đánh giá tác dụng của viên luotai trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) do nhồi máu não (NMN) là một tình
trạng bệnh lý nặng rất thường gặp, theo tài liệu thống kê của Tổ chức Y tế
Thế giới (TCYTTG) tỷ lệ tử vong do TBMMN đứng hàng thứ ba sau bệnh
tim mạch và ung thư [Trích dẫn theo 17].
Ngày nay với sự tiến bộ của y học, tuy tỷ lệ tử vong do TBMMN ngày
càng giảm nhưng số lượng bệnh nhân bị tàn tật do TBMMN lại có xu hướng
gia tăng, để lại di chứng nặng về thần kinh, về tâm thần…gây nên nhiều thiệt
hại không những về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến khả năng lao động của
người bệnh, tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Chính vì vậy việc điều trị phục hồi di chứng, đặc biệt là di chứng liệt vận
động cho bệnh nhân TBMMN sau giai đoạn cấp là hết sức quan trọng và cấp
thiết, qua đó giúp cho người bệnh tránh bị tàn tật suốt đời, cải thiện chất
lượng cuộc sống, nhanh chóng tái hòa nhập xã hội.
Yhọc hiện đại (YHHĐ) đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn trong
việc phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị bệnh NMN trong giai đoạn cấp và
điều trị phục hồi di chứng sau giai đoạn cấp. Bên cạnh những thành tựu của
YHHĐ, y học cổ truyền (YHCT) cũng có nhiều đóng góp tích cực trong việc
điều trị và dự phòng bệnh, đặc biệt là điều trị phục hồi di chứng NMN sau
giai đoạn cấp. Bên cạnh việc điều trị bằng các phương pháp không dùng thuốc
như: châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, dưỡng sinh người ta cũng nhận thấy có
rất nhiều bằng chứng về lợi ích của các thuốc có nguồn gốc từ các vị thuốc đông
dược trong việc phối hợp với các thuốc điều trị NMN kinh điển.
YHCT từ xa xưa đã có nhiều bài thuốc cổ phương, gia truyền quý được
lưu truyền và ghi chép trong các y văn cổ như: Bổ dương hoàn ngũ thang, Đại
1
tần giao thang, Địa long đan sâm hoàn, Hoa đà tái tạo hoàn, Thông mạch sơ
lạc phương, An cung ngưu hoàng hoàn, Ngưu hoàng thanh tâm hoàn và
nhiều vị thuốc quý như Tam thất, Đan sâm, Địa long Những bài thuốc, vị
thuốc này đã được đưa vào sử dụng từ hàng nghìn năm và cho đến ngày nay
nó vẫn còn nguyên giá trị, đã và đang được các thầy thuốc YHCT sử dụng

3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.TÌNH HÌNH BỆNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
1.1.1.Những nghiên cứu về bệnh tai biến mạch máu não trên thế giới
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, TBMMN là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở các nước trên Thế giới: Năm
2001 có 16 triệu trường hợp bị TBMMN lần đầu trong đó tử vong 5,75 trường
hợp (chiếm 36%). Năm 2003 có 27 triệu trường hợp bị bệnh lần đầu, tử vong
là 7,8 triệu [17].
Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ cho rằng có khoảng 500000 trường hợp
TBMMN xảy ra ở Hoa Kỳ trong năm 1986 và khoảng 400000 trường hợp
TBMMN xuất viện ở Hoa Kỳ, 3/4 trong số họ là những người đầu tiên mắc
bệnh, còn lại là TBMMN tái phát. Theo thống kê của trung tâm Rochester
Minnesota, tỷ lệ mới mắc ở Hoa Kỳ là 135/100000 dân (Broderick và cộng sự
1991). Cứ trung bình 53 giây lại có một trường hợp TBMMN xảy ra ở khu
vực Bắc Mỹ [52].
Tỷ lệ mới mắc ở Pháp theo Giroud là 145/100 000 dân. Tính toàn Châu
Âu, số người mới mắc TBMMN lần đầu tiên trong khoảng 141-219/100000
dân (1993) [Trích dẫn theo 13].
Ở Châu Á, theo hiệp hội Thần kinh các nước Đông Nam Á, các bệnh
nhân TBMMN điều trị nội trú ở Trung Quốc là 40%, Ấn Độ 11%, Philipin
10%, Triều Tiên 16%, Indonesia 8%, Việt Nam 7%, Thái Lan 6%, Malaysia
2%. Tỷ lệ mới mắc khá cao: 340-523/100000 dân ở Nhật Bản, 219/100000
dân ở Trung Quốc [Trích dẫn theo 17].
Theo J. M. Orgogozo (1985) 80% tai biến mạch máu não là nhồi máu
não và 20% là chảy máu não. Tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ ước tính khoảng 500
cho 100.000 người với mức dao động từ 420 đến 1.000 và tỷ lệ di chứng ít
4
nhất cũng tới 1/4 số trường hợp.Tỷ lệ mới phát hiện trung bình hàng năm là

