Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014 10
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG AN THẦN GÂY NGỦ
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VÕNG MẠC TRẺ ĐẺ NON BẰNG LASER
NGUYỄN VĂN HUY, VŨ THỊ BÍCH THỦY,
TRẦN THU HÀ, PHẠM MINH CHÂU
Bệnh viện Mắt Trung ương
NGUYỄN THỊ HÀ - Bệnh viện Xanh Pụn
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tác dụng an thần gây ngủ
trong điều trị bệnh võng mạc trẻ đẻ non (BVMTĐN)
bằng laser. Đối tượng: 52 bệnh nhân (BN) với 104
mắt có bệnh, có chỉ định điều trị laser tại khoa sơ sinh
Bệnh viện phụ sản TW từ 6/2009 đến 7/2010. Nghiên
cứu thử nghiệm lâm sàng. Kết quả: Morphin sử dụng
một lần duy nhất ở 100% BN, Midazolam phải dùng
lần hai ở 17,31% BN. Liều dùng trung bình lần thứ
nhất của hai thuốc là 0,064mg ± 0,013 (0,04mg đến
0,085mg) và lần thứ hai với Midazolam là 0,119mg ±
0,024. Thời gian trung bình từ khi dùng an gây ngủ
đến khi tiến hành laser là 20 phút, thời gian laser một
BN trung bình là 52,78 phút ± 29,84. Thời gian hồi
tỉnh trung bình là 8 giờ. 86,54% BN đạt kết quả tốt.
Phương pháp này có thể tiến hành laser sớm, không
time for recovering consciousness was 8 hours.
86.54% of eyes get good results. With preanesthesia
technique laser can be done at neonatal department,
avoiding transfer patients to others hospital. Laser
can be done on time, no need to postpone, even with
infants having systemic diseases. Complication is
rare and mild. No infant need converting to general
anesthesia, 23.08% need oxygen supplementing and
mechanic ventilation. Conclusion: Combination of
morphine and midazolam can be replaced for general
anesthesia in laser treatment of ROP. Good result
was 86.54%. This method shortens treatment time,
required less human resources, equipment and cost.
Complication is rare and mild.
Keywords: Preanesthesia.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh võng mạc trẻ đẻ non là tình trạng bệnh lý
của quá trình phát triển mạch máu ở võng mạc. Hiện
nay ở nước ta có hàng trăm trẻ đẻ non cần điều trị
sớm và cần có phương pháp vô cảm đa dạng để có
thể tiến hành phù hợp cho mọi trẻ. Trước đây đã có
nhiều phương pháp vô cảm như gây mê nội khí
quản, giảm đau an thần gây ngủ, uống thuốc an thần
kết hợp gây tê tại chỗ hoặc gây tê dưới bao tenon.
Điều trị BVMTĐN bằng laser ở nước ta từ trước tới
nay chỉ được tiến hành khi gây mê nội khí quản tại
các trung tâm gây mê hồi sức lớn, đòi hỏi nhiều trang
thiết bị máy móc hỗ trợ. Để khắc phục một số nhược
điểm của phương pháp này, gần đây đã tiến hành sử
dụng thuốc an thần gây ngủ thay cho gây mê để điều
1ml/1mg) pha với 10ml dung dịch NaCl 0,9%) tiêm
TM hoặc truyền TM chậm, liều tối đa 0,15mg/kg.
Morphin: Liều 0,05/kg, tiêm bắp. Liều tối đa
0,2mg/kg.
Đặt máy monitoring theo dõi nhịp thở, nhịp tim.
Đánh giá các chỉ số sinh tồn trong thời gian tiến hành
lasers: nhiệt độ, mạch, nhịp thở, SaPO
2
.
Đánh giá liều dùng trung bình của từng thuốc, thời
gian từ khi gây mê đến khi tiến hành laser, thời gian
laser và thời gian hồi tỉnh. Đánh giá tình trạng mắt và
toàn thân trong quá trình laser. Phát hiện và xử lý các
biến chứng: ngừng thở, tím tái, nhịp chậm.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. Đánh giá việc sử dụng thuốc an thần gây
ngủ trong điều trị BVMTĐN bằng laser
Liên quan giữa đặc điểm BN với việc sử dụng
thuốc an thần gây ngủ:
Chúng tôi thấy phương pháp an thần gây ngủ áp
dụng được ở 100% trẻ có chỉ định điều trị laser mặc
dù đối tượng của chúng tôi có một số đặc điểm riêng
biệt như sau:
* Cân nặng khi sinh: cân nặng trung bình khi sinh
của nhóm BN nghiên cứu là 1307,84 ± 268,39gram.
BN có cân nặng khi sinh thấp nhất là 800gram, cao
nhất là 1800gram.
* Tuổi thai khi sinh: BN có tuổi thai khi sinh ít nhất
là 26 tuần và nhiều nhất là 34 tuần, chủ yếu là 28 đến
32 tuần (86.54%). Tuổi thai trung bình khi sinh là 30,2
yên hoàn toàn, mắt yên.
