BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
MAI THỊ HUẾ
THĂM DÒ ĐỘC TÍNH CẤP VÀ
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG AN THẦN
THỰC NGHIỆM CỦA BÀI THUỐC
AN THẦN HOÀN SỬ DỤNG TẠI
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
HẢI DƢƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI – 2014 BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI MAI THỊ HUẾ
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu nhà trường,
các phòng ban, các Bộ môn trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình dạy dỗ, giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập của em tại trường.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị kĩ thuật viên của bộ môn Dược lực
đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình tiến hành thực nghiệm.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình
và bạn bè đã luôn ủng hộ và tạo động viên lớn cho em trong quá trình hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Mai Thị Huế
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Mất ngủ 3
1.1.1. Khái niệm mất ngủ 3
1.1.2. Dịch tễ học mất ngủ 3
1.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ 3
1.1.4. Ảnh hưởng của mất ngủ đến cuộc sống và sức khỏe 4
1.2. Điều trị mất ngủ theo y học hiện đại 5
1.2.1. Phương pháp điều trị hành vi nhận thức 5
1.2.2. Các thuốc dùng trong điều trị mất ngủ 6
1.3. Dược liệu trong điều trị mất ngủ 7
1.4. Điều trị mất ngủ theo Y học cổ truyền 9
1.4.1. Khái niệm mất ngủ theo Y học cổ truyền 9
3.1.2. Đánh giá tác dụng an thần của bài thuốc An thần hoàn 29
3.1.2.1. Tác dụng giãn cơ 29
3.1.2.2. Tác dụng đối kháng co giật gây ra bởi strychnin 30
3.1.2.3. Tác dụng giải lo âu 31
3.1.2.4. Tác dụng an thần 33
3.1.3. Đánh giá tác dụng an thần của các thành phần trong bài thuốc An
thần hoàn…… 34
3.1.3.1. Tác dụng giãn cơ 34
3.1.3.2. Tác dụng giải lo âu 35
3.1.3.3. Tác dụng an thần 37
3.2. Bàn luận 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2X bình vôi
Bình vôi liều 2X
2X còn lại
Phần dược liệu còn lại liều 2X
4X bình vôi
Bình vôi liều 4X
4X còn lại
Phần dược liệu còn lại liều 4X
ATH
An thần hoàn
ATH X (2X, 4X, 8X)
Kết quả đánh giá độc tính cấp của bài thuốc ATH
29
3.3
Tác dụng của ATH trong thí nghiệm leo dây
30
3.4
Tác dụng của ATH lên co giật gây ra bởi strychnin
31
3.5
Tác dụng của diazepam, bình vôi, phần dược liệu còn lại liều
2X, 4X lên khả năng bám giữ của chuột trong thí nghiệm leo
dây
35
3.6
Tác dụng của diazepam, bình vôi, phần dược liệu còn lại lên
thời gian lưu lại trong tay hở và trong tay kín của chuột
36 DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
2.1
Dụng cụ thí nghiệm mô hình leo dây
24
2.2
Dụng cụ thí nghiệm mô hình chữ thập nâng cao
25
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất ngủ là rối loạn giấc ngủ thường gặp nhất trong một vùng dân cư, được định
nghĩa là rối loạn về số lượng và chất lượng giấc ngủ. Khi xã hội ngày càng phát
triển, số người mắc bệnh mất ngủ ngày càng tăng. Ước tính trong một năm có tới 30
– 45% số người lớn bị mất ngủ, gây hậu quả không nhỏ về sức khỏe, kinh tế và các
vấn đề xã hội khác [14] [39]. Nhu cầu điều trị mất ngủ vì vậy đã tăng lên nhanh
chóng. Hai phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều trị mất ngủ bao gồm
phương pháp trị liệu không dùng thuốc và phương pháp điều trị có dùng thuốc. Các
thuốc được sử dụng nhiều nhất là những thuốc có nguồn gốc tổng hợp hóa dược như
các thuốc nhóm benzodiazepin và barbiturat. Hạn chế lớn nhất của các nhóm thuốc
trên là có nhiều tác dụng không mong muốn, khi dùng kéo dài sẽ gây ra tình trạng
quen thuốc, lệ thuộc vào thuốc, và khi ngừng thuốc đột ngột có thể gây ra hội chứng
cai thuốc [6] [47].
