ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm dạ dày mạn tính (VDDMT) là một bệnh phổ biến ở nước ta cũng
như các nước trên thế giới. Theo nhiều nghiên cứu thì bệnh này chiếm tỷ lệ cao
nhất trong các bệnh lý về dạ dày tá tràng. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Bùi
Văn Lạc năm 1997, VDDMT chiếm tỷ lệ 48,95% trong các trường hợp nội soi dạ
dày tá tràng [1].
Nguyên nhân gây VDDMT có nhiều nhưng H.pylori được xem là một trong
những nguyên nhân chính gây ra bệnh [2], [3], [4], [5].
VDDMT thường biểu hiện bằng các rối loạn tiêu hóa như đau bụng vùng
thượng vị, ợ hơi, ợ chua, chán ăn, buồn nôn, nôn,….
Bệnh có thể điều trị khỏi triệu chứng nhưng hay tái phát nên bệnh có thể kéo
dài nhiều tháng thậm chí nhiều năm gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Bệnh
lâu ngày có thể dẫn tới loét dạ dày tá tràng, xuất huyết tiêu hóa, teo niêm mạc dạ
dày, ung thư dạ dày. Vì vậy, điều trị VDDMT là vô cùng cần thiết.
Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc Y học hiện đại (YHHĐ) và Y học cổ truyền
(YHCT) được sử dụng để điều trị VDDMT. Tuy nhiên, việc tìm ra một loại thuốc
hữu hiệu để điều trị bệnh này vẫn là một khó khăn đối với các nhà khoa học.
Trong kho tàng YHCT của Việt Nam cũng như Trung Quốc có nhiều bài
thuốc quý có thể sử dụng để điều trị VDDMT. Kinh hoa vị khang (KHVK) là bài
thuốc cổ phương của Trung Quốc gồm hai vị Thổ kinh giới và Thủy đoàn hoa, dùng
để điều trị viêm loét dạ dày tá tràng cấp và mạn tính, viêm thực quản trào ngược.
Thuốc do công ty Tasly - Thiên Tân - Trung Quốc sản xuất, có mặt trên thị trường
Việt Nam từ năm 2006 và đã được Bộ Y tế cấp phép lưu hành.
Ở Trung Quốc, KHVK đã được nghiên cứu cả trên thực nghiệm và trên lâm
sàng cho thấy thuốc có kết quả tốt đối với viêm loét dạ dày tá tràng và phần nào
có tác dụng diệt H.pylori. Ở Việt Nam, KHVK được sử dụng rộng rãi, có hiệu
quả rất tốt trên lâm sàng trong bệnh VDDMT nhưng chưa có công trình khoa học
1
1
nào nghiên cứu về thuốc này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài“Đánh giá tác dụng của Kinh hoa vị khang trong điều trị viêm dạ dày mạn tính
3
3
Hình 1 : Giải phẫu dạ dày
Bề mặt niêm mạc dạ dày trông như một tấm thảm thô, các nếp niêm mạc
chạy theo chiều dọc, nổi cao nhất ở phần trên dạ dày và trải phẳng ra khi dạ dày
căng. Từ trong ra ngoài niêm mạc dạ dày gồm 3 lớp: lớp biểu mô bề mặt, lớp đệm
và lớp cơ niêm [10], [11].
1.1.1.1. Lớp biểu mô bề mặt: Toàn bộ bề mặt niêm mạc dạ dày được che phủ bởi
một lớp tế bào biểu mô hình trụ đơn, có chức năng chế tiết chất nhầy bao phủ bề
mặt dạ dày [10], [12].
1.1.1.2. Lớp đệm: Là mô liên kết thưa có chứa các tuyến dạ dày, các sợi cơ trơn và
mạch máu. Tuyến dạ dày thuộc loại tuyến ống, gồm có eo tuyến, cổ tuyến và thân
tuyến, đảm nhiệm chức năng bài tiết dịch vị. Tùy từng vùng của dạ dày mà ta gặp 3
loại tuyến như tuyến tâm vị, thân vị và hang vị.
Thành của các tuyến được lợp bởi 4 loại tế bào:
- Tế bào cổ tuyến (tế bào nhầy): bài tiết chất nhầy.
- Tế bào thành (tế bào viền): bài tiết acid HCl và yếu tố nội.
- Tế bào chính: bài tiết pepsinogen và lipase dạ dày.