Bảng 2. Liều sử dụng Midazolam
Midazolam
Liều trung
bình (mg)
Liều thấp
nhất (mg)
Liều cao nhất
(mg)
Lần 1 0,064 ± 0,013 0,04 0,085
Lần 2 0,119 ± 0,024 0,08 0,17
Theo các nghiên cứu, nếu chỉ sử dụng Morphin
đơn thuần thì cần phải sử dụng thuốc liên tục 6 giờ
trước khi laser và tăng liều bổ sung trong lúc laser.
Chính vì vậy BN sẽ phải chịu đựng một tổng liều
Morphin lớn như Caitriona K và Glass P.S. đã báo
cáo 57,4% số BN có thay đổi nhịp tim và rối loạn hô
hấp, độ bão hòa oxy giảm [3], [4]. Trong khi đó ở
nghiên cứu này chúng tôi chỉ sử dụng Morphin một
lần phối hợp với Midazolam đã làm tăng tác dụng an
thần gây ngủ nên thời gian từ lúc tiêm đến lúc điều trị
rất ngắn chỉ khoảng 15 phút nên tỷ lệ BN bị rối loạn
về nhịp tim, hô hấp và độ bão hòa oxy thấp hơn
nhiều (36,5%).
2. Đánh giá hiệu quả của phương pháp an
thần gây ngủ
Thời gian: Từ khi an thần gây ngủ đến khi tiến
hành Laser trung bình là 20 phút, ít nhất là 15 phút,
dài nhất là 30 phút. Thời gian laser cho một BN trung
* Tại mắt: 100% số mắt trong quá trình an thần
gây ngủ yên hoàn toàn, không gây khó khăn gì về
phẫu trường và tư thế. Trong nghiên cứu này chúng
tôi ghi nhận được một số biến chứng do laser mà
không phải do an thần gây ngủ và đây cũng có thể là
ưu điểm của phương pháp vô cảm này. Biến chứng
trong quá trình điều trị laser gặp nhiều nhất là phù
giác mạc 20 mắt (19,24%), xuất huyết dịch kính võng
mạc gặp ở 5 mắt (4,81%), không có trường hợp nào
xuất huyết tiền phòng.
Y học thực hành (902) - số 1/2014 12
Bng 3. Bin chng ti mt
Bin chng (%)
Tỏc gi
M c
giỏc mc
Xut huyt
vừng mc
Xut huyt
tin phũng
Kieselbach [5]
S dng Morphin kt hp vi Midazolam cú th
thay th hon ton gõy mờ ton thõn trong iu tr
BVMTN bng laser. Kt qu tt t c 86,54%
BN. Phng phỏp ny rỳt ngn thi gian iu tr, yờu
cu ớt v nhõn lc, trang thit b v chi phớ. T l bin
chng nh v ớt gp.
TI LIU THAM KHO
1. Phan Hng Mai (2006), ỏnh giỏ kt qu iu
tr bnh lý VM tr non bng laser quang ụng
trờn hỡnh nh soi ỏy mt giỏn tip, Lun ỏn bỏc s
chuyờn khoa cp II, Trng H Y Dc TP.HCM.
2. Nguyn Xuõn Tnh (2007), Nghiờn cu c
im tn thng BVMTN v bc u ng dng
laser trong iu tr, Lun ỏn Tin s, Trng H Y
HN.
3. Caitriona K., OKeefe M., Prendergast M.,
Twomey A., Murphy J. (2007), Morphine analgesia
as an alternative to general anaesthesia during laser
treatment of retinopathy of prematurity, Acta
Ophthalmol Scand 85, pp. 644 647
4. Glass P.S., Bloom M., Kearse L., Rosow C.,
Manberg P., Sebal P. (1997), Bispectral analysis
measures sedation and memory effects of propofol,
midazolam, isoflurane and alfentanil in healthy
volunteers, Anasthesiology 86 (4), pp. 836 847.
5. Kieselbach G.F., Ramharter A., Baldissera I.,
Kralinger M.T. (2006), Laser photocoagulation for
retinopathy of prematurity: Structural and functional
outcome , Am Ophthalmol 84, pp. 21 26.
SUMMARY
SURVEY OF NUTRITION KNOWLEDGE AND A
NUMBER OF RELATED FACTORS OF CIRRHOSIS
PATIENT INTERNAL MEDICINE IN DIGESTIVE
HOSPITAL CENTRAL CAN THO
Nguyen Thanh Liem, Ha Xuan Mai
Background: Nutrition is an important factor in
cirrhosis care and treatment. Finding the ratio of
patients having a good nutrition care and concerning
factors with practicing nutrition will rise the quality of
cirrhosis care and treatment.
Objectives: A cross sectional study was applied
to conduct among 80 patients were treated at faculty
of digestion in general central Can Tho hospital.
Result: the cirrhosis patient having good nutrition
knowledge is 55%. Address, Education level
concerning with practicing nutrition have statistics p <
0,05. The cirrhosis patients result of Hepatitis C and
have hospitalization more than 5 times have more
nutrition knowledge. The instruction before playing
an important role for the patients (OR = 2.6; p= 0.038)
Conclusion: The number of patients has good
nutrition knowledge is small, medical staff should rise the
knowledge of nutrition for the people, enhance the
important role of using vegetable protein and starch foods