đánh giá tác dụng của cao láng cm trong điều trị rong kinh cơ năng - Pdf 24

Đặt vấn đề
Kinh nguyệt là tấm gương phản ánh tình hình hoạt động nội tiết của
niêm mạc tử cung, đồng thời cũng là thước đo quá trình diễn biến hoạt động
sinh dục của người phụ nữ [Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found], [Error: Reference source not found].
Rong kinh do rất nhiều nguyên nhân gây nên và gặp ở nhiều lứa tuổi:
tuổi dậy thì, tuổi sinh đẻ và tuổi tiền mãn kinh. Rong kinh là hiện tượng ra
huyết từ tử cung có chu kỳ, kéo dài trên 7 ngày. Rong kinh cơ năng được xác
định khi đã loại trừ các nguyên nhân thực thể, tại chỗ hay toàn thân [32]. Nếu
như ở tuổi tiền mãn kinh là sự suy giảm chức phận của buồng trứng, thì ở tuổi
dậy thì đa số là do hoạt động ở vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng chưa
chín muồi dẫn đến các vong kinh khởi đầu thường không có hiện tượng
phóng noãn [Error: Reference source not found], [Error: Reference source not
found]. Tuổi sinh đẻ do sự kém hoạt động của hoàng thể và sự co bóp tử cung
kém [33].
Rong kinh cơ năng là biểu hiện của rối loạn kinh nguyệt thường gặp ở
thời kỳ hoạt động sinh dục của người phụ nữ. Theo Lương Thị Bích [Error:
Reference source not found], tỷ lệ này là 71%; theo Nguyễn Thị Minh Nguyệt
[Error: Reference source not found] là 80,7%; một nghiên cứu của Lampe
[29] rong kinh chiếm 70%.
Các nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ rong kinh theo lứa tuổi có sự khác
nhau. Nghiên cứu của Scomegna [32] rong kinh cơ năng ở lứa tuổi dậy thì
chiếm 20%, lứa tuổi sinh đẻ chiếm 30%, tuổi tiền mãn kinh chiếm 50%.
Nghiên cứu của Hứa Thanh Sơn [Error: Reference source not found] lứa tuổi
sinh đẻ gặp nhiều nhất chiếm 52,6%.
Ở Việt Nam, rong kinh cơ năng là bệnh lý hay gặp, điều trị gặp nhiều
1
khó khăn, tỷ lệ tái phát cao, gây ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ - sinh hoạt
hàng ngày của người phụ nữ. Đặc biệt với tuổi trẻ, nó ảnh hưởng đến chức
năng sinh sản sau này [Error: Reference source not found].
Y học hiện đại có nhiều phương pháp điều trị như: Dùng thuốc cầm

- Vùng dưới đồi (hypothalamus) là một cấu trúc não trung gian nằm
quanh não thất III và chính giữa hệ viền (limbic).
-Vùng dưới đồi có liên quan mật thiết với tuyến yên thông qua đường
mạch máu và thần kinh, đó là hệ thống cửa dưới đồi- tuyến yên (hệ cửa Popa-
3
Díi ®åi
TuyÕn yªn
Buång trøng
(+)
(-)
(-)(+)
(+)
LH
(+)
FSH
Gn RH
(+)
Fielding).
- Các noron thần kinh của vùng dưới đồi có khả năng dẫn truyền xung
động thần kinh và tổng hợp các hormone giải phóng (releasing hormone) và
các hormone ức chế (inhibilory hormone) để kích thích hoặc ức chế các tế bào
thùy trước tuyến yên.
- Các hormone giải phóng trong đó có hormone hướng sinh dục gọi tắt
là Gn-RH là kích thích tế bào thùy trước tuyến yên bài tiết FSH và LH.
- Gn-RH là hormone khởi nguồn cho cả hệ thống dưới đồi - tuyến yên -
buồng trứng. Nó đóng vai trò quan trọng trong mét chu kỳ kinh nguyệt và ảnh
hưởng đến cả quãng đời hoạt động sinh dục của người phụ nữ [Error:
Reference source not found], [Error: Reference source not found], [27].
• Tuyến yên
Tuyến yên là một tuyến nhỏ nằm trong hố yên của xương bướm nằm ở

