1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn khứu giác bao gồm giảm, mất khứu, loạn khứu làm ảnh hưởng
đến sinh hoạt, tiêu hóa và sức khỏe. Theo thống kê ở Hoa Kỳ có khoảng trên
2 triệu người bị mất khứu giác, mỗi năm có trung bình 200000 người đi khám
bệnh vì mũi không nhận thức được mùi. Một số người bi quan chán nản và
suy sụp tinh thần sau khi bị triệu chứng này.
Theo Y học hiện đại, rối loạn khứu giác tiên phát có thể do các tổn
thương thực thể ở mũi xoang (polyp mũi, K mũi, u xơ, viêm mũi xoang vận
mạch, dị ứng, nhiễm khuẩn…) triệu chứng luôn kèm theo ngạt mũi, tắc mũi.
Rối loạn khứu giác thứ phát sau các bệnh toàn thân như đái tháo đường, suy
thận, thiểu năng tuyến giáp, zona, viêm não, sau chấn thương sọ não, chấn
thương vùng hàm mặt. nhiễm độc hơi khí…
Theo Y học cổ truyền, rối loạn khứu giác thứ phát thuộc phế khí hư: phế
khai khiếu ra mũi, phế khí thông với mũi, bệnh mũi và phế có quan hệ mật thiết
với nhau. Cơ thể hư nhược hoặc bệnh lâu không khỏi làm phế âm hao tổn nên
các khiếu không được nuôi dưỡng dẫn đến công năng thất thường.
Hiện nay có rất ít nghiên cứu về điều trị rối loạn khứu giác thứ phát kể
cả y học hiện đại và y học cổ truyền. Qua thực hành lâm sàng tại khoa khám
bệnh bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an bằng phương pháp châm cứu điều
trị rối loạn khứu giác thứ phát với số lượng bệnh nhân hữu hạn đã cho kết quả
khả quan nên chúng tôi mạnh dạn đưa ra nghiên cứu này với mục tiêu:
Đánh giá tác dụng của phương pháp châm cứu trong điều trị chứng
rối loạn khứu giác thứ phát.
2
luôn thay đổi, với các hoạt động sống phong phú của bản thân. Những điều
3
3
kiện sống này đã thúc đẩy sức sống bên trong mạng lên theo quy luật chung.
Song nếu trái thường chúng làm sức sống yếu đi, nặng hơn thì gây bệnh. Mặt
khác mỗi con người có sức chống đỡ của cơ thể (chính khí), khi chính khí yếu
tác động môi trường vượt quá ngưỡng chịu đựng cơ thể thì các yếu tố trên trở
thành nguyên nhân gây bệnh
Bệnh phát sinh là do ngoại tà (tà khí) xâm phạm vào cơ thể, tà chính giao
tranh, chính khí hư không đủ mạnh để thắng tà khí, hoặc thất tình thái quá,
hoặc ẩm thực thất thường, lao lực… tất cả đều dẫn đến âm dương mất cân
bằng biểu hiện bệnh.
Tạng phủ khí huyết hư tổn: do bẩm sinh không đủ, bệnh lâu không khỏi,
lao dộng nghỉ ngơi, phòng dục quá độ dẫn đến khí huyết, tạng phủ hư tổn mà
sinh bệnh.
2. Các phương pháp điều trị:
- Y học hiện đại: vitamin, bổ thần kinh, corticoid…
- Y học cổ truyền: châm cứu (điện châm, thủy châm), bấm huyệt, các bài thuốc
cổ phương gia giảm…
II. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU
Châm cứu là thủ thuật chèn và thao tác kim vào một điểm cụ thể trên cơ
thể để giảm đau hoặc cho các mục đích điều trị. Ở đây chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đánh giá tác dụng của việc châm cứu trên 2 huyệt : Thái xung và
Thượng tinh để điều trị chứng rối loạn khứu giác thứ phát.
CƠ CHẾ TÁC DỤNG CHÂM CỨU
2. Giải thích theo y học cổ truyền:
Châm cứu có tác dụng điều khí, làm thông kinh lạc do đó lập lại sự cân
bằng âm dương trong cơ thể và giảm đau.
5
5
2.1. Về sinh lý:
Dưới sự thúc đẩy của kinh khí, khí huyết, tuần hoàn không ngừng trong
kinh lạc đưa dinh dưỡng đến lục phủ ngũ tạng, làm cho cơ thể trong ngoài trên dưới giữ được cân bằng sinh lý trong trạng thái bình thường.
2.2. Về bệnh lý :
Kinh lạc là đường liên hệ nối thông phần ngoài cơ thể với nội tạng.
Trong trạng thái bình thường kinh lạc có thể giữ được sự cân bằng, điều khiển
nhịp nhàng hoạt động của cơ thể. Nhưng nếu sự điều hòa tổng hợp của kinh
lạc không bình thường sẽ xuất hiện bệnh.
