Đánh giá tác dụng của phương pháp luyện tập dưỡng sinh y học cổ truyền đối với phụ nữ thời kỳ mãn kinh - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dưỡng sinh hay còn gọi là nhiếp sinh, đạo sinh, bảo dưỡng có nghĩa là
bảo dưỡng sinh mệnh. Dưỡng sinh nghiên cứu các quy luật sống của con
người, tìm ra các phương pháp dự phòng bệnh và tăng cường sức khỏe, xem
xét cơ chế của sự lão hóa làm chậm quá trình lão suy và kéo dài chất lượng
cuộc sống.
Ở Việt Nam phương pháp dưỡng sinh đó cú truyền thống từ lâu đời, đã
được nhiều danh y nghiên cứu, phát triển như: Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), Hoàng
Đụn Hũa (thế kỷ XVI), Đào Công Chính (thế kỷ XVII), Lê Hữu Trác (thế kỷ
XVIII) đã góp phần làm cho phương pháp dưỡng sinh từ chỗ thiên về dưỡng
sinh cá nhân trở thành một phương pháp y học dự phòng toàn diện [9], [21],
[23], [50], [51].
Đến thế kỷ thứ XX, phương pháp dưỡng sinh được phát triển lên mức độ
cao hơn với đóng góp của nhiều nhà dưỡng sinh tiêu biểu như: Nguyễn Khắc
Viện, Tô Như Khuờ, Lờ Kim Định và Nguyễn Văn Hưởng, đã vận dụng những
phương pháp tập luyện y học cổ truyền với kiến thức y học hiện đại để xây dựng
thành những hệ thống tập luyện hoàn chỉnh, có cơ sở khoa học rõ ràng [9], [15],
[16], [28], [54].
Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, biến quá trình chữa bệnh
thành quá trình tự chữa bệnh, trong nhiều năm trở lại đây phong trào tập
luyện dưỡng sinh đã được áp dụng phổ biến trong nhân dân, trong các khoa
dưỡng sinh của Bệnh viện. Luyện tập dưỡng sinh đã trở thành nhu cầu của
người cao tuổi, trong đó tỷ lệ phụ nữ mãn kinh chiếm một phần không nhỏ
[1], [21].
1
Trên thế giới từ sau hội nghị dân số họp tại Cairo (Aicập năm 1994), thì
vấn đề sức khoẻ của phụ nữ mãn kinh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Các công trình nghiên cứu về sức khoẻ của phụ nữ mãn kinh chưa đáp
ứng được với yêu cầu về chăm sóc sức khoẻ ở lứa tuổi này. Theo ước tính có
đến 75%-90% phụ nữ độ tuổi trên 50 cú các triệu chứng bất thường, gây ảnh
hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống [6], [12], [19], [41].

1.1.2. Cơ sở lý luận của phép dưỡng sinh
Sách Nội kinh viết “Thánh nhân chữa khi chưa có bệnh, không để bệnh
phát ra rồi mới chữa, trị khi nước chưa có loạn, không đợi khi có loạn rồi mới
trị. Phàm sau khi bệnh đã thành rồi mới dùng thuốc, loạn đã thành rồi mới lo
dẹp, cũng ví như khát mới đào giếng, khi chiến đấu mới đúc binh khí thì
chẳng phải muộn ru” [21], [51, [52].
Phép dưỡng sinh đã được Tuệ Tĩnh, một danh y thế kỷ XIV đúc kết
trong hai câu thơ [50]:
“ Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hỡnh”
Có thể minh hoạ hai cõu thơ này bằng sơ đồ dưới đõy:
3
Tinh, khí, thần được coi là tam bảo (ba báu vật) của cơ thể. Tinh dồi
dào, khí đầy đủ thì thần mới vững mạnh, cơ thể mới sống khoẻ và sống lâu.