Hiện nay, y học đang có xu hướng quay trở lại sử dụng các sản phẩm có nguồn
gốc tự nhiên do chúng có ít tác dụng phụ, và có hiệu quả nhất định trong điều trị
mất ngủ. Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới có nguồn dược liệu
phong phú, cùng với nhiều kinh nghiệm YHCT với các bài thuốc điều trị mất ngủ
[5] [50] [75]. Tuy nhiên để tạo cơ sở khoa học nhằm phát triển, sử dụng rộng rãi các
dược liệu và bài thuốc YHCT này cần tiến hành các nghiên cứu dược lý và lâm sàng
đánh giá tác dụng, hiệu quả điều trị và độ an toàn của chúng.
Tại tỉnh Hải Dương, bài thuốc “an thần hoàn” (ATH) đã được lương y Nguyễn
Tiến Khẩn phát triển để điều trị mất ngủ thể tâm tỳ hư từ năm 1980. Bài thuốc phối
hợp 5 dược liệu có tác dụng dưỡng tâm an thần kết hợp kiện tỳ ích khí bao gồm
bình vôi, bạch truật, đảng sâm, hoài sơn và liên nhục. Hiện tại, mỗi năm có gần
2000 bệnh nhân được điều trị tại viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương bằng bài
thuốc này [16]. Tuy nhiên, việc sử dụng bài thuốc ATH mới chỉ dựa trên kinh
nghiệm dân gian và kinh nghiệm điều trị, chưa từng có công trình nghiên cứu khoa
học nào đánh giá độc tính trên động vật thực nghiệm cũng như tác dụng dược lý
thường được ghi nhận trong mối quan hệ với các bệnh khác hay với các rối loạn tâm
thần. Ví dụ, 40% - 50% người bị mất ngủ có một rối loạn tâm thần đi kèm [25]. Ở
Canada một phần năm số người từ 15 đến 24 tuổi, và hơn một phần ba số người từ
75 tuổi trở lên đã từng bị mất ngủ [39].
Ở Việt Nam, nghiên cứu về dịch tễ học bệnh mất ngủ còn rất hạn chế. Theo một
khảo sát của bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh tiến hành trên 753 người
độ tuổi từ 18 đến 65, từ tháng 11/2004 đến tháng 9/2005, tỷ lệ người mắc chứng
mất ngủ trên địa bàn thành phố là 18,32% [20].
1.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ
Theo DSM-5 tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ bao gồm các triệu chứng sau [14] [25]
[68]:
4
A. Người bệnh phàn nàn về chất lượng và số lượng giấc ngủ cùng với một trong
các triệu chứng sau:
(1) Mất ngủ đầu giấc. (ở trẻ em thường có biểu hiện khó đi vào giấc ngủ dù
không có sự làm phiền của người chăm sóc)
(2) Mất ngủ giữa giấc, trong giấc ngủ thường hay bị thức giấc, sau đó họ khó
ngủ tiếp được. (ở trẻ em thường có biểu hiện khó quay lại giấc ngủ dù không có
sự làm phiền của người chăm sóc)
(3) Mất ngủ cuối giấc, giấc ngủ không kéo dài, sau đó họ tỉnh giấc vào sáng
sớm và không sao ngủ lại được.
B. Rối loạn giấc ngủ gây ra lo ngại đáng kể về mặt lâm sàng; hoặc ảnh hưởng xấu
đến các hoạt động xã hội, công việc, học tập, giảng dạy, cách cư xử hoặc các hoạt
động quan trọng khác.
C. Việc khó ngủ xảy ra ít nhất 3 đêm mỗi tuần
D. Việc khó ngủ kéo dài ít nhất 3 tháng.
E. Khó ngủ xảy ra mặc dù đã có tất cả các điều kiện thuận lợi cho việc ngủ.
F. Mất ngủ không xuất hiện trong phạm vi của một rối loạn ngủ-thức khác (bệnh
ngủ ngáy, mất ngủ do hô hấp, rối loạn nhịp thức ngủ hàng ngày hoặc rối loạn cận
việc làm xấu đi tình trạng mất ngủ, việc sử dụng thuốc như vậy trong một số trường
hợp có thể tiến triển thành một rối loạn lạm dụng thuốc [25].