mạch máu não. Khi huyết áp tâm thu từ 160 mmHg trở nên và hoặc huyết áp tâm
trương từ 95 mmHg trở lên, tỷ lệ TBMMN ở người tăng huyết áp so với những
người có huyết áp bình thường sẽ tăng từ 2,9 lần (đối với nữ) đến 3,1 lần (đối với
nam) [11], [30].
 Rối loạn chuyển hoá lipid: Lipid trong huyết tương tồn tại dưới
dạng kết hợp với apoprotein và được chia làm ba loại: Lipoprotein trọng
lượng phân tử thấp chiếm 40-50 % các loại lipoprotein tham gia vào cơ chế
gây dày lớp áo trong của thành mạch; lipoprotein trọng lượng phân tử cao
chiếm 17 – 23% các loại lipoprotein được cho là có tác dụng bảo vệ thành
mạch; triglycerid chiếm 8 – 12% các lipoprotein và cũng tham gia vào cơ chế
tạo mảng xơ vữa mạch [24], [49].
 Đái tháo đường: về bản chất tiểu đường là yếu tố nguy cơ gây
tắc các vi mạch và động mạch ngoại vi. Bệnh nhân tiểu đường có nguy cơ
mắc đột quị tương đối là 1,8 ở nam giới và 2,2 ở nữ giới. Dịch tễ học đã xác
nhận một ảnh hưởng có tính độc lập về TBMMN do thiếu máu não với một sự
tăng nguy cơ tương đối trong những người đái tháo đường giao động từ 1,8
đến gần 6 lần. Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân đột quị có tiểu đường cũng rất cao.
Nếu kiểm soát đường huyết tốt sẽ làm đột quị sảy ra muộn hơn và biến chứng
vi mạch sảy ra chậm hơn [8], [25].
 Bệnh tim: Các bệnh lý tim mạch là yếu tố quan trọng gây ra nhồi
máu não ở các nước đang phát triển [61].
6
Các bệnh tim chủ yếu là rung nhĩ, bệnh van tim, nhồi máu cơ tim, suy
tim sung huyết, phì đại thất trái, hẹp hai lá. Theo nghiên cứu của Framingham
rung nhĩ làm tăng nguy cơ TBMMN lên 5 lần, phì đại thất trái làm tăng nguy
cơ TBMMN 2,3 lần [65].
 Cơn thiếu máu não thoáng qua: Là một hội chứng lâm sàng có
đặc điểm là mất cấp tính chức năng não cục bộ kéo dài dưới 24 giờ, là nguy
cơ với mọi loại tai biến mạch não. Dechampvallin nghiên cứu trong cộng
đồng ở Pháp thấy người mắc TBMMN có tiền sử TBMMN thoáng qua là

mức lớn:
Mức thứ nhất nối thông giữa các động mạch lớn phía trước não, giữa
động mạch cảnh trong, động mạch cảnh ngoài và động mạch sống - nền.
Mức thứ hai là đa giác Willis, giữ vai trò chủ yếu trong việc lưu thông
máu giữa các động mạch não. Mức thứ ba ở quanh vỏ não với sự nối thông
giữa các nhánh nông của các động mạch não [8], [13], [19].
1.3.2. Một số đặc điểm về sinh lý tuần hoàn não :
Có nhiều yếu tố liên quan đến trạng thái chức năng của não như: lưu
lượng máu não, tốc độ tuần hoàn, sự tiêu thụ ôxy và Glucose.
- Lưu lượng máu não là yếu tố cơ bản liên quan đến trạng thái chức năng
của não, lưu lượng máu não là lượng máu qua não trong một đơn vị thời gian
9
(thường tính bằng phút). Bình thường một phút có khoảng 750ml máu qua
não, theo Kety và Schmit (1977) thì số lượng máu não trong một phút là: 50-
52 ml/100g/phút.
- Lưu lượng máu ở chất xám cao hơn ở chất trắng và giữa các vùng cũng
có sự khác nhau cao nhất ở vùng đỉnh và thấp nhất ở vùng chẩm. Lưu lượng
máu não thay đổi theo tuổi, tuổi càng cao lưu lượng máu não càng giảm, ở trẻ
dưới 15 tuổi lưu lượng máu não là: 100ml/100g/phút, ở người 60 tuổi lưu
lượng máu não là: 36mg/100g/phút, lưu lượng máu não tăng khi lao động
chân tay, lao động trí óc hoặc khi các giác quan bị kích thích.
- Huyết áp động mạch và sức cản thành mạch là hai yếu tố chủ yếu ảnh
hưởng đến lưu lượng máu não. Theo Ingvar và cộng sự lưu lượng tuần hoàn
não trung bình ở người lớn là 49,8 ± 5,4 ml/100g não/phút, lưu lượng trong
chất xám là: 79,7 ±10,7 ml/100g não/phút.
- Nhồi máu não sẽ xảy ra khi lưu lượng máu não giảm xuống dưới 18-20
ml/100g não/phút, trung tâm của ổ nhồi máu não là vùng hoại tử có lưu lượng
máu từ 10 - 15 ml/100g não/phút, còn xung quanh vùng này có lưu lượng máu
là 20 - 25 ml/100g não/phút, tuy các tế bào não vẫn còn sống nhưng không
hoạt động đây là vùng nửa tối điều trị tai biến nhằm hồi phục tưới máu cho vùng