2.3. Về chẩn đoán:
Mỗi nhánh của kinh lạc đều có bộ vị tuần hành nhất định và liên hệ với
các tạng phủ nào đó. Cho nên bệnh của tạng phủ có thể biểu hiện qua kinh lạc
trên bề mặt da cơ thể.
2.4. Về trị liệu:
Nếu một tạng phủ nào đó bị bệnh ta có thể theo 1 kinh đại diện tạng phủ
mà dùng huyệt khôi phục lại công năng bình thường của kinh lạc
* Sự mất cân bằng âm dương phản ánh qua 4 trạng thái:
+ Hư là chính khí suy giảm.
+ Thực tà là khí quá mạnh.
+ Hàn là sức nóng của cơ thể giảm sút.
+ Nhiệt là sức nóng của cơ thể quá tăng.
* Dựa vào các trạng thái trên để định phép châm cứu.
7
7
mạch bài tiết hơi nóng làm kinh mạch lưu thông. Sách Đồng nhơn dạy mũi
không biết mùi, chóng mặt nên bổ châm huyệt này.
Huyệt Thái xung:
Đây là huyệt nguyên, huyệt du của kinh Can, nơi nguyên khí sở cư, khí
huyết hưng thịnh là yếu đạo để khí huyết thông hành
+ Đặc tính: huyệt thứ 3 của kinh Can ( kinh túc quyết âm can)
+ Vị trí: sau khe giữa ngón 1,2 đo lên 1,5 thốn, huyệt ở chỗ lõm tạo nên bởi
2 đầu xương ngón 1,2 hoặc sờ dọc theo khoảng gian đốt xương bàn chân 1, tìm
xác định góc tạo nên bởi 2 đầu xương bàn chân 1 và 2, lấy huyệt ở góc này
+ Giải phẫu: dưới da là gân cơ duỗi dài riêng ngón cái, cơ duỗi ngắn các
ngón chân, cơ gian cốt mu chân, khe giữa các đầu sau của các xương bàn
chân 1,2. Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh chày trước
và nhánh của dây thần kinh chày sau. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn
thần kinh L5.
8
8
+ Tác dụng: chứng rối loạn khứu giác thứ phát nguyên nhân do phế khí
hư, âm dương mất cân bằng, khí huyết hư tổn. Bình thường phế kim khắc can
mộc nhưng khi có bệnh thì can phản khắc phế, phế khí hư không chế được
can do đó can khí thượng nghịch làm cho phế khí túc giáng bị vướng. Chính
Bệnh nhân có các tổn thương thực thể ở mũi xoang (polyp mũi, K mũi, u xơ,
viêm mũi xoang vận mạch, dị ứng, nhiễm khuẩn…)
9
9
-
Cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm
Viêm nhiễm vùng da định châm
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng mở, lựa chọn ngẫu
nhiên, so sánh trước và sau điều trị.
2. Cớ mẫu: 20 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn khứu giác thứ
phát, điều trị tại khoa Khám bệnh trong thời gian từ tháng 3/2014
đến tháng 11/2014.
3. Các chỉ tiêu nghiên cứu:
-
Các đặc điểm chung.
+ Tuổi, giới, thời gian mắc bệnh..
+ Các yếu tố liên quan khởi phát bệnh: sau các bệnh lý toàn thân như rối
loạn khứu giác do thuốc (liệu pháp xạ trị, tiếp xúc với chất độc chất…), rối
loạn khứu giác thần kinh do AIDS, nghiện rượu, Alzheimer, trầm cảm, đái
tháo đường, bệnh múa giật Huntington, giảm năng tuyến giáp, suy dinh
dưỡng, Parkinson, thiếu vitamin B12, thiếu kẽm, do sự lão hóa cơ thể
11
III. TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
1. Chuẩn bị dụng cụ gồm:
-
Kim châm cứu kích thước 40x0.3mm
-
Panh kẹp bông
-
Bông cồn
-
Hộp chống vượng châm
2. Chuẩn bị bệnh nhân
-
Bệnh nhân được đo mạch, nhiệt độ, huyết áp.
-
Tiến hành bộc lộ vùng định châm.
cảm giác đắc khí. Lưu kim 20 phút, cứ 5 phút vê kim ngược chiều kim đồng
hồ một lần. Hết thời gian rút kim, bệnh nhân thở ra thì rút kim ra từ từ, sau
khi rút kim không day bịt lỗ châm để cho khí tản ra ngoài.