- Tế bào nội tiết, gồm: Tế bào G bài tiết gastrin, tế bào D sản xuất
somatostatin, tế bào ưa crom bài tiết histamin
Trong đó tế bào thành và tế bào chính tập trung ở thân vị, tế bào G, tế bào D
nằm ở hang vị và môn vị [12].
4
4
1.1.1.3. Lớp cơ niêm: Là loại cơ trơn ngăn cách niêm mạc dạ dày với hạ niêm mạc
và lớp cơ [10], [11].
Hình 2: Cấu trúc niêm mạc dạ dày
Như vậy, dịch vị gồm 2 chất tấn công là acid HCl và pepsin có khả năng tiêu
hủy ngay niêm mạc dạ dày. Để bảo vệ, niêm mạc dạ dày cũng có 2 yếu tố chính là
lớp chất nhầy và hàng rào biểu mô. Chất nhầy quánh dính với độ pH ≈ 7,4 phủ bề
dạ dày. Từ đó đến nay hàng loạt công trình nghiên cứu H.pylori về dịch tễ học,
mô bệnh học, các đặc tính xác định vi khuẩn, cơ chế bệnh sinh và các phác đồ
điều trị diệt trừ vi khuẩn này đã đưa kết luận: H.pylori là nguyên nhân chính của
trên 80% loét hành tá tràng và 60% của loét dạ dày. Ở nước ta, trong những năm
gần đây, một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ H.pylori dương tính trong VDDMT là
từ 60 - 80% [14], [15], [16].
1.1.3.1. Đặc tính và cơ chế gây bệnh VDDMT của H.pylori.
6
6
H.pylori là một xoắn khuẩn gram âm, dưới kính hiển
vi điện tử có hình chữ S hoặc hình xoắn, dài từ 2-
3µm, đường kính 0,5µm, có 4-6 roi ở đầu. Chúng
sống ở phần sâu của lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ
dày [2]. H.pylori thích nghi với một môi trường độc
nhất là niêm mạc dạ dày, có mặt ở hang vị nhiều hơn
ở thân vị [17].
H.pylori tiết ra các loại men, đặc biệt là men urease,
chính nhờ men này mà nó sống sót được ở trong môi
trường acid.
Hình 3: Vi khuẩn H.pylori
Đường lây truyền của H.pylori là đường phân - miệng và miệng - miệng [14], [18].
Ước tính có khoảng trên 50% dân số thế giới nhiễm H.pylori [5], [16]. Tỷ lệ
nhiễm H.pylori khác nhau tùy theo địa lý, tuổi, điều kiện sinh sống [14]. Tỷ lệ
nhiễm H.pylori ở Trung Quốc là 71,7%, ở phía đông Siberia là trên 90%, ở Mỹ chỉ
có 7,5% [18]. Trong khi đó, ở Việt nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Tùng Lâm thì
tỷ lệ nhiễm H.pylori là 65,6% [16].
Đa số bệnh nhân nhiễm H.pylori không có triệu chứng gì. Nhưng có nhiều
nghiên cứu chỉ ra rằng H.pylori có mối liên quan mật thiết với các bệnh dạ dày tá
tràng: VDDMT, loét dạ dày, loét tá tràng, ung thư dạ dày [2], [14].
Cơ chế gây bệnh của H.pylori : H.pylori tiết ra men urease làm lỏng lớp chất
Có rất nhiều phương pháp để chẩn đoán sự nhiễm khuẩn H.pylori. Tùy vào
điều kiện kỹ thuật, phương tiện, kinh tế, mục đích của nghiên cứu mà có thể lựa
chọn phương pháp phù hợp.
Các phương pháp chẩn đoán H.pylori có thể chia thành hai nhóm: Các thử
nghiệm có xâm hại được thực hiện qua nội soi dạ dày tá tràng và các thử nghiệm
không xâm hại [2].
Nguyên tắc khi chỉ định thử nghiệm là bệnh nhân không được uống các loại
thuốc kháng tiết acid, các loại kháng sinh và phải ngưng điều trị ít nhất 4 tuần [2].