thay đổi theo các giai đoạn khác nhau của mỗi chu kỳ kinh nguyệt. Có mối
liên quan chặt chẽ giữa tuyến yên- buồng trứng và niêm mạc tử cung ở từng
giai đoạn. Mỗi liên quan này được thể hiện bằng sự chỉ huy của các tuyến nội
tiết trung ương đến các tuyến đích ngoại biên, rồi đến mô đích (niêm mạc tử
cung) và có tác dụng điều hòa ngược từ các tuyến ngoại biên đến tuyến trung
ương. Do vậy rối loạn hoạt động của trục dưới đồi- tuyến yên- buồng trứng sẽ
dẫn đến rối loạn kinh nguyệt [Error: Reference source not found].
Niêm mạc tử cung được cấu tạo bởi hai líp:
+ Lớp biểu mô đơn phủ nội mạc tử cung là một lớp biểu mô trụ, trên
mỗi tế bào có hệ thống nhung mao xen kẽ các tế bào trung gian- đây là lớp
luôn thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt và các lứa tuổi. Lớp này nông có khả
năng bong rụng và tái tạo.
5
+ Lớp sâu hay lớp đệm: không thay đổi trong vòng kinh. Lớp này chứa
nhiều tuyến của niêm mạc tử cung, có nhiều lympho bào và nhiều mạch máu
[1], [Error: Reference source not found], [27].
1.1.1.3. Sinh lý của một chu kỳ kinh nguyệt [Error: Reference source not
found], [Error: Reference source not found], [Error: Reference
source not found], [31], [Error: Reference source not found].
Kinh nguyệt là hiện tượng chảy máu có chu kỳ do bong có tính chất
chu kỳ và bong dần từng phần niêm mạc tử cung, do tác dụng có tính chất chu
kỳ của hormon theo trục dưới đồi -tuyến yên -buồng trứng.
Lượng kinh trung bình từ 40 - 80 ml, Ýt nhất 10 ml và nhiều nhất là
100 ml. Nhiều nhất vào những ngày giữa của chu kỳ kinh. Kinh ra trong
khoảng 4-5 ngày (2-6 ngày) đối với vòng kinh 28 ngày. Lượng máu kinh
khác nhau tuỳ theo nòi giống, nghề nghiệp, chế độ dinh dưỡng, thực phẩm
nhưng dường như không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác.
Đặc điểm của máu kinh là máu không đông do có tác dụng tiêu fibrin ở
buồng tử cung.
Những điều kiện cần thiết để có vòng kinh bình thường:

