn kinh làm chủ, hàn mà thực
nên ôn kinh tán hàn, hàn mà hư nên ôn kinh bổ hư, chứng nhiệt nên thanh
nhiệt làm chủ, huyết nhiệt nên thanh nhiệt lương huyết gia thêm thuốc hoạt
huyết hành khí [7].
Lê Tử cũng nhận thức như Trương Giới Tân và Nguyễn Trung Hòa
nhưng ông nhấn mạnh: nếu vì khí mà huyết trệ thì bụng hay đầy tức mà đau
ít, điều trị dùng “Gia vị ô dược thang” làm cho thông huyết. Còn nếu huyết
14
làm khí trệ, thì bụng đau nhiều hơn là đầy chướng, điều trị nên dùng “Hổ
phách tán” để phá huyết đọng [22].
Trần Đại Liên ở Thượng Hải cho thống kinh là một bệnh do kinh huyết
vận hành không thông sướng mà dẫn tới, đặc biệt nhấn mạnh do khí trệ,
không vận hành và trọng dụng hương phụ lý khí chỉ thống.
1.1.2.2. Các thể bệnh thống kinh theo y học cổ truyền
Theo Y học cổ truyền thống kinh chia thành 2 thể bệnh chính:
- Thể khí trệ, huyết ứ: do tình chí không thư thái làm cho can khí uất trệ
dẫn đến huyết ứ gây đau, hoặc do hàn khí kết ở bào cung làm cho huyết
không vận hành mà gây đau.
- Thể huyết hư: cơ thể suy yếu, khí huyết hư, mạch xung, nhâm bị rối
loạn gây đau.

- Phương: Gia vị ô dược thang
Ô dược 16g
Sa nhân 8g
Mộc hương 4g
Hương phụ 8g
Cam thảo 4g
Sắc uống ngày một thang, uống trong 3 kỳ kinh liên tục
- Thể thực hàn [7]
- Triệu chứng: đau bụng trước khi hành kinh và giữa lúc hành kinh,
lương kinh ít, màu đỏ thẫm có cục, người gai rét, sợ lạnh, lưỡi có điểm ứ
huyết, rêu trắng, mạch hoạt hoặc phù khẩn
- Phép điều trị: ôn kinh, tán hàn
- Phương: dùng bài Ngô thù du thang
Đương quy 12g
Nhục quế 4g
Ngô thù 12g
Đan bì 12g
Bán hạ chế 8g
Mạch môn đông 8g
Mạch môn đông 8g
Tế tân 4g
Cảo bản 4g
Can khương 4g
Mộc hương 4g
Phục linh 8g
Cam thảo 4g
Sắc uống ngày một thang, uống 3 chu kì liên tục
16
- Châm cứu: quan nguyên, tam âm giao, tỳ du
- Thể hư hàn [7]

17
Phụ Lạc Cao là sản phẩm thuốc do công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
cổ phần ngành Dược thiên nhiên Vân Nam Trung Quốc sản xuất, đã được
chứng minh có hiệu quả cao trong điều trị giảm đau bụng kinh, lạc nội mạc tử
cung, kinh nguyệt không đều ở Trung Quốc. Tại Việt Nam, Phụ Lạc Cao
được phân phối bởi công ty TNHH dược phẩm Á Âu – AEROPHA.
1.2.1. Tác dụng chung của thuốc Phụ Lạc Cao
- Thuốc có tác dụng điều trị giảm đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều,
lạc nội mạc tử cung. Các vị thuốc trong bài thuốc hầu hết đều có tác dụng
hành khí, hoạt huyết, điều hòa kinh nguyệt
1.2.2. Thành phần thuốc
Đan sâm, Nga truật, Sài hồ, Tam thất, Xích thược, Đương quy, Tam lăng,
Hương phụ, Diên hồ sách, Cam thảo
1.2.1.1. Đan sâm (Raldix Salviae miltiorrhiza)
Đan sâm còn được gọi là Bôn mã thảo theo ”Thần
nông bản thảo kinh”, dùng làm thuốc được ghi đầu
tiên trong sách ”Bản kinh”.
Bộ phận dùng: rễ phơi hay sấy khô của cây Đan sâm
(Salvia miltiorrhiza Bunge) thuộc họ Hoa môi
(Lamiaceae)
Tính vị, quy kinh: vị đắng, tính lạnh, đi vào 4 kinh: Thủ túc Thiếu âm,
Thủ túc Quyết âm
Tác dụng: Hoạt huyết, điều mọi huyết mạch, hóa ứ tiêu ung, sinh tân, sinh cơ,
thanh nhiệt, trừ phiền, trừ phong, chỉ huyết, chỉ thống, dưỡng tâm, an thần.
Chủ trị: + Phụ nữ kinh nguyệt không đều, thống kinh, vô kinh, sau đẻ
sản dịch kéo dài, băng huyết, đới hạ, an thai sống, tống thai chết ra ngoài
18
+ Đau mắt đỏ, đau nhức xương khớp, cứng cột sống, tứ chi bất toại
hoặc khó cử động, tê bì ngoài da, á sừng, điếc dẫn truyền thần kinh.
Còn có tác dụng điều trị ung thũng, đơn độc, mẩn ngứa, xơ cứng động