1.2. Điều trị mất ngủ theo y học hiện đại
Mất ngủ hiện vẫn là một rối loạn không thể chữa khỏi và phương pháp điều trị
hành vi nhận thức có thể giúp giảm nhẹ các gánh nặng do mất ngủ gây ra cả về sức
khỏe và kinh tế [57]. Các thuốc điều trị mất ngủ chỉ nên dùng khi phương pháp điều
trị không dùng thuốc không có hiệu quả hoặc trong trường hợp thực sự cần thiết do
các tác dụng không mong muốn [47].
1.2.1. Phương pháp điều trị hành vi nhận thức
Có nhiều bằng chứng đã được đưa ra để chứng minh hiệu quả điều trị của
phương pháp điều trị hành vi nhận thức (Cognitive behavioral therapy, CBT) trong
điều trị mất ngủ kéo dài [41]. CBT tập trung vào điều chỉnh những hành vi và suy
nghĩ không phù hợp làm tăng tình trạng mất ngủ. CBT gồm 5 phần chính: điều trị
6
kích thích, các nguyên tắc khi ngủ, các phương pháp thư giãn, trị liệu nhận thức và
giáo dục vệ sinh giấc ngủ. CBT được coi là phương pháp rất quan trọng trong điều
trị mất ngủ với tác dụng tương tự các thuốc gây ngủ được dùng trong một thời gian
ngắn để điều trị mất ngủ mạn tính. Tuy nhiên, CBT duy trì tác dụng ngay cả sau
nhiều tháng hoặc nhiều năm điều trị [41] [63]. Các tác dụng này có cả ở trên bệnh
nhân mất ngủ đơn thuần hoặc mất ngủ có liên quan đến các rối loạn tâm thần khác
[36] [41].
Phương pháp vệ sinh giấc ngủ được đề cập đến trong nhiều tài liệu nhưng hiệp
hội rối loạn giấc ngủ của Hoa kỳ khẳng định rằng không có đủ bằng chứng để cho
rằng vệ sinh giấc ngủ là một liệu pháp riêng. Liệu liệu pháp này có hiệu quả khi
nằm trong các phương pháp khác hay không cũng chưa được xác định rõ từ các dữ
liệu hiện có [41].
1.2.2. Các thuốc dùng trong điều trị mất ngủ
Các chất dẫn truyền thần kinh (histamin, acetylcholin, noradrenalin, serotonin,
orexin, và dopamin) có tác dụng kích thích thần kinh trung ương làm cơ thể tỉnh
A
. Do mỗi thuốc khác nhau có các liên kết khác nhau với receptor GABA
A
nên tác dụng và độ an toàn của chúng cũng khác nhau. Benzodiazepin và barbiturat
liên kết ở các vị trí khác nhau trên các nhóm dưới của receptor GABA
A
. Khi dùng
quá liều barbiturat sẽ nguy hiểm hơn so với dùng benzodiazepin, barbiturat thường
gây ra lệ thuộc thuốc, sự lạm dụng thuốc và hội chứng cai thuốc nặng nề hơn so với
benzodiazepin. Phenobarbital là chất gây cảm ứng mạnh các enzym chuyển hóa
thuốc ở cytocrom P
450
nên làm giảm hoặc mất tác dụng của nhiều thuốc phối hợp,
bản thân phenobarbital còn gây tự cảm ứng nên khi dùng lâu dài tác dụng của chính
nó cũng bị giảm. Do benzodiazepin là nhóm thuốc thay thế phù hợp cho barbiturat
nên có thể giảm sự lạm dụng barbiturat bằng cách chỉ kê đơn khi thật cần thiết [30]
[50] [68] [69]. Dùng thuốc ngủ barbiturat đôi khi có tác dụng nghịch thường như
mất ngủ, có một giai đoạn hưng phấn nhẹ hoặc gặp ác mộng vào ban đêm. Thuốc
ngủ barbiturat thường gây tác dụng không mong muốn sau khi thức dậy như mệt
mỏi, chóng mặt, giảm phản xạ có điều kiện và có thể bị lú lẫn [3].