- Các thử nghiệm ít xâm hại được thực hiện qua nội soi dạ dày tá tràng:
+ Thử nghiệm urease (CLOtest, Pyloritek): Nguyên tắc của thử nghiệm là
nhằm phát hiện men urease của H.pylori. H.pylori gần như là loại vi khuẩn duy nhất
trong dạ dày tiết men urease với khối lượng lớn (ngoại trừ một số rất ít bệnh nhân bị
nhiễm Helicobacter helmanii). Men urease của H.pylori có trong mẫu mô dạ dày sẽ
làm biến đổi urease thành amoniac (NH
3
), NH
3
làm môi trường thuốc thử có pH
kiềm, vì vậy làm thay đổi màu của chất chỉ thị. Các test tốt đọc trong vòng 4 giờ
cho độ nhạy 85-90% và độ đặc hiệu từ 95-98% [2]. Đây là phương pháp nhanh
chóng, rẻ tiền, được áp dụng rộng rãi.
8
8
+ Nuôi cấy vi khuẩn: Trong chẩn đoán nhiễm H.pylori, nuôi cấy là thử
nghiệm đặc hiệu nhất, độ đăc hiệu là 100% [2]. Nuôi cấy còn cho biết mật độ của
H.pylori, cấu trúc gen của các chủng H.pylori khác nhau. Dù vậy, về mặt thực tiễn
lâm sàng ít khi dùng phương pháp này vì có nhiều phương pháp khác đơn giản hơn,
dễ áp dụng rộng rãi hơn.
+ Phản ứng khuếch đại gen (PCR): phát hiện chuỗi ADN đặc hiệu của
H.pylori trong mẫu sinh thiết dạ dày, trong dịch dạ dày, trong chất nhầy hoặc trong
nên chưa được sử dụng rộng rãi ở nước ta.
9
9
+ Chẩn đoán huyết thanh: Chẩn đoán huyết thanh bằng phương pháp ELISA
(Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay) để phát hiện kháng thể IgG kháng
H.pylori. Đây là một xét nghiệm ít tốn kém và thích hợp cho nghiên cứu dịch tễ học
với độ nhạy trên 90%. Phương pháp này ít có giá trị theo dõi điều trị tiệt trừ
H.pylori vì sau điều trị tiệt trừ H.pylori thành công thì kháng thể vẫn tồn tại và chẩn
đoán vẫn còn dương tính từ 6 tháng đến hơn một năm [2].
1.1.4. Chẩn đoán viêm dạ dày mạn tính
Chẩn đoán VDDMT chủ yếu dựa trên kết quả nội soi dạ dày – tá tràng và mô
bệnh học niêm mạc dạ dày [2], [13].
1.1.4.1. Lâm sàng
Viêm dạ dày có thể không có triệu chứng hoặc có các biểu hiện rối loạn tiêu
hóa sớm sau bữa ăn như đau bụng vùng trên rốn, cảm giác khó chịu, nặng bụng
thường xuyên, đầy bụng, trướng hơi, nóng rát vùng bụng trên rốn, buồn nôn, chán
ăn, có thể đại tiện phân sống hoặc kèm theo ỉa chảy,… Các rối loạn tiêu hóa chia
làm 2 loại:
- Giảm trương lực: đầy bụng, trướng hơi, tức bụng, buồn nôn, chán ăn,….
- Tăng trương lực: nóng rát vùng bụng trên rốn, nôn ra thức ăn hoặc dịch dạ dày,….
Một số bệnh nhân đau kiểu giống với loét nhưng không có tính chu kỳ và nội
soi không thấy loét.
Các triệu chứng có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần hay nhiều năm gây
khó chịu và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Điều trị có thể giảm bớt hoặc hết
triệu chứng nhưng có thể tái phát nhất là khi thời tiết thay đổi hoặc khi tinh thần
căng thẳng. Thể trạng bệnh nhân có thể thay đổi hoặc không, một số bệnh nhân ăn
không tiêu hay ăn kém làm ảnh hưởng tới thể trạng.
Thăm khám không có gì đặc biệt, thường thì bụng mềm khi sờ nắn và có thể
đau vùng trên rốn khi ấn [2].
10
11
để chẩn đoán ung thư sớm cần kết hợp với nội soi nhuộm màu hoặc nội soi kết
hợp với laser.
+ Viêm phì đại niêm mạc dạ dày (bệnh Menetrier): các nếp niêm mạc thô to,
cao > 5mm, khi bơm hơi căng không thay đổi.
+Viêm xuất huyết niêm mạc: có những chấm hay mảng xuất huyết dưới
niêm mạc, có thể thấy chảy máu vào trong lòng dạ dày.