lại Ýt tế bào biểu mô nằm tại đái các tuyến. Dưới tác dụng của estrogen các tế
bào của biểu mô đệm và tế bào biểu mô tuyến tăng sinh ,hồi phục nhanh
chóng chỉ trong vòng 4-7 ngày. Niêm mạc dầy dần các tuyến dài ra, mạch
máu phát triển. Đến cuối giai đoạn niêm mạc tử cung dày 3-4 cm. Các tuyến
thực sự chưa chế tiết ngoài lớp chất nhầy kéo thành sợi ở cổ tử cung.
+ Hiện tượng phóng noãn.
Cuối giai đoạn tăng sinh, nồng độ estrogen tăng cao gây ra tác dụng
7
điều hòa ngược dương tính với tuyến yên, làm tăng cả FSH và LH . Dưới tác
dụng của FSH và LH các tế bào hạt và tế bào lớp áo trong tăng sinh mạnh,
đồng thời bài tiết estrogen, do vậy càng làm tăng kích thước nang . Làm nang
noãn trưởng thành và thực sự chín .
Khoảng hai ngày trước phóng noãn LH tăng cao đột ngột, tăng lên 6-
10 lần và đạt đỉnh cao nhất vào thời điểm 16 giờ trước khi phóng noãn: lên tới
44,12-59,6 UI/l. FSH cũng tăng cao gấp 2-3 lần, lên tới 8,87-11,43 UI/l. Sự
xuất hiện đỉnh cao LH và FSH quyết định hiện tượng phóng noãn xẩy ra vào
ngày thứ 13-14 của vòng kinh. Trên lâm sàng người ta có thể phát hiện ra
vòng kinh không phóng noãn bằng cách đo nồng độ LH, sinh thiết niêm mạc
tử cung, định lượng progesteron.
• Giai đoạn chế tiết (giai đoạn progesteron).
+ Bài tiết hormone và biến đổi ở buồng trứng:
Sau khi phóng noãn, tuyến yên tiếp tục bài tiết FSH và LH. Dưới tác
dụng của LH mét Ýt tế bào hạt còn lại của vỏ nang trứng vỡ, được biến đổi
thành hoàng thể. Hoàng thể thường tồn tại 14 ngày (nếu không có thụ tinh xảy
ra). Hoàng thể tồn tại dưới tác dụng duy trì của LH và bài tiết một lượng lớn
progesteron và estrogen. Sau 7-8 ngày phóng noãn hoàng thể phát triển đầy
đủ nhất, đạt đường kính xấp xỉ 1,5 cm sau đó thoái triển dần (nếu thụ tinh
không xảy ra).
+ Biến đổi niêm mạc tử cung:
Trong giai đoạn này estrogen vẫn có tác dụng làm tăng sinh lớp niêm

• Cơ chế chảy máu kinh nguyệt:
- Ban đầu nhiều tác giả cho rằng, kinh nguyệt xảy ra do tụt progesteron.
Schroder - Vartin (1928) [Error: Reference source not found] thấy kinh
9
nguyệt xẩy ra khi có thoái triển hoàng thể và đã chứng minh sau khi cắt hoàng
thể của người phụ nữ mổ lệch tử cung, thấy kinh nguyệt xuất hiện sau 24 giờ.
Nhưng giả thuyết nhanh chóng bị bác bỏ.
- Sự tụt estrogen đơn độc cũng gây chảy máu kinh nguyệt, sự vỡ tiểu
động mạch xoắn ở lớp nông nội mạc tử cung khi tụt estrogen. Theo công trình
nghiên cứu của Markee (1940) ghép nội mạc tử cung vào tiền phòng mắt khỉ
cái, rót ra kết luận: estrogen làm phát triển các động mạch xoắn ốc lớp nông
nội mạc tử cung. Khi estrogen tụt, các tiểu động mạch giãn cực độ dẫn đến vỡ
mạch máu và chảy máu kinh nguyệt. Giả thuyết trên phù hợp với vòng kinh
không phóng noãn [Error: Reference source not found].
- Sự tụt estrogen và progesteron gây ra vòng kinh có phóng noãn.
- Sự vì xoang động tĩnh mạch: Theo nghiên cứu của Schelegel, vào
cuối vòng kinh, khi có tác dụng kết hợp của estrogen với progesteron xuất
hiện những xoang nối tiếp (shunt) tiểu động mạch - tĩnh mạch. Khi estrogen
và progesteron tụt thì máu dồn từ tiểu động mạch sang tĩnh mạch làm phình
rồi vỡ xoang, gây chảy máu. Máu kinh có tác dụng hiệp đồng của estrogen và
progesteron là máu pha trộn máu động mạch và máu tĩnh mạch nên có mầu đỏ
thẫm [Error: Reference source not found], [Error: Reference source not
found], [Error: Reference source not found], [Error: Reference source not
found].
- Hoại tử nội mạc tử cung : Sự tụt đột ngột của progesteron dẫn đến giải
phóng các enzym phân ly protein (proteolytique) gây ra co động mạch. Các
mạch máu bị co thắt gây thiếu máu và hoại tử niêm mạc tử cung, dẫn đến
bong rụng nội mạc tử cung [2], [Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found].
• Cơ chế cầm máu trong kinh nguyệt :