Thuốc kháng histamin H1 gồm cả thuốc OTC (diphenhydramin và doxylamin)
và thuốc kê đơn doxepin, có các tác dụng không mong muốn liên quan đến tác dụng
kháng cholinergic (nhìn mờ, táo bón, suy giảm trí nhớ và khô miệng). Các thuốc có
thể gây ra buồn ngủ vào buổi sáng trong trường hợp dùng thuốc vào tối hôm trước;
quen thuốc và tăng cân [3] [69].
1.3. Dược liệu trong điều trị mất ngủ
Việc sử dụng thuốc có nguồn gốc tổng hợp hóa dược để điều trị mất ngủ gây ra
nhiều tác dụng không mong muốn đồng thời giá thành của các thuốc này cũng là
8
9
lý khác có liên quan tới lo âu cần được cân nhắc do dược liệu này chỉ thể hiện tác
dụng khi được phối hợp với Valeriana officinalis [51].
Ở các nước phương Tây, dược liệu thường được sử dụng đơn độc trong khi đó
các nước phương Đông lại có xu hướng kết hợp các dược liệu với nhau. Do vậy khó
có thể kết luận chính xác về dược liệu có tác dụng chính trong công thức và sự
tương tác giữa các dược liệu [75]. Hơn nữa các thuốc từ dược liệu thường có thành
phần hóa học phức tạp nên khó xác định thành phần có tác dụng chính nhưng điều
này cũng cho phép có nhiều chỉ định khác nhau với cùng một loại dược liệu. Tác
dụng của các dược liệu đôi khi có thể do tác dụng tâm lý (placebo) trên các bệnh
nhân. Vì vậy, trong thực hành hiện đại dựa trên quan điểm của y học dựa trên bằng
chứng, hiệu quả của các phương pháp chữa bệnh theo y học truyền thống hay các
dược liệu cần được khẳng định thông qua các nghiên cứu dược lý và các thử nghiệm
lâm sàng có kiểm soát [74].
Tại Việt Nam, một số loài trong chi Stephania Lour. [2] [15], bột alcaloid lá sen
[10], hoạt chất Majonosid-R2 trong sâm Việt Nam [13], dược liệu xấu hổ (Mimosa
pudica L., Mimosaceae) [12], tinh dầu từ vỏ quả chi Citrus họ Rutaceae [1], và
nhiều dược liệu khác đã được đánh giá tác dụng giải lo âu, an thần trên động vật
thực nghiệm.
1.4. Điều trị mất ngủ theo Y học cổ truyền
1.4.1. Khái niệm mất ngủ theo Y học cổ truyền
Mất ngủ theo YHCT là một chứng bệnh mà giấc ngủ không được bình thường.
Mất ngủ nhẹ thì khó ngủ, dễ thức tỉnh hoặc sau tỉnh khó ngủ trở lại, có khi lúc ngủ
lúc tỉnh; mất ngủ nặng thì suốt đêm không ngủ được [8].
Chứng không ngủ có khi xuất hiện đơn độc, cũng có khi xuất hiện với các triệu
chứng nhức đầu, chóng mặt, hay quên [8].
Mất ngủ có nhiều thể bệnh khác nhau trong đó có thể tâm tỳ lưỡng hư. Hư lao
thể tâm tỳ hư thực chất là phối hợp giữa tâm huyết hư và tỳ khí hư. Thể tâm tỳ hư
thường gặp ở những người suy nhược cơ thể (ăn kém, ngủ ít, sút cân) sau khi mắc
làm cải thiện chất lượng giấc ngủ và thời lượng ngủ cũng như hiệu quả giấc ngủ
[42].
11
Dùng thuốc theo YHCT:
Nguyên tắc: trị mất ngủ trước hết phải biết rõ nguyên nhân gây mất ngủ, sau
đó biện luận là hư chứng hay thực chứng rồi tìm cách chữa bệnh theo nguyên tắc hư
thì bổ, thực thì tả, điều chỉnh lại cho cân bằng âm dương [8].