chủ yếu gồm: viêm động mạch, bóc tách mạch cảnh, động mạch sống lưng,
động mạch đáy não, các bệnh máu, u não chèn ép các mạch não
 Co thắt mạch (Vasoconstriction): làm cản trở lưu thông máu: co thắt
mạch sau chảy máu dưới nhện, co thắt mạch não hồi phục nguyên nhân chưa
biết rõ, co thắt mạch sau đau nửa đầu, sau sang chấn, sau sản giật.
11
 Tắc mạch (Embolisme): là cục tắc từ một mạch ở xa não (tim, các
mạch lớn ở cổ) bong ra rồi đi theo đường tuần hoàn lên não, đến chỗ lòng
mạch nhỏ hơn sẽ nằm lại và gây tắc mạch.
1.3.4.4. Đặc điểm lâm sàng chung nhồi máu não
 Lâm sàng
Thời gian xảy ra nhồi máu não thường vào ban đêm hoặc sáng sớm, khởi
phát cấp tính, đột ngột, các triệu chứng lâm sàng tăng nhanh tối đa ngay từ
đầu, ý thức tỉnh táo hoặc lú lẫn, ít khi có hôn mê.
Liệt dây VII trung ương và liệt nửa người cùng bên khi tổn thương ở bán
cầu đại não, hoặc liệt dây III, dây VII ngoại vi bên tổn thương và liệt nửa
người bên đối diện, nếu tổn thương ở vùng thân não nói chung, có thể có rối
loạn ngôn ngữ nếu tổn thương bên bán cầu não ưu thế.
Rối loạn cơ vòng: bí tiểu tiện hoặc tiểu tiện không tự chủ.
Rối loạn thần kinh thực vật như tăng huyết áp nhẹ, thở nhanh nông, có
thể tăng tiết đờm rãi.
Rối loạn tâm thần: dễ xúc động, trầm cảm [8], [14].
 Cận lâm sàng
+ Xét nghiệm dịch não tuỷ: ở các bệnh nhân nhồi máu não dịch não tuỷ
thường không màu, trong suốt, albumin có thể tăng nhưng tế bào trong phạm
vi bình thường.
+ Chụp cắt lớp vi tính sọ não: giúp chẩn đoán phân biệt chảy máu não và
nhồi máu não, xác định vị trí kích thước vùng tổn thương.
Ở sau giai đoạn cấp tính bệnh nhân nhồi máu não có các ổ giảm đậm
độ, ổ này thường thấy rõ từ ngày thứ hai trở đi (sau khởi phát nhồi máu). Các