Gn-RH không đủ để tuyến yên sản xuất ra LH thấp hoặc cả hai, nên không
duy trì được hoàng thể 14 ngày, bình thường sự giảm đáng kể của progesteron
đã gây chảy máu Ýt một, trước ngày hành kinh 2-3 ngày, khi hành kinh huyết
ra nhiều và kéo dài. Sự kéo dài của hoàng thể sản xuất ra progesteron một
cách dai dẳng có thể gây rong kinh do hiện tượng bong không đồng đều của
niêm mạc tử cung [Error: Reference source not found], [33].
Thời kỳ tiền mãn kinh do các nang noãn kém nhạy cảm với hormone
tuyến yên, nang noãn không chín và không phóng noãn, tạo vòng kinh một
thì, chỉ có giai đoạn tăng sinh do thiếu progesteron [Error: Reference source
not found], [Error: Reference source not found], [29].
1.1.2.2. Những thay đổi về tổ chức học của niêm mạc tử cung
Quá sản niêm mạc tử cung: gặp chủ yếu ở tuổi dậy thì và tuổi tiền mãn
kinh, do sự tồn tại nang noãn chế tiết estrogen kéo dài, tá dụng lên niêm mạc
tử cung làm niêm mạc tử cung quá sản, các tuyến quá sản thành nang, nhưng
không chế tiết vì không có progesteron.
Sù trưởng thành không đồng đều của niêm mạc tử cung: Theo
Menlennan sự phát triển của niêm mạc tử cung không đồng đều chủ yếu xẩy
ra ở pha chế tiết. Sự bong rụng không đồng đều của niêm mạc tử cung dẫn
đến rong kinh kéo dài [30].
1.1.2.3. Thiếu yếu tố đông máu
Theo Scommegna trong thời gian kinh nguyệt, một sự hoạt hóa mạnh
của hệ thống tiền fibrin đã xẩy ra ở trong tử cung, do có sự phân hủy fibrin
hay fibrinnogen (FDP) trong máu kinh. Sự tăng bất thường gây cản trở quá
trình đông máu, để bít các đầu động mạch xoắn lại, có thể gây chảy máu kéo
dài [32].
12
1.1.3. Chẩn đoán rong kinh cơ năng
1.1.3.1. Chẩn đoán rong kinh cơ năng
Bệnh nhân được gọi là rong kinh khi kinh nguyệt ra theo chu kỳ
nhưng kéo dài trên 7 ngày. Lượng huyết có thể nhiều, trung bình hoặc Ýt hơn

cung không hoàn toàn, niêm mạc dày và không vững bền gây rong kinh và
quá sản niêm mạc tử cung.
Biểu hiện lâm sàng: kinh nguyệt kéo dài, thường là ra huyết tươi, kèm
theo hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ [Error: Reference source not found]
1.1.3.2. Chẩn đoán phân biệt
Rong kinh nguyên nhân đa dạng, từ bệnh toàn thân ( rối loạn đông
máu), đến bệnh nội tiết (hormone), nguyên nhân trung ương do trục dưới đồi-
tuyến yên-buồng trứng, gây rối loạn phóng noãn, thiểu năng hoàng thể và
nguyên nhân tại chỗ do thay đổi cấu trúc, chức năng niêm mạc tử cung.
Tham khảo bảng phân loại các nguyên nhân của Povey đÓ loại trừ các
nguyên nhân thực thể [31].
• Nguyên nhân tại chỗ:
- Thai nghén và những biến chứng của thai nghén (sảy thai, chửa ngoài
tử cung, bệnh tế bào nuôi).
- Viêm nhiễm (viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm vòi trứng,
lao sinh dục).
- Các khối u (polip cổ tử cung, u xơ tử cung, u xơ cổ tử cung, ung thư
niêm mạc tử cung, u tế bào hạt buồng trứng).
- Dị vật ( dụng cụ tránh thai nằm trong buồng tử cung ).
14
• Nguyên nhân bệnh toàn thân:
- Các bệnh về máu ( bệnh bạch cầu, bệnh ưa chảy máu, xuất huyết giảm
tiểu cầu).
- Các rối loạn về dinh dưỡng (dinh dưỡng kém, thiếu sắt, béo bệu).
- Các bệnh về tim.
- Các bệnh về gan.
1.1.3.3. Một số xét nghiệm cận lâm sàng
- HCG
- Siêu âm
- CTM: số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu.