Bệnh mất ngủ do hư lao thể tâm tỳ hư thuộc hư chứng, nghĩa là bệnh biểu
hiện sự suy yếu của toàn cơ thể hoặc từng tạng phủ, từng bộ phận của cơ thể. Bệnh
kéo dài, diễn biến từ từ, không dữ dội. Loại bệnh tạng phủ hư thì trị bằng các thuốc
bổ trực tiếp vào tạng đó nên dùng bài Quy tỳ thang [5].
Thuốc an thần: là những thuốc có tác dụng trấn tĩnh, gây ngủ, dùng thích hợp
với những bệnh tim loạn nhịp, mất ngủ, cuồng phiền; thường xuất hiện bệnh do
chức năng tạng tâm mất thăng bằng hoặc có hiện tượng bệnh lý. Trong khi dùng tùy
theo tình hình cụ thể mà phối hợp với các thuốc khác cho thích hợp [5].
Thuốc an thần có thể chia làm hai loại: loại trọng trấn an thần với tác dụng an
thần mạnh hơn như chu sa, thần sa, long cốt… loại dưỡng tâm an thần có tác dụng
an thần gây ngủ, đưa lại giấc ngủ một cách sinh lý hơn như toan táo nhân, bá tử
nhân, ngải tượng (bình vôi),…[5]
1.5. Bài thuốc An thần hoàn
1.5.1. Xuất xứ của bài thuốc
Bài thuốc ATH được lương y Nguyễn Tiến Khẩn phát triển từ năm 1980 tại Hải
Dương. Bài thuốc ATH là sự kết hợp của 5 dược liệu bình vôi, bạch truật, đảng
sâm, hoài sơn và liên nhục. Bài thuốc được dùng để điều trị cho hầu hết bệnh nhân
được chẩn đoán mất ngủ do hư lao thể tâm tỳ hư nhập viện và điều trị tại bệnh viện
Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương từ hơn 30 năm nay [16].
Bài thuốc được bào chế dạng viên hoàn theo qui trình: các dược liệu được tán
thành bột thô, trộn đều thu được bột kép đồng nhất, thêm mật ong, mạch nha đã đun
chảy vào nhào thành khối dẻo; cho vào bàn lăn lăn thành sợi, cắt và hoàn viên
(non-rapid eye movement sleep) và làm hoạt hóa trung tâm ngủ ở não chuột (Qiu et
al., 2009) [64].
+ Palmatin làm giảm serotonin ở thân não nhưng làm tăng nồng độ của chất này và
làm giảm nồng độ dopamin ở vỏ não từ đó có tác dụng gây êm dịu (Hsieh et al.,
1993) [48]. Với hệ số Ki = 62 nM, roemerin có ái lực mạnh với receptor 5HT
2A
của
13
serotonin và do vậy có thể được áp dụng trong điều trị tâm thần phân liệt và mất
ngủ (Munusamy et al., 2013) [60].
+ Sinomenin có tác dụng giải lo âu ở nhiều mô hình động vật gặm nhấm. Các
nghiên cứu hành vi chỉ ra sinomenin làm tăng khả năng khám phá và quan hệ bầy
đàn (social relationship). Tuy nhiên, tương tự các thuốc giải lo âu khác, sinomenin
có tác dụng gây êm dịu và làm giảm khả năng di chuyển (Chen et al., 2005a) [34].
+ l-THP có tác dụng giải lo âu ở chuột cống ở mức liều 25 mg/kg tiêm màng bụng
(Henkes et al., 2011) [44]. Chất này cũng có tác dụng gây ngủ (Leung et al., 2003)
[53], thông qua cơ chế có liên quan đến receptor GABA (Halbsguth et al.,) [43]
[58].
Dịch chiết nước từ các loài Stephania sinica Diels., loài Stephania dielsiana
Y.C. Wu [2], loài Stephania venosa [58] cũng đã được chứng minh có tác dụng an
thần, giải lo âu trên các mô hình thực nghiệm trên động vật. Theo Nguyễn Quốc
Huy, độc tính cấp của củ loài S.dielsiana ở Việt Nam trên chuột nhắt khi được dùng
qua đường uống là LD
50
= 22,2 g/kg thể trọng chuột/ngày [15].