Bế tinh: là giữ gìn tinh của cơ thể, tinh có hai loại là tinh tiên thiên
(bẩm thụ từ cha mẹ, đóng vai trò sinh sản) và tinh hậu thiên (khí huyết, tân
dịch có được từ tinh hoa từ đồ ăn thức uống, đóng vai trò dinh dưỡng)
Dưỡng khí: là nuụi dưỡng khí trong cơ thể, có hai loại khí là khí tiên
thiên (nguyên khí, bẩm thụ từ cha mẹ) và khí hậu thiên (do phế sinh ra và tỳ
vị lấy từ đồ ăn thức uống). Khí là vật chất vô hình có tác dụng duy trì cuộc
sống, thúc đẩy hoạt động chức năng của cơ thể, không chỗ nào không đến,
Tồn thần
Dưỡng khí
Bế tinh
Luyện hình
Thủ chân
Quả dục
Thanh tâm
Bảo vệ sức
khoẻ. Kéo

các ngành của nó như: Hath Yoga chuyên luyện về thể xác, Raja Yoga
chuyên luyện về tinh thần, tập trung tinh thần [11], [25].
Ở Châu Âu, có phương pháp tập luyện thể dục thể thao, điền kinh,
thư gión….
1.2.2. Một số phương pháp tập luyện dưỡng sinh ở trên thế giới
Các phương pháp phổ biến như: Khí công, Thái cực quyền, xoa bóp,
Yoga, thư gión,…
1.2.2.1 Khớ công dưỡng sinh:
Là phương pháp tập luyện từ lâu đời ở Trung Quốc, là phương pháp tự
tập luyện để nâng cao thể chất, phòng bệnh và chữa bệnh. Gồm có 2 phần là:
tĩnh công và động công [1], [20], [45].
Tĩnh công gồm ba phần tập luyện chính: luyện tư thế, luyện ý, luyện
thở ở trạng thái tĩnh có tác dụng làm cho khí huyết lưu thông, rèn luyện nội
tạng, để chữa bệnh tật [1], [20], [45].
Động công gồm ba phần tập chính: luyện tư thế, luyện ý, luyện thở ở tư
thế động, có tác dụng làm mạnh cơ bắp, tăng cường sức lực [1], [20], [45].
Theo thống kê của hội nghị khí công quốc gia Trung Quốc có khoảng
50 triệu ngưũi tập luyện khí công. [1]. Hiện nay Trung Quốc đã áp dụng khí
công vào điều trị nhiều bệnh như: tăng huyết áp, suy nhược thần kinh, hen
phế quản, viêm loét dạ dày, giảm béo [1], [45].
Hiện nay có Viện nghiên cứu khí công và cỏc mụn tập khí công ở
Trung Quốc, hội khí công ở nhiều nước trên thế giới [45].
6
1.2.2.2 Yoga
Là phương pháp tập luyện có nguồn gốc từ Ấn Độ, Yoga có 2 ngành
chính là: Hatha Yoga - luyện về thể xác, còn được gọi là yoga thể dục và Raja
Yoga chuyên luyện về tinh thần, tập trung tinh thần
Hiện nay có nhiều viện nghiên cứu về Yoga ở Ấn Độ và một số nước
Phương Tây. [21], [25].
1.2.2.3 Thư giãn

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bị lao phổi, sáu lần mổ, chỉ còn 1/3 sức thở
nhưng nhờ kiên trì tập luyện dưỡng sinh nên sức khoẻ hồi phục, vẫn làm việc và
lao động sáng tạo. Phương pháp tập luyện dưỡng sinh của Bác sĩ Nguyễn Khắc
Viện gồm: luyện thở, luyện thư giãn, một số động tác Yoga [21], [25], [54].
Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng bị Tai biến mạch máu não từ năm 1970, đã
tự tìm ra phương pháp tập luyện và ông đã phục hồi gần như hoàn toàn, sống
và làm việc đến năm 1998.
Từ năm 1960 đến nay Viện Y học cổ truyền Việt Nam (nay là Bệnh
viện Y học cổ truyền Trung Ương) đã thường xuyên mở các lớp tập luyện
dưỡng sinh để phòng bệnh và điều trị một số bệnh mạn tính.