Điều trị bằng progesteron liều cao, nhằm biến niêm mạc tử cung sang
giai đoạn chế tiết và khi ngừng thuốc một thời gian, chảy máu tử cung xảy ra
do bong hoàn toàn niêm mạc tử cung, do đó còn gọi là phương pháp “ nạo tử
cung bằng thuốc”.
Theo Nguyễn Thị Xiêm điều trị rong kinh tuổi trẻ bằng progesteron
20mg/ngày cầm máu 16/18 trường hợp.
Theo Nguyễn Khắc Liêu rong kinh do thiếu estrogen thì progesteron
không tác dụng. Ngoài ra đã tiêm 5 ngày không cầm được máu kinh thì
chuyển phương pháp dùng estrogen hoặc estrogen với progesteron.
Điều trị bằng estrogen phối hợp với progesteron.
Đây là phương pháp hiện nay dùng, dưới dạng viên tránh thai hoặc tiêm
estrogen với progesteron.
Garrey cho rằng dùng estrogen và progesteron phối hợp là phương
pháp tốt nhất đối với chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng.
Theo Nguyễn Khắc Liêu nên chủ động phối hợp ngay từ đầu.
16
Theo Nguyễn Việt Tiến và Lê Thị Thanh Vân điều trị rong kinh tuổi trẻ
bằng estradiol và progesteron tiêm kết quả cầm máu trong 3 ngày 75/79
trường hợp chiếm tỷ lệ 94,9%.
Cụ thể: progesteron 25mg kết hợp với 2,5mg hoặc 5mg
benzogynoestryl (estradiolbennat) thường cầm máu sau 3 ngày. Nếu tiêm
với liều 10mg estradion và 50mg progesteron trong một ngày, sau ngừng tiêm
có thể chuyển sang uống viên tránh thai kết hợp. Nếu tiêm 5mg
benzogynoestryl thì cho uống tiếp 3 viên tránh thai. Nếu tiêm 2,5mg
benzogynoestryl thì cho uống 2 viên x7 ngày, rồi giảm liều xuống 1 viên/ngày
trong 14 ngày tiếp theo, để tránh tình trạng tụt hormone đột ngột gây băng
kinh.
• Điều trị bằng androgen
Hormone thường dùng là testosteron: nó có tác dụng ức chế hoạt động
của vùng dưới đồi- tuyến yên, từ đó estrogen của buồng trứng giảm. Hiện nay