+ Viêm niêm mạc do trào ngược dịch mật: niêm mạc phù nề, xung huyết, có
dịch mật xanh ứ đọng ở dạ dày và dịch mật trào ngược từ tá tràng qua lỗ môn vị vào
dạ dày, hay gặp trên bệnh nhân đã cắt dạ dày, đặc biệt trên bệnh nhân cắt dạ dày nối
theo kiểu Billroth I.
Trên hình ảnh nội soi có thể thấy nhiều loại tổn thương khác nhau trên
cùng một bệnh nhân, tổn thương nào là nổi trội nhất sẽ được đưa vào chẩn đoán
nội soi [19].
1.1.4.3. Mô bệnh học niêm mạc dạ dày
Mô bệnh học niêm mạc dạ dày là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác
định VDDMT. Theo Tytgat thì chẩn đoán xác định VDDMT chỉ nên dựa vào
mô bệnh học [20].
VDDMT là một bệnh tiến triển với những biến đổi biểu mô và sự mất dần
các tuyến của niêm mạc ở thân vị và hang vị. Sự biến đổi biểu mô có thể dẫn tới dị
sản hoặc loạn sản.
Có nhiều cách phân loại VDDMT theo mô bệnh học, hiện nay cách phân
loại theo hệ thống Sydney cập nhật (1994) được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Hệ thống Sydney cập nhật nhằm phân loại VDDMT về các mức độ và thương
tổn của viêm. Phân loại cũng dựa theo định khu, hình thái và nguyên nhân. Viêm
dạ dày được chia thành 2 nhóm: viêm dạ dày teo và viêm dạ dày không teo niêm
mạc [5], [20], [21]. Teo niêm mạc dạ dày được định nghĩa là mất các tuyến niêm
mạc. Đây thường là kết quả của nhiễm H.pylori và là yếu tố nguy cơ lớn dẫn tới
ung thư dạ dày [5], [22].
12
khuếch tán
0: không viêm
1-2-3: viêm nhẹ
4: viêm vừa
5-6: viêm nặng
Viêm hoạt
động
0: không có BCĐNTT
1: chỉ có 1 khe tuyến nhiễm BCĐNTT/mẫu
sinh thiết
2: có 2 khe tuyến bị nhiễm BCĐNTT/mẫu
sinh thiết
3: có < 25% khe tuyến bị nhiễm BCĐNTT/
mẫu sinh thiết
4: có 25-50% số khe tuyến bị nhiễm
0: không hoạt động
1-2: hoạt động nhẹ
3-4: hoạt động vừa
5-6: hoạt động mạnh
13
13
BCĐNTT/ mẫu sinh thiết
5: có >50% số khe tuyến bị nhiễm
BCĐNTT/ mẫu sinh thiết
6: tất cả các khe tuyến bị nhiễm BCĐNTT
Teo
0: không bị mất khe tuyến
1: có một vài tuyến dạ dày bị mất hoặc bị
thay thế bởi biểu mô đường ruột
2: có một vùng nhỏ bị mất tuyến dạ dày
H.pylori
0: không thấy H.pylori
1: H.pylori chỉ thấy ở 1 điểm
2: chỉ thấy 1 vài H.pylori
3: H.pylori phân tán ở các vùng khác nhau/ổ
4: có nhiều H.pylori ở các vùng khác nhau/ổ
5: gần toàn bộ bề mặt dạ dày bao phủ bởi
một lớp H.pylori
6: toàn bộ niêm mạc dạ dày bao phủ bởi
một lớp dày H.pylori
0: không nhiễm Hp
hay Hp(-)
1-4: nhiễm Hp mức độ
nhẹ hay Hp(+)
5: nhiễm Hp mức độ
vừa hay Hp(++)
6: nhiễm Hp mức độ
nặng hay Hp(+++)
14
14
1.1.5. Tiến triển của viêm dạ dày mạn tính
- Viêm teo niêm mạc dạ dày: nguy cơ xuất hiện viêm teo từ viêm dạ dày mạn
không teo khoảng 3% một năm. Viêm teo tới mức nặng có thể dẫn đến loét hoặc
ung thư dạ dày [2]. Viêm teo niêm mạc dạ dày ở vùng hang vị thường gặp và
nặng hơn so với vị trí khác [3].