1.3. Nội dung bài tập dưỡng sinh YHCT tại Bệnh viện Y học cổ truyền
trung ương
1.3.1. Xuất xứ của bài tập:
8
Bài tập dưỡng sinh tại Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam được Bác
sĩ Nguyễn Văn Hưởng xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa truyền thống dưỡng
sinh từ lâu đời của cha ông ta, tiếp thu có chọn lọc các phương pháp tập luyện
của các dân tộc khác như: khí công, xoa bóp của Trung Quốc; Yoga của Ấn
Độ [21], [25].
Bài tập đã được các Giáo sư Hoàng Bảo Châu, Trần Thuý và một số
bác sỹ của Khoa Dưỡng sinh Chõm cứu kế thừa, bổ sung hoàn thiện hơn [3],
[9]], [15].
1.3.2. Nội dung bài tập
1.3.2.1. Luyện thư giãn:
Theo quan điểm của YHCT thì thư nghĩa là thư thái, trong đầu óc lúc
nào cũng thư thái; giãn có nghĩa là nới ra, giãn ra, chùng lại. Thư giãn nghĩa
là ở gốc trung tâm vỏ não thì phải thư thái, ở ngọn các cơ vân và cơ trơn thì
phải giãn ra. Gốc thư thái tốt thì ngọn giãn tốt, mà ngọn giãn tốt thì sẽ giúp
gốc thư thái. Nếu thư giãn tốt thì không có cơ nào căng thẳng, tay chân và
toàn thân trở nên mềm mại. Gương mặt phải rất bình thản như “mặt nước hồ”

2
máu tăng [1], [26], [28].
Luyện tập ở các tư thế Yoga:
Mục đích làm cho khí huyết lưu thông và chống xơ cứng. Các tư thế
ASANA của phương pháp Yoga có ưu điểm chống xơ cứng, làm cơ thể dẻo
dai bằng, buộc huyết phải lưu thông đến các tế bào ở nơi xa nhất [1], [25]
Điểm trọng tâm của luyện tập là: tập cột sống, tập cơ phía sau thân, tập
để giữ tạng phủ không sa ra ngoài, tư thế dồn mỏu lờn đầu (một số động tác
như cái cày, trồng cây chuối, chổng mông thở, tư thế kờ mụng có tác dụng
dồn mỏu lờn nóo).
10
Các động tác trong bài tập của Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng là những
động tác phù hợp với người lớn tuổi, không nguy hiểm, với mục đích chống
xơ cứng để bồi dưỡng sức khỏe, kéo dài tuổi thọ.
Theo Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng thì người có tăng huyết áp không nên
tập động tác trồng cây chuối, người già xơ cứng mà tập quá mạnh có thể bị
chấn thương cột sống, gãy xương. Vì vậy người tập phải lựa chọn những động
tác phù hợp với mình [28].
Theo GS Nguyễn Khắc Viện, các động tác này giúp cho mạch máu não
nhạy cảm với sự thay đổi của áp lực, luyện đàn hồi thành mạch máu não và
làm ổn định lưu lượng não. Muốn tập các động tác đưa hai chân lên cao phải
tập từ từ, tăng dần, tránh đột ngột. Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh tim
mạch nên tránh [1], [54].
1.4. Các công trình đã nghiên cứu về bài tập dưỡng sinh
Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương đã kết hợp với Trường Đại học y
Hà Nội, Học viện Quõn y, Bệnh viện công ty than 3, Bệnh viện trung ương
quân đội 108, đã đánh giá nhiều chỉ tiêu của bài tập này. Kết quả chung là
người tập luyện ăn ngon hơn, ngủ tốt hơn, đại tiểu tiện điều hoà hơn. Đối với
hoạt động chức năng thở: dung tích sống, VEMS, chỉ số Tiffeneau, PaO
2

1.5.1. Theo YHHD
1.5.1.1. Mãn kinh và cơ sở sinh lý học của món kinh
Ở người phụ nữ vào độ tuổi 50 trở lên các nang trứng của buồng trứng
giảm phát triển, trở lên không đáp ứng với kích thích của hormon tuyến yên,
sau vài tháng đến vài năm các chu kỳ sinh dục ngừng, người phụ nữ hết kinh,
không có hiện tượng phúng noón, nồng độ các hormon sinh dục giảm thấp.