của toàn thân, mạch xung thuộc kinh dương minh là bể của huyết, cho nên
cốc khí thịnh, mà bể của huyết đầy là kinh nguyệt đến kỳ mà ra[Error:
Reference source not found], [Error: Reference source not found].
Cơ chế sinh ra kinh nguyệt là do hiện tượng sinh lý của kinh mạch,
tạng phủ, khí huyết tác dụng lên tử cung. Thành phần chủ yếu của kinh
nguyệt là huyết. Huyết thì do tạng phủ biến hóa mà ra, thông qua hệ kinh
mạch mới có thể đưa tới bào cung rồi sinh ra kinh nguyệt. Kinh nguyệt bình
thường hay không bình thường là ảnh hưởng trực tiếp tới sự thịnh suy của
kinh mạch.
Quá trình vận hành của huyết đều có sự điều tiết của khí, đồng thời khí
lại cần vào sự dinh dưỡng của huyết. Vì thế sinh ra kinh nguyệt, khí huyết
18
chẳng những là vật chất cơ bản mà còn có mối quan hệ mật thiết tương hỗ với
nhau. Khí huyết lại là nguồn gốc của tạng phủ. Trong tạng phủ thì Tâm chủ
huyết, Can chứa huyết, Tỳ thống nhiếp huyết, Vị chủ nạp nấu chín thủy cốc
cùng với Tỳ là nguồn gốc của mọi hóa sinh. Thận tàng tinh, tinh lại là cơ bản
của khí huyết sinh thành. Phế chủ khí, khí của toàn thân có tác dụng thúc đẩy
vận chuyển chất tinh vi. Khi ngũ tạng điều hòa khí huyết lưu thông thì huyết
hải tràn đầy, kinh nguyệt ra đúng kỳ. Như vậy cơ chế sinh ra kinh nguyệt liên
quan mật thiết với tạng Thận, Can, Tú [Error: Reference source not found],
[Error: Reference source not found], [Error: Reference source not found].
Thận là gốc của tiên thiên, cội nguồn của nguyên khí chủ về tàng tinh,
tinh sinh khí. Người con gaisau khi đã trưởng thành thì thận khí điều hòa,
cung cấp đủ nguyên khí cho các tạng phủ. Chân âm trong thận bắt đầu thành
thục, nhờ đó mà nguyên khí đến, hai mạch Xung Nhâm thuận lợi mà có kinh
nguyệt hàng tháng.
Can có chức năng tàng huyết chủ điều tiết và thích điều đạt. Vì vậy
tạng Can góp phần rất quan trọng trong việc điều hòa chu kỳ kinh nguyệt.
Tú sinh huyết và thống nhiếp huyết, Tỳ chủ vận hóa thủy cốc, sau đó
các chất tinh vi được đưa lên Phế (màu trắng) rồi qua Tâm (màu đỏ) để biến

• Huyết nhiệt:
Do tâm hỏa vượng lên làm động tướng hỏa, nhiễu động huyết hải, hoặc
ăn đồ cay nóng quá nhiều làm nhiệt động ở bên trong. Nhiệt thôI thúc huyết
gây “vọng hành” chảy xuống dưới nên “Y học chánh án” nói rằng: “dương
thắng âm thì kinh nguyệt nhiều”. Biểu hiện lâm sàng: thấy kinh trước kỳ,
lượng kinh nhiều kéo dài, màu đỏ tươi, nhầy, mùi tanh hôi. Sắc mặt đỏ hồng,
20
môi đỏ, người buồn bực, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng,
mạch hoạt sác.
• Huyết ứ:
Khi hành kinh huyết xấu ngăn trở ở bên trong làm cho huyết ứ lại,
huyết mới sinh ra không làm đầy huyết hải được, gây ra rong kinh. Biểu hiện
lâm sàng: Kinh thường ra sau kỳ, lượng Ýt kéo dài, máu tím đen có cục, bụng
dưới chướng,ấn đau (cự án). Khi huyết cục ra được thì bớt đau. Ngực bụng
chướng đầy, đại tiện táo bón, tiểu tiện ngắn vàng, lưỡi đỏ tía, mạch trầm sác.
1.2.2.2. Thể hư (Tỳ hư, Thận hư, khí huyết hư) [Error: Reference source
not found], [Error: Reference source not found].
Cơ chế chảy máu rong kinh khi cơ thể ở trạng thái hư thường là hư sau: “
băng lậu là do tạng phủ hư nhược, khí huyết thất điều và Xung Nhâm bất cố.
Can tàng huyết, Tỳ thống nhiếp huyết, do đó nếu Can không tàng huyết, Tỳ
không nhiếp được huyết thì băng lậu. Thận tàng tinh là gốc sinh kinh nguyệt,
là nguồn khí huyết của hai mạch Xung Nhâm, Thận hư làm Xung Nhâm bất
cố, kinh nguyệt không được chế ước nên băng lậu. Ở tuổi dậy thì băng lậu
thường do thận khí mới sinh, công năng của Xung Nhâm chưa vẹn toàn, ở
tuổi mãn kinh lại do thận khí suy dần, Xung Nhâm hư suy, ở tuổi phát dục
sinh đẻ lại do đẻ nhiều hoặc phòng dục quá độ làm hao tổn thận tinh”. Vì vậy
ở trạng thái hư có các thể bệnh sau:
• Băng lậu do Tỳ hư: (suy nghĩ quá độ, ăn uống lao lực mệt mỏi làm tổn
thương tỳ, dẫn đến Tỳ không nhiếp huyết, Xung Nhâm mất sự vững chắc
thành băng lậu),phép chữa: kiện tỳ- Ých khí- cố băng.