Bạch truật:
- Là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Bạch truật (Atractylis macrocephala
(Koids.). Hand-Mazz, họ Cúc, Asteraceae). Thành phần hóa học: tinh dầu
(atractylon), các sesquiterpen (eudesmol), các dẫn chất lacton (atractynolid I, II, III)
thiếu máu, vàng da, viêm thận, nước tiểu có albumin kèm theo phù. Dùng riêng
hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong các bài Tứ quan, Bát vị, Thập toàn đại
bổ, Bổ trung ích khí, Nhân sâm dưỡng vinh [7] [17] [24].
- Xu và cộng sự, đã báo cáo sáu triterpenoid saponin mới trong rễ của
Codonopsis lanceolata (Campanulaceae) có tác dụng chống viêm rõ rệt khi thử
nghiệm trên chuột gây phù trên tai bởi xylen [55].
Hoài sơn:
- Là thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Củ mài (Dioscorea persimilis Prain et
Burkill, họ Củ nâu, Dioscoreaceae). Thành phần hóa học: chủ yếu là tinh bột, ngoài
ra còn có chất nhày (mucin), allantoin, các acid amin, cholin, vitamin C, các nguyên
tố vi lượng [7] [17] [24].
15
- Tác dụng dược lý: tăng trọng lượng cơ thể, tăng đồng hóa, tác dụng nội tiết
hướng sinh dục (tăng trọng lượng tử cung, trọng lượng tinh hoàn, tuyến tiền liệt, túi
tinh và cơ nâng hậu môn) trên động vật thực nghiệm [7] [17] [24].
- Công năng, công dụng: kiện tỳ, chỉ tả, bổ phế, ích thận, cố tinh, giải độc, tiêu
viêm. Hoài sơn được coi là một vị thuốc bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ăn uống kém tiêu,
viêm ruột kinh niên, tiêu chảy lâu ngày không khỏi, phế hư ho hen, bệnh đái tháo
đường, di tinh, di niệu, bạch đới [7] [17] [24].
- Một nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng làm giảm đường huyết và làm giảm nồng
độ lipid trong máu của thân rễ các loài trong chi Dioscoreae (D.opposita, D.fordii,
D.persimilis, D.alata) [54].
Liên nhục:
- Là hạt còn màng đỏ bên ngoài đã phơi hay sấy khô của cây Sen (Nelumbo
nucifera Gaertn, họ Sen súng, Nelumbonaceae). Thành phần hóa học: tinh bột
(thành phần chính), acid amin, chất béo [7] [17] [24].
- Tác dụng dược lý: mặc dù nhiều nghiên cứu với dịch chiết từ lá sen [10] (liên
diệp) và tâm sen (liên tâm) cũng như alkaloid nuciferin chiết từ hai bộ phận dùng
này nhưng chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào được công bố về tác dụng của hạt
rộng rãi và trở thành một công cụ thiết yếu cho việc xác định các cơ chế hoạt động
và sinh học thần kinh dựa trên tác dụng của thuốc. Dựa trên mục đích đánh giá các
tác dụng khác nhau của cùng một thuốc hoặc đánh giá cùng một tác dụng của các
thuốc khác nhau có nhiều mô hình để lựa chọn, các tiêu chí cần xem xét là độ tin
cậy và tính hợp lý của mô hình [32].
Thuốc ngủ đối với người là thuốc được sử dụng với mục đích tạo ra giấc ngủ
sinh lý vào ban đêm mà sau đó bệnh nhân có thể tỉnh lại mà không cảm thấy có bất
kì khó chịu nào. Trong các mô hình thí nghiệm trên động vật, thuật ngữ thuốc ngủ
có thể được dùng cho pha sâu hơn nhiều của sự trầm cảm trung ương của thuốc gây
ra mất nhận thức cùng với mất khả năng trương lực cơ và phản xạ thăng bằng. Vì
vậy phần lớn các mô hình dược lý cần phải được xem xét về khả năng phỏng đoán
của chúng để tìm ra một thuốc ngủ lý tưởng cho điều trị trên người. Nhiều mô hình