-
Sát trùng da chỗ kim châm
4. Yêu cầu kĩ thuật
- Đắc khí: theo Đông y, khi châm đạt được cảm giác đắc khí chứng tỏ khí
của bệnh nhân được huy động đến thông qua mũi châm đạt kết quả tốt. nếu
châm mà không đạt được cảm giác đắc khí chứng tỏ khí của bệnh nhân đã suy
kém thì ta sẽ không áp dụng phương pháp châm để điều trị. Có thể hiểu đây là
đáp ứng của người bệnh thông qua hệ thần kinh đối với kích thích của mũi
châm. Có thể xác định cảm giác đắc khí của bệnh nhân thông qua 1 trong 2
cách:
•
Cảm giác của người bệnh: thấy căng, tức, tê, nặng, mỏi tại
chỗ châm hoặc lan xung quanh nhiều hoặc ít
•
Cảm giác ở tay thầy thuốc: thấy kim như bị da thịt vít chặt lấy, tiến
hay lui kim có sức cản (cảm giác tương tự như khi châm vào cục
gôm tẩy)
- Các cách thường dùng để tạo cảm giác đắc khí:
•
•
•
•
•
Nếu đầu kim gãy thò lên mặt da: rút kim ra
Nếu đầu kim gãy sát mặt da: dùng hai ngón tay ấn mạnh hai bên
•
kim để đầu kim ló lên, dùng kẹp rút ra
Nếu đầu kim gãy lút vào trong da: can thiệp ngoại khoa
- Phòng ngừa: kiểm tra kỹ mỗi cây kim trước khi châm
5.4. Say kim (choáng do châm, vượng châm)
−
Biểu hiện:
• nhẹ: mặt nhợt, vã mồ hôi, hoa mắt, bồn chồn có thể buồn nôn
• nặng: ngất, chân tay lạnh
- Xử trí:
•
nhẹ: rút hết kim, cho bệnh nhân nằm đầu thấp
14
14
•
Nam
Nữ
N
n
7
13
20
%
35
65
100
Nhận xét: Số BN bị chứng rối loạn khứu giác giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao hơn
nam giới
2. Đặc điểm phân bố nhóm tuổi của bệnh nhân.
Bảng 2: Đặc điểm phân bố nhóm tuổi của bệnh nhân
Lứa tuổi
20- 30
31- 40
41- 50
51- 60
n
1
3
7
9
trí óc bị chứng rối loạn khứu giác chiếm tỷ lệ 60%.
4. Phân loại rối loạn khứu giác
Bảng 4: Phân loại rối loạn khứ giác
Mức độ rối loạn khứu giác
Mất hoàn toàn
Rất kém
Kém
Hơi kém
Bình thường
Tổng số
Số bệnh nhân
8
7
4
1
0
20
Tỷ lệ
40%
35%
20%
5%
0%
100%
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 8 BN bị mất khứu giác hoàn toàn,
chiếm tỷ lệ 40%, có 7BN khứu giác rất kém, chiếm 35%, có 4 BN khứu giác
kém chiếm tỷ lệ 20%, có 1 BN khứu giác hơi kém chiếm tỷ lệ 5%
+ Khứu giác hơi kém: 1 BN
+ Khứu giác bình thường: 3 BN
-
1 BN khứu giác hơi kém sau điều trị:
+ Khứu giác vẫn hơi kém: 0 BN
+ Khứu giác bình thường: 1 BN
18
18
Bảng so sánh mức độ rối loạn khứu giác trước và sau điều trị sau:
Bảng 5: So sánh mức độ rối loạn khứu giác
Mức độ rối loạn khứu
giác
Mất hoàn toàn
Rất kém
Kém
Hơi kém
Bình thường
Trước điều trị
Sau điều trị
Số BN
Nhận xét: Mức độ mất khứu giác hoàn toàn của BN trước điều trị chiếm 40%,
sau điều trị đã giảm xuống còn 10%, mức độ khứu giác rất kém cũng giảm từ
35% xuống 10%, mức độ khứu giác kém tăng từ 20% lên 25%, mức độ khứu
giác hơi kém tăng từ 5% lên 20%, khứu giác bình thường từ 0% tăng lên 35%
Kết quả điều trị rối loạn khứu giác
Bảng 6: Kết quả điều trị rối lọan khứu giác
Kết quả
Tốt
Khá
Trung bình
Kém
Tổng số
Số BN
8
6
4
2
20
Tỷ lệ (%)
40
30
20
10
100
Nhận xét: Kết quả điều trị rối loạn khứu giác tỷ lệ tốt chiếm 40%, khá chiếm
30%, trung bình chiếm 20%, kém chiếm 10%
−
Hoàng đế nội kinh phần linh khu (2000), tr. 67.
−
Nam kinh (1997), tr. 89.
−
Chủ bệnh nguyên hâu luận (2002), tr. 12
BỘ CÔNG AN
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
ĐỀ TÀI SÁNG TẠO
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA PHƯƠNG PHÁP
CHÂM CỨU TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN
KHỨU GIÁC THỨ PHÁT
HÀ NỘI – 2014
BỘ CÔNG AN
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
ĐỀ TÀI SÁNG TẠO
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA PHƯƠNG PHÁP