điều trị rong kinh cơ năng. Các huyệt chính: Quan nguyên, Khí hải, Bách hội,
Tam âm giao, È bạch.
+ Nếu thực nhiệt : Châm thêm huyệt Thủy tuyền
22
+ Nếu âm hư : Châm thêm huyệt Nội quan, Thái khê
+ Nếu Tỳ khí hư : Châm thêm huyệt Tỳ du, Tóc tam lý
+ Chảy máu nhiều : Cứu huyệt Khí hải, Bách hội
+ Nhĩ châm : Vùng nội tiết, Tử cung
1.2.4. Tổng quan về bài thuốc “Cầm máu (CM)”
Bài thuốc cầm máu dựa trên cơ sở của bài “Bổ trung Ých khí thang” là
bài thuốc cổ phương trích trong (Tỳ vị luận) của Lý Đông Viên. Đây là bài
thuốc chữa các chứng bệnh nguyên nhân gây ra do Tỳ hư như: Rong kinh,
rong huyết, các chứng sa. Trên lâm sàng chúng tôi thấy khi gia thêm 3 vị: Bồ
hoàng sao đen, Ngải diệp sao đen, Cỏ nhọ nồi sao đen, có tác dụng tốt hơn
trong điều trị rong kinh cơ năng với thể tỳ hư, khí huyết hư.
1.2.4.1. Thành phần và liều lượng của bài thuốc [Error: Reference source
not found], [Error: Reference source not found], [Error: Reference
source not found].
1. Hoàng kỳ 20g 7. Sài hồ (bắc) 12g
2. Thăng ma 20g 8. Ngải diệp 12g
3. Bạch truật 12g 9. Trần bì 08g
4. Đương qui 12g 10. Cỏ nhọ nồi (Sao đen) 12g
5. Đảng sâm 12g 11. Bồ hoàng (Sao đen) 12g
6. Cam thảo 04g 12.Trắc bách diệp (Sao đen) 12g
1.2.4.2. Đặc điểm nguyên liệu của bài thuốc [Error: Reference source not
found], [Error: Reference source not found],[Error: Reference
source not found], [Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found].
Bảng 2.1. Đặc điểm nguyên liệu của bài thuốc
Tên nguyên liệu Bộ phận dùng Tính vị qui kinh Tác dông

(Glycyrrhira
Uralensis)
Rễ phơi khô
hoặc sấy khô
vị ngọt dịu, tính
bình, qui 12 kinh
Bổ trung khí, hòa tỳ
vị, hòa hoãn cơn
đau, giải độc
Đương qui
(Angelica
Sinensis)
Rễ phơi khô
hoặc sấy khô
vị ngọt, tính ôn,
vào kinh tâm,
can, tú
Bổ huyết, điều kinh,
nhuận táo, thông
kinh
Trần bì (Citrus
Deliciosa
Rutacese)
Vá quýt phơi
âm can càng
lâu càng tốt
Cay, đắng, tính
ôn, vào kinh tỳ,
phế
Kiện tú, lý khí, hóa

Vulgaris)
Lá phơi khô
âm can sao đen
vị đắng, tính Êm,
vào kinh can, tỳ,
thận
Ôn kinh, trừ hàn, an
thai
Cỏ nhọ nồi (Ecli
Pta Alpa)
Cả cây sao đen vị ngọt, chua,
tính mát, vào
kinh can, thận
Bổ can thận, cầm
máu
Bồ hoàng
(Typhao
Rientalis)
Hoa phơi khô,
sao đen
vị cay, tính Êm,
vào kinh tâm,
can
Hành huyết, chỉ
huyết
Trắc bách diệp
(Biota orientalis)
Lá phơi khô,
sao đen
Vị đắng, sáp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status