- Loét dạ dày, loét tá tràng: viêm dạ dày mạn có trước bệnh loét và có nguy cơ
tiến triển thành bệnh loét [2]. Đặc biệt là khi nhiễm H.pylori thì nguy cơ dẫn tới
loét dạ dày tá tràng tăng gấp 2,67 lần so với người không nhiễm H.pylori [23].
- Ung thư dạ dày: Viêm teo dạ dày mạn cũng được coi là yếu tố nguy cơ có thể
dẫn đến bệnh ung thư dạ dày. Tùy theo mức độ của viêm teo niêm mạc có liên
, kích thích tăng tiết prostaglandin
E
2
(PGE
2
) [13]. Các muối này cũng được sử dụng để diệt H.pylori vì trên thực
nghiệm H.pylori nhạy cảm với bismuth liều thấp, vì vậy cho phép điều trị liều
thấp mà vẫn có hiệu quả [15].
+ Nhóm thuốc muối nhôm và magnesium: Gastropulgit, Maalox, Phosphalugel,
Smecta,… Các thuốc này gắn với glycoprotein hoặc chất nhầy của niêm mạc dạ
dày tạo thành lớp màng bọc có khả năng bảo vệ niêm mạc, chống H.pylori bằng
cơ chế hút bám và ngăn vi khuẩn gắn vào biểu mô. Các loại muối này còn có tác
dụng trung hòa dịch vị [13].
- Các thuốc ức chế tiết acid
+ Thuốc đối kháng thụ thể H
2
ở màng tế bào viền gồm: Cimetidine (Tagamet),
Ranitidine (Zantac), Famotidine (Pepcidine, Servipep), Nizatidine (Nizacid),….
+ Các thuốc ức chế bơm proton H
+
- K
+
- ATPase ở màng tế bào viền như
Omeprazole (Losec, Mopral), Lanzoprazole (Lanzor, Prevacid), Pantoprazole
(Pantoprazole, Eupantol, Inipomp), Rabeprazole (Pariet), Esomeprazole
(Inexium, Nexium, Leziole).
- Nhóm thuốc điều chỉnh chức năng vận động dạ dày:
+ Thuốc an thần: Seduxen, Rotunda, Stinox.
+ Thuốc chống co thắt, giảm đau: Spasmaverin, Spasfon, Metoclopramid HCl
(Primperan), Drotaverin HCl (No-spa)
Group (EHSG) [24], và American College of Gastroenterology (ACG) [25].
17
17
* Phác đồ chuẩn (phác đồ kinh điển)
- PPI (liều chuẩn, 2 lần/ngày), Clarithromycin (500mg, 2 lần/ngày),
Amoxicillin (1000mg, 2 lần/ngày) hoặc Metronidazole (500 mg, 2 lần/ngày), điều
trị trong 7-14 ngày.
- PPI (liều chuẩn, 2 lần/ngày), Metronidazole (250 mg, 4 lần/ngày),
Tetracycline (500 mg, 4 lần/ngày), Bismuth (525 mg, 4 lần/ngày), điều trị trong 10-
14 ngày.
PPI gồm các thuốc: Omeprazole 20 mg, Lanzoprazole 30 mg, Pantoprazole
40 mg, Rabeprazole 20 mg, Esomeprazole 20 mg hoặc 40 mg.
* Phác đồ tiếp nối
5 ngày đầu: PPI (liều chuẩn, 2 lần/ngày), Amoxicillin (1000mg, 2 lần/ngày)
5 ngày tiếp theo: PPI (liều chuẩn, 2 lần/ngày), Clarithromycin (500mg, 2
lần/ngày), Tinidazole (500 mg, 2 lần/ngày).
* Phác đồ “cứu cánh”: được đề nghị khi sử dụng các phác đồ trên bị thất bại
- PPI (liều chuẩn, 2 lần/ngày), Bismuth (525 mg, 4 lần/ngày), Tetracycline
(500 mg, 4 lần/ngày), Furazolidone (200mg, 2 lần/ngày), điều trị trong 14 ngày.
- PPI (liều chuẩn, 2 lần/ngày), Amoxicillin (1000mg, 2 lần/ngày),
Levofloxacin (500mg, 4 lần/ngày), điều trị trong 14 ngày.