Hiện tượng này được gọi là mãn kinh [6], [7], [18].
12
Mãn kinh là tình trạng thôi hành kinh vĩnh viễn, một vô kinh thứ phát
do suy giảm tự nhiên hoạt động của buồng trứng một cách tự nhiên và không
hồi phục [2], [7].
Mãn kinh được phân thành 2 loại:
- Mãn kinh tự nhiên: là tình trạng vô kinh liên tục sau 12 tháng mà
không có bất kỳ nguyên nhân bệnh lý nào [2], [6], [19]
- Mãn kinh nhân tạo: là tình trạng dừng kinh nguyệt sau khi cắt bỏ buồng
trứng, do điều trị hoá chất, phóng xạ làm suy giảm chức năng buồng trứng.
Hội chứng món kinh được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiền mãn kinh: là giai đoạn khi mà chu kỳ kinh nguyệt vẫn
đều ở phụ nữ sau độ tuổi 40, đôi khi mất kinh nhưng không kéo dài quá 3
tháng [2], [6], [19], [33],[37].
Giai đoạn quanh mãn kinh: là giai đoạn ngay trước khi mãn kinh thật
sự, chu kỳ kinh nguyệt bất thường, có giai đoạn vô kinh kéo dài hơn ba tháng
nhưng không kéo dài trên 12 tháng, giai đoạn này bao gồm cả năm đầu sau
khi mãn kinh [2], [6], [19], [33], [37].
Giai đoạn hậu mãn kinh: là sau khi vô kinh liên tục 12 tháng, giai đoạn
này kéo dài cho đến chết [2], [6], [19], [33], [37].
Cơ sở của món kinh: Món kinh là sự kiệt quệ của buồng trứng, vào thời
kỳ tiền mãn kinh ở buồng trứng, số nang trứng nguyờn phỏt cũn rất ít. Việc đáp
ứng của buồng trứng với kích thích của Follicle Stimulating Hormon (FSH) và
Luteinizing Hormon (LH) giảm dẫn đến lượng estrogen giảm dần đến mức

Chính sự tụt giảm nồng độ estrogen thời kỳ mãn kinh đã dẫn tới những
thay đổi về cấu trúc cũng như về chức năng buồng trứng để lại nhiều khó
khăn ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người phụ nữ ở giai đoạn này.
Những biểu hiện lâm sàng của tuổi mãn kinh thay đổi rất nhiều về mức độ và
thời gian xuất hiện. Một số phụ nữ hoàn toàn không có một triệu chứng gì
đáng kể trừ sự thay đổi chức phận kinh nguyệt là do những thay đổi về hình
thái và nội tiết chắc chắn tiến triển một cách từ từ vì vậy các hậu quả hầu như
không thấy rõ. Ngược lại ở những phụ nữ mà sự thiếu hụt estrogen đột ngột
hơn và rõ ràng hơn, phối hợp với những thay đổi ở đường sinh dục, vú và đôi
khi các triệu chứng khác cùng một lúc với những biểu hiện của tớnh khụng ổn
định nghiêm trọng của bản thân. Chính những người này được gọi là có hội
chứng mãn kinh [5],[6], [13].
1.5.1.4 Hội chứng mãn kinh.
Danh từ hội chứng mãn kinh được dùng để chỉ một nhúm cỏc triệu
chứng mà một số 70-90% phụ nữ bị mắc trong tuổi mãn kinh bao gồm: Rối
loạn thần kinh thực vật như cơn bốc hoả, vã mồ hôi, hồi hộp, chóng mặt, các
rối loạn tâm lý như: rối loạn tập trung, giảm ham muốn tình dục…
* Rối loạn vận mạnh.