Không dùng cho những phụ nữ kinh nguyệt trước kỳ, những người tinh
khô, huyết hư, khí nhược [2].
1.2.1.3. Tam thất (Radix Notoginsing)
Bộ phận dùng: rễ phơi khô của cây Tam thất (Panax
pseudo-ginseng (Burk)) họ Ngũ gia bì (Araliaceae).
Tính vị: ngọt, đắng, ấm vào kinh can, vị
Tác dụng: khứ ứ, chỉ huyết, tiêu viêm chỉ thống
Chủ trị: Chữa chứng chảy máu do ứ huyết: ho ra máu,
rong kinh, rong huyết, sau khi đẻ bị rong huyết.
+ Làm mất cơn đau do sung huyết: thống kinh, ngã sưng đau, đau dạ
dày, đau do khí trệ, đau khớp
Liều lượng: 1,5-6g/ngày, thường tán bột uống
1.2.1.4. Xích thược (Radix paeoniae Rubra)
Bộ phận dùng: rễ cạo bỏ vỏ ngoài phơi hay sấy khô
của cây Xích thược dược (Paeonia liacliflora Pall),
họ Mao lương (Ranunculaceae)
Tính vị, quy kinh: vị đắng, hơi lạnh vào kinh can
Tác dụng: thanh nhiệt, lương huyết
Chủ trị: Chữa sốt cao, gây chảy máu cam, mất tân
dịch, mụn nhọt, hoạt huyết, tiêu viêm, ứ huyết
Liều lượng: 4-6g/ngày
20
1.2.1.5. Sài hồ (Radix Bupleuri)
Bộ phận dùng: rễ cây Bắc sài hồ (Bupleurum sinense DC),
họ Hoa tán (Umbellferae)
Tính vị, quy kinh: đắng, lạnh vào kinh can đởm
Tác dụng: hòa giải thiếu dương, sơ can giải uất, thăng
dương
Chủ trị: Sơ can giải uất do can khí uất gây ra các bệnh rối
loạn chức phận như kinh nguyệt không đều, thống kinh

Liều lượng dùng: 2-12g/ngày
1.2.1.8. Tam lăng (Rhizoma Sparganii Stoloniferi)
Bộ phận dùng: thân rễ của cây tam lăng (Sparganium Stoloniferum
Buch-Ham), thuộc họ Cói (Cyperaceae).
Tính vị, quy kinh: đắng, bình vào kinh can, tỳ
Tác dụng: phá huyết, hành khí, kích thích tiêu hóa
Chủ trị: Chữa bế kinh
Chữa các cơn đau các nội tạng do khí trệ: đau dạ dày
Kích thích tiêu hóa: do ăn sữa, thịt nhiều gây đau bụng đầy trướng, buồn nôn
Chữa ứ sữa, thai chết lưu
Liều lượng: 6-12g/ngày
1.2.1.9. Nga truật (Rhizoma Zedoariae)
Bộ phận dùng: rễ phơi khô của cây Nghệ tím (Curcumia
zedoaria Rosc), thuốc họ Gừng (Zingiberaceae)
Tính vị quy kinh: đắng cay, ấm vào kinh tỳ
Tác dụng: phá huyết, hành khí, tiêu hóa thức ăn, chống đau
Chủ trị: Phá huyết, thông kinh chữa bế kinh
22
Chữa đau do khí trệ: thống kinh, bế kinh, đau dạ dày
Kích thích tiêu hóa: ăn uống tích trệ, bụng đầy, ợ chua
Liều lượng: 6-12g/ngày
1.2.1.10. Diên hồ sách (Corydalis ambigua Champ et Schlecht)
Bộ phận dùng: củ, dùng củ chắc, cứng, sắc vàng ánh, vỏ nhăn nheo,
thuộc họ Thuốc Phiện (Papaveraceae)
Tính vị, quy kinh: vị cay, tính ôn, vào kinh Can kiêm vào Phế và Tỳ.
Tác dụng: lợi khí, chỉ đau, thông huyết
Chủ trị: phụ nữ kinh nguyệt không đều, đau lưng, đau bụng, đau khắp
chân tay mình mẩy
Liều dùng: 6 - 12g/ngày
1.2.3. Các nghiên cứu đã thực hiện của thuốc Phụ lạc cao

Xích thược 37,5g
Đương quy 37,5g
Tam lăng 26,25g
Hương phụ 22,5g
Diên hồ sách 26,25g
Cam thảo 15g
2.1.2. Dạng bào chế: Cao lỏng màu nâu đen, vị ngọt đắng mỗi lọ 150g
2.1.3. Nơi sản xuất: Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần ngành Dược thiên
nhiên Vân Nam Trung Quốc sản xuất. Tại Việt Nam, Phụ Lạc Cao được phân
phối bởi công ty TNHH dược phẩm Á Âu – AEROPHA.
2.1.4. Cách dùng: Mỗi lần uống 15g (3 thìa cà phê), ngày uống 2 lần, bắt đầu
uống từ trước khi có kinh 10 ngày, khi có kinh vẫn có thể uống thuốc. Vì
thuốc có vị đắng nên khi dùng trộn thêm một thìa mật ong để dễ uống hơn.

Hình ảnh thuốc nghiên cứu Phụ Lạc Cao
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
25

Trích đoạn KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Cải thiện tính chất kinh nguyệt sau điều trị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status