1.2. Y học cổ truyền
Trong YHCT không có bệnh danh VDDMT nhưng dựa vào biểu hiện lâm
sàng bệnh được mô tả trong các chứng Vị thống, Phúc thống, Vị quản thống,… của
YHCT. Nhưng trong đó hay nói tới nhiều nhất là chứng Vị quản thống [26], [27].
1.2.1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Theo sách Nội kinh, Vị quản thống là chỉ vùng thượng vị phát sinh ra đau
đớn. Bệnh liên quan trực tiếp đến ba tạng là Tỳ, Vị, Can [26].
Vị có chức năng thu nạp thủy cốc. Tỳ giúp Vị chuyển hóa đồ ăn thức uống,
biến tinh hoa của đồ ăn thức uống thành khí huyết đi nuôi dưỡng toàn thân, con
không đủ để vận hóa mà sinh ra chứng hư hàn [26].
19
19
1.2.1.2. Do ăn uống
Ăn uống không điều độ, lúc no, lúc đói, ăn nhiều đồ cay nóng hoặc chất
chua, ăn đồ sống lạnh quá nhiều làm tổn thương Tỳ Vị. Tỳ mất kiện vận, Vị mất
hòa giáng, khí cơ trở trệ, mạch lạc ứ trở mà gây ra đau bụng [26].
1.2.1.3. Thể chất hư nhược
Do bệnh tật lâu ngày làm cho Tỳ Vị hư, trung khí bất túc hoặc do làm việc
khó nhọc, vất vả hoặc do hàn thấp nội sinh là cho Tỳ Vị bị tổn thương mà gây bệnh.
Biểu hiện ra các chứng trạng: đau vùng thượng vị liên miên, âm ỉ, đau tăng khi gặp
lạnh, ăn kém, đầy bụng, khó tiêu, đi ngoài phân nát [26].
1.2.2. Phân loại thể bệnh theo Y học cổ truyền
Căn cứ vào chứng trạng, Vị quản thống được chia làm hai thể chính: Can khí
phạm vị và Tỳ Vị hư hàn [27].
1.2.2.1. Can khí phạm vị
- Do khí trệ: Đau vùng thượng vị, bụng đầy trướng, ợ hơi nhiều, ợ hơi được thì
đỡ đau. Rêu lưỡi trắng nhuận, chất lưỡi hồng, mạch huyền hoạt.
+ Pháp điều trị: Sơ can lý khí
+ Bài thuốc: Sài hồ sơ can thang
Sài hồ 12g, Xuyên khung 8g, Chỉ xác 8g, Hương phụ 8g, Bạch thược 12g,
Thanh bì 8g, Cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu đau nhiều thêm Khổ luyện tử 8g, Diên hồ sách 8g; ợ chua nhiều thêm Mai
mực 20g.
Nếu đau vùng thượng vị dữ dội có thể dùng bài Trầm hương giải khí tán (Trầm
hương 6g, Hương phụ 10g, Sa nhân 8g, Diên hồ sách 8g, Trích thảo 6g, Khổ luyện
tử 8g). Sắc uống, ngày 1 thang.
- Do hỏa uất: đau nóng rát thượng vị, ợ chua nhiều, miệng khô, miệng đắng, chất
lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
+ Pháp điều trị: Sơ can tiết nhiệt (thanh can hòa vị).
1.3. Tình hình nghiên cứu thuốc YHCT điều trị VDDMT ở Việt Nam
Trong nhiều năm qua đã có một số công trình nghiên cứu điều trị chứng
VDDMT bằng thuốc YHCT.
Năm 1987, nhóm tác giả Nguyễn Sỹ Lâm, Phạm Lan Thanh, Nguyễn Thị
Nhuần và cs nghiên cứu về bài thuốc Ô kim (Thương truật, hoài sơn, xuyên khung,
trần bì, cam thảo, sơn tra, hương phụ, ô tặc cốt, uất kim) cho thấy bài thuốc có tác
dụng hạ toan, giảm đau từ từ và tác dụng tốt đối với Vị quản thống thể Tỳ vị hư
hàn, thuốc không gây tác dụng phụ nào [29].