Các rối loạn vận mạch xẩy ra ở 75 - 85% phụ nữ mãn kinh. Thường được
nhắc tới là cơn bốc hoả, kèm theo vã mồ hôi và rùng mình [2], [5], [6], [29]
* Cơn bốc hoả [2], [6], [13].
Các cơn bốc hoả này xẩy ra rất bất ngờ, không có báo trước, hay cảm
thấy một cảm giác ấm hay nóng bỏng từ ngực lan dần lên tới cổ, đầu, mặt.
Cảm giác này có thể kéo dài một vài giây tới một vài phút và thường kèm
15
theo một cơn đỏ mặt, đôi khi sau cơn bốc hoả lại rùng mình. Thường xuất
hiện vã mồ hôi sau cơn bốc hoả. Đôi khi thấy xuất hiện choáng váng, chóng
mặt, đánh trống ngực, nhức đầu, buồn nôn ngay sau khi bị bốc hoả và sự kết
thúc của triệu chứng trên cũng đột ngột như khi nó xuất hiện. Tất cả giai đoạn
này kéo dài khoảng vài phút.

sự khởi đầu của cơn bốc hoả bằng cách cố gắng làm mát cho mình bằng việc
mở cửa sổ hay cởi bỏ quần áo quá dày ngay cả khi không có sự gia tăng thật
sự trong nhiệt độ trung ương.
Tần suất xuất hiện của các cơn bốc hoả rất khác nhau tuỳ theo từng
vùng, từng dõn tộc…. Ví dụ: 23% phụ nữ mãn kinh ở Thái Lan, 10% ở phụ
nữ Trung Quốc; 56% ở phụ nữ Thuỵ Điển, 17,6 % ở phụ nữ Singapore; 56%
ở phụ nữ Malaysia; hơn 80% ở phụ nữ Hà Lan [6], [], [57], [58], [60] . Theo
M. Yusoff. Dawood 85% phụ nữ mãn kinh có cơn bốc hoả với 65% cơn bốc
hoả xuất hiện từ 1 – 5 năm, 26% kéo dài từ 6 – 10 năm, 10% kéo dài trên 10
năm [59]. Theo Kronnenberg (1990): có 60% phụ nữ có cơn bốc hoả trong
thời gian 7 năm và 15% trên 15 năm. Mỗi cơn bốc hoả kéo dài trung bình 2,7
phút, có 17,4% phụ nữ mãn kinh có cơn bốc hoả kéo dài hơn 1 phút, 5,7%
cơn bốc hoả kéo dài hơn 6 phút [2]. Mỗi cơn bốc hoả có liên quan với sự tăng
nhiệt độ, tăng nhịp đập của tim (trung bình 9 nhịp đập/phỳt và có thể tới 20
nhịp đập/ phút), tăng hoạt động máu ở tay chân và tăng máu ở ngoài da.
17
* Đánh trống ngực
Là một triệu chứng khó chịu thường gặp. Đánh trống ngực có thể là
một trong những biểu hiện nổi bật của một đợt lo âu cấp diễn [43]. Tự nhiên
có cảm giác run sợ, trong tim rung động, không yên, bệnh phát bất thường,
cảm thấy tim đập nhanh trong khoảng thời gian vài giây có khi có cảm giác
nặng hoặc đau tức nhẹ ở ngực thoáng qua.
* Chóng mặt:
Là một ảo giác vận động của bản thân hoặc của môi trường thông
thường là cảm giác quay, có thể do sinh lý hoặc do rối loạn trong hệ tiền đình.
Cảm giác đầu óc quay cuồng, choáng váng, lảo đảo như ngồi trên thuyền
chòng trành [2]. Chóng mặt sinh lý kéo dài 3 – 40 giây, nhẹ thì thoáng qua,
nặng thì tức ngực, buồn nôn, đổ mồ hôi, nặng hơn thì ngất xỉu. Ở các bệnh
nhân này không thấy biểu hiện của rối loạn tiền đình rõ ràng hoặc hội chứng
động mạch đốt sống cổ thân nền [2], [24], [38], [47].

Thuật ngữ đau đầu bao hàm tất cả các loại đau ở đầu nhưng trong ngôn
ngữ thông thường người ta dùng từ đau đầu chỉ để nói tới những cảm giác khó
chịu vựng vũm sọ. Có khoảng 1/3 bệnh nhân than phiền bị đau đầu, coi như
một dấu hiệu mới, đau đầu thường được gọi là loại căng thẳng thần kinh và
được bệnh nhân mô tả là cảm thấy giống như một sợi dây bó chặt quanh đầu,
hoặc đi từ chẩm đến cổ lan ra gỏy, ớt khi nó thuộc loại đau nửa đầu [2], [13].
Một số cho rằng hiện tượng đau đầu ở phụ nữ thời kỳ mãn kinh là kết quả
của sự căng phồng của tuyến yờn đã cương năng về chức phận [13], [43]. Theo
19
tính chất thì có thể các cơn đau đầu là biểu hiện khác của sự rối loạn hệ thống thần
kinh thường hay xẩy ra ở người phụ nữ mãn kinh.
* Tâm tính khí thất thường:
Lúc vui, lúc buồn, hay quên, nhiều khi không làm chủ được khi quyết
định một việc gì dù nhỏ nhặt trong sinh hoạt hằng ngày.
* Mất ngủ
Đó là sự giảm sút về thời gian, độ sâu hoặc hiệu quả hồi phục của ngủ,
có thể là không ngủ được, muốn ngủ rất khó, giấc ngủ chập chờn dễ bị thức
giấc, ngủ không sâu, cả đêm không ngủ, hoặc cả ngày ngủ 2 – 3 giờ, sáng ngủ
dậy cảm thấy không thoải mái còn thiếu ngủ, mệt mỏi. Bệnh thường kốm
chúng mặt, đau đầu, hồi hộp hay quên [2], [5], [12].
* Dễ bị kích động:
Bệnh nhân cảm thấy bực mình, hay nổi cáu nhiều hơn trước, nhiều khi
không làm chủ được bản thân.
* Chứng u sầu, lo lắng:
Đó là sự xuất hiện cảm giác chán hoặc buồn vô cớ có khi không cưỡng
lại được, nản lòng về tương lai, khó khắc phục những phiền muộn của bản
thân gây lo lắng…
* Tính yếu đuối và mệt mỏi:
Mệt mỏi cũng là một triệu chứng quan trọng, hay gặp trong hội chứng
mãn kinh. Bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi, uể oải, không khoan khoỏi cả

21
Tuy nhiên dù kết quả có lợi của việc điều trị Estrogen đối với hội
chứng mãn kinh, song có một vài bệnh nhân và đôi lúc có một số thầy thuốc
không tán thành hay từ chối chấp nhận cách điều trị đú vỡ nhiều lý do khác
nhau [53]. Chính vì vậy một trong những quyết định phức tạp và khó khăn
nhất trong chăm sóc sức khoẻ phụ nữ là hiệu họ cú nờn dựng LPHTT sau mãn
kinh hay không [2].
Trong điều trị thầy thuốc phải xác định xem bệnh nhõn cú chỉ định cần
đến LPHTT hay không ? Thầy thuốc cần xem xét những lợi ích và tác hại của
LPHTT với bệnh nhân. Nhấn mạnh vào sự thiếu chắc chắn của nhiều vấn đề
có liên quan. Những tác dụng phụ có thể xẩy ra cũng phải được bàn. Những
chống chỉ định đối với LPHTT cũng phải được đánh giá thường quy [40],
[41]. Khi điều trị bằng LPHTT đòi hỏi người phụ nữ phải đến cơ sở y tế kiểm
tra thường xuyên. Mặc dù LPHTT là phương pháp trị liệu chính xong không
phải tất cả phụ nữ có hội chứng mãn kinh đều được điều trị và nên điều trị
bằng LPHTT.