Năm 1994, Khoa YHCT trường Đại học Y Hà Nội nghiên cứu tác dụng của
viên VIFATA (thành phần: Cao tầm sa, cao trần bì, cao mộc hương, magie-
cacbonate, tinh dầu bạc hà) trong điều trị viêm dạ dày tá tràng cho thấy thuốc có tác
dụng giảm đau, giảm viêm tốt, thuốc không có tác dụng phụ nào, tác dụng tốt với vị
quản thống thể Can khí phạm vị [30]. Những nghiên cứu tiếp theo của Phạm Văn
Trịnh (1995) cho thấy viên VIFATA có tác dụng tốt trong cắt cơn đau do loét dạ
dày tá tràng, đạt tỷ lệ 82,5% [31].
Năm 1995, tác giả Vũ Nam nghiên cứu về Chè dây điều trị loét hành tá tràng
của, kết quả cho thấy: Chè dây làm liền sẹo ổ loét hành tá tràng 70,55%, tác dụng làm
sạch H.pylori là 42,5%, tác dụng tương đương ở cả hai thể bệnh của YHCT [32].
Năm 2001, Nguyễn Văn Toàn nghiên cứu thuốc BNC (gồm Betelvine,
Hoàng liên, Ngô thù, Bạch thược, Cam thảo) cho thấy tỷ lệ hết đau sau điều trị là
89,2%, tỷ lệ diệt H.pylori là 59,5%, giảm mức độ hoạt động của viêm trên giải phẫu
bệnh đạt loại tốt là 73%, tác dụng tương đương ở cả hai thể bệnh của YHCT, không
gặp tác dụng phụ nào trên lâm sàng [15].
Năm 2003, Nguyễn Văn Toại nghiên cứu tác dụng diệt khuẩn H.pylori của
Betelvine (hoạt chất toàn phần chiết từ lá trầu không) đã kết luận thuốc có tác dụng
ức chế tất cả các chủng H.pylori trên invitro, bước đầu thử nghiệm trên lâm sàng điều
trị VDDMT có H.pylori cho thấy thuốc có tác dụng cải thiện tốt các triệu chứng lâm
sàng, khi kết hợp Betelvine với Sucrategel khả năng diệt H.pylori đạt 59,5% [33].
22
22
hay hoa lưỡng tính, xung quanh là hoa cái nhỏ và
không có cuống.
Hình 4: Thổ kinh giới
Đường kính hoa khoảng 1mm, bao hoa có cánh hình bầu dục, hoa có năm
nhị nhưng có khi chỉ có ba hoặc hai, bầu hình bầu dục. Quả màu lục nhạt hay nâu
nhạt, hình cầu, đường kính khoảng 1,5mm, cùi mỏng, trong có chứa hạt đen và
bóng. Vị hắc đặc biệt. Thu hoạch vào tháng 5 – 6 [35], [36].
- Thành phần hóa học: Cây chứa tinh dầu. Tinh dầu thổ kinh giới là chất lỏng trong
màu vàng đến vàng cam, mùi khó chịu, vị đắng. Thành phần chính của tinh dầu này
là ascaridole (chiếm 60-80%) [35], [36].
- Tính vị quy kinh: cay, ôn; quy kinh tỳ [36].
- Công dụng chủ trị: khu phong, thông kinh, kiện vị, chỉ thống, sát trùng. Trị giun
đũa, giun móc, thống kinh, bế kinh, thấp chẩn, rắn và côn trùng cắn. Thuốc có độc,
không dùng cho phụ nữ có thai.
- Cách dùng và liều dùng: khô sắc 3-9g, dùng tươi 15-24g, tinh dầu làm hoàn:
người lớn từ 0,8-1,2 ml, trẻ em là 0,05ml [36].
24
24
1.4.2. Thủy đoàn hoa (水團花)
- Tên khác: Thủy dương mai, Kim kinh tử, Mãn sơn hương [37].
- Tên khoa học: Adina pilulifera (Lam.) Franch. ex Drake [37].
- Bộ phận dùng: cành, lá, hoa, quả
- Mô tả: cây bụi nhỏ, thường cao khoảng
2 - 5 m. Cành nhánh yếu. Lá mọc đối
xứng, mỏng, hình chữ nhật, hình bầu dục,
dài từ 4 - 12 cm, rộng 1,5 - 3 cm, than lá
rộng, đầu lá dài và thẳng; cuống lá rất
ngắn; lá bẹ tách đôi, dài 5 - 7 mm. Hoa
nhỏ hình cầu đường kính khoảng 2 cm;
cuống hoa dài 3 - 4,5 cm; nhụy hoa màu