Ngoài ra, người phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh nờn cú: một chế độ tập luyện
đặc biệt (nên đi bộ), một công việc phù hợp với tuổi già, một cuộc sống thoải
mái với gia đình và bạn bè cùng lứa tuổi, dùng Calcium và Vitamin D,…
1.5.1.6 Tình hình nghiên cứu về mãn kinh trên thế giới và trong nước
Trên thế giới:
Việc nghiên cứu mãn kinh nói chung cũng như về hội chứng mãn kinh
nói riêng có rất nhiều công trình. Về phần điều trị chủ yếu là nghiên cứu cảnh
hưởng của LPHTT tới hội chứng mãn kinh, cũng như ảnh hưởng tới các cơ
quan đích mà estrogen, progesteron tác động. Bằng chứng hiển nhiên có liên
quan đến những lợi ích và tác hại của trị liệu LPHTT được xác định từ hai thử
nghiệm ngẫu nhiên lớn đang tiến hành. Đó là thử nghiệm đề xướng sức khoẻ
22
phụ nữ tại Hoa Kỳ năm 2005 có kết quả và nghiên cứu quốc tế về sử dụng lâu
dài Estrogen sau mãn kinh . Tại 14 quốc gia dự kiến đến năm 2012 có kết quả

ảnh hưởng tới sự hoạt động của các tạng phủ khác. Do thận là gốc của tiên
thiên nên khi ngũ tạng bị tổn thương, bao giờ cũng ảnh hưởng tới thận, dẫn
đến chức năng của tạng thận bị suy giảm. Thận dương thận âm mất cân bằng,
ảnh hưởng đến sự hoạt động của các tạng phủ khác như: tâm, can, tỳ…làm
cho biểu hiện lâm sàng của hội chứng mãn kinh rất phức tạp [31].
1.5.2.2. Các thể lâm sàng
- Thể âm hư hoả vượng: người bệnh cú cỏc biểu hiện như: tính tình bứt
rứt, nóng nảy, dễ cáu gắt, chóng mặt, đau đầu, ngực sườn đầy tức, miệng khô
đắng, chân tay run, tê hoặc có cảm giác kiến bò, lưỡi đỏ tía, mạch huyền sác.
- Thể can thận âm hư: người bệnh cú cỏc biểu hiện: đau đầu, chóng
mặt, bốc hoả, ra mồ hôi, miệng khô, tiểu vàng, táo bón, lưng gối mỏi, đau
nhức xương, tai ù, ngũ tâm phiền nhiệt, chất lưỡi đỏ, rờu ớt, mạch tế sác.
- Thể thận dương hư: người bệnh cú cỏc biểu hiện: người béo bệu, chân
tay lạnh, mệt mỏi, sắc mặt trắng, đau mỏi lưng, tiểu tiện trong hoặc són tiểu,
chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc tế nhược.
- Thể thận âm thận dương đều hư: người bệnh cú cỏc biểu hiện: đau
đầu, chóng mặt, ù tai, ngủ ít hay mơ, lúc lạnh lỳc núng, ra mồ hôi, mặt nóng
từng lúc, lưng lạnh, lưỡi nhợt hoặc đỏ, mạch trầm nhược.
1.5.2.3. Điều trị theo YHCT
Một số bài thuốc hay dùng như Lục vị hoàn, Kỷ cúc địa hoàng hoàn,
Tiêu dao đan chi để điều trị.
Ngoài ra có thể vận dụng phương pháp không dùng thuốc như: Châm
cứu, Xoa bóp, Khí công, Dưỡng sinh để điều trị.
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những phụ nữ đã mãn kinh tuổi từ 50 đến 65 tham gia các lớp tập
luyện dưỡng sinh tại Khoa Châm cứu – Dưỡng sinh Bệnh viện Y học cổ
truyền Trung ương, tự nguyện tham gia nghiên cứu này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status