+ Hội chứng toàn bộ động mạch não giữa:
- Bao gồm hai hội chứng kể trên, liệt nửa thân đồng đều, kèm cảm giác
rối loạn thị giác và ngôn ngữ [22], [37].
 Hội chứng động mạch não trước:
Liệt nửa người với đặc điểm nặng hơn chi dưới, kèm theo mất sử dụng ở
nửa người bên trái do tổn thương thể chai. Có thể có rối loạn cơ vòng tạm thời
do tổn thương tiểu thuỳ cạnh trung tâm.
 Hội chứng tắc động mạch cảnh trong:
- Nếu quá trình bệnh lý sảy ra từ từ, tuần hoàn ở bán cầu đại não được bổ
xung bởi hệ thống mạch cảnh bên đối diện, hệ thống động mạch sống – nền
và từ động mạch cảnh ngoài. Bệnh nhân có thể không có triệu chứng lâm sàng
rõ ràng, nếu thiếu máu ở mức độ nhẹ thì có biểu hiện triệu chứng não chung
kiểu suy nhược thần kinh giả hiệu.
- Nếu tắc đột ngột hoặc khi sự tuần hoàn bổ xung kém thì sự xuất hiện rõ
triệu chứng thần kinh khu trú. Điển hình là hội chứng mắt - tháp, biểu hiện:
mất thị lực ở mắt cùng bên động mạch cảnh bị tắc và hội chứng tháp (bại hoặc
liệt nửa người) bên đối diện bên động mạch bị tổn thương, giảm huyết áp
võng mạc trung tâm, sờ không thấy động mạch cảnh trong đập ở phía trên chỗ
bị tắc, nghe có thể thấy tiếng thổi tâm thu. Nếu động mạch cảnh chưa bị tắc
hoàn toàn, các triệu chứng thần kinh có thể tạm thời hoặc phục hồi dần một
phần sau vài tuần [trích dẫn theo 12].
1.3.4.6. Chẩn đoán xác định nhồi máu não.
 Lâm sàng:
Bệnh nhân mắc bệnh đột ngột hoặc từ từ, có tổn thương chức năng não,
14
tồn tại quá 24 giờ (hoặc tử vong trước 24 giờ), không có yếu tố chấn thương.
Tiền sử tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, đái tháo đường, bệnh tim…
Tuổi thường trên 50 tuổi
Khởi phát đột ngột nhưng tiến triển tăng nặng dần dần hoặc tăng nặng
từng nấc.

Trong “Đan khê tâm pháp – Trúng phong luận” cho rằng “Đàm thấp
sinh nhiệt” mà gây nên bệnh.
“Đông đản tập thư” cho rằng “Chính khí hư tụ”: Hư tổn chân khí nên
dễ bị trúng phong.
Diệp Thiên Sỹ thiên về phong dương: do huyết kém, thuỷ không hàm
mộc, can dương cang thịnh, phong dương vọng động, âm dương cùng tổ
thương là nguyên nhân gây trúng phong.
 Ngày nay các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân gây trúng phong
có thể quy thành các nguyên nhân sau:
+ Lao dục quá độ: hao khí thương âm dễ gây nên dương khí bạo loạn,
khí huyết thượng nghịch mà phát bệnh.
+ Âm thực bất tiết (ăn uống không điều độ): do ăn uống không điều độ,
uống nhiều rượu, ăn nhiều chất cay béo ảnh hưởng đến công năng tỳ vị, thấp
nhiệt nội thịnh phạm vào mạch lạc, thượng tắc thanh khiếu gây bệnh.
+ Tổn thương về tình trí: do ngũ trí quá cực, tâm hoả thịnh lên hoặc
người vốn âm hư, thuỷ không hàm mộc, lại vì tình trí tổn thương, can dương
16
động lên mạnh, dẫn động tâm hoả, phong hoả cùng bốc, khí huyết nghịch lên,
tâm thần tối mờ đột nhiên ngã lăn ra không biết gì.
+ Khí xung trúng tà: thường còn được gọi dưới cái tên “Thốt trúng”,
hiện nay dễ liên hệ với trưòng hợp đột quỵ do xuất huyết não.
 Tóm lại nguyên nhân gây bệnh trúng phong theo YHCT chủ yếu là do hai
yếu tố ngoại phong và nội phong gây nên trong đó do nội phong là chính.
+ Nội phong: phong do bên trong cơ thể gây ra, do tình trí bị kích
thích quá động như: Qúa vui mừng, quá buồn rầu, tức giận quá mức làm cho
khí huyết âm dươngtrong cơ thể bị rối loạn, mất cân bằng âm dương làm cho
âm bị hãm ở dưới, can dương nhiễu loạn ở trên hoá phong động mà gây nên
bệnh [3], [4].
+ Ngoại phong: do ảnh hưởng các yếu tố bên ngoài như: Khí hậu, thời
tiết, môi trường, do lao động quá mức, sinh hoạt không điều độ, phong tà

Bệnh nhân bị nhồi máu não sau giai đoạn cấp thường để lại nhiều di
chứng nặng nề. Ngoài di chứng hay gặp là liệt nửa người, sau nhồi máu não
cũng còn thấy các khiếm khuyết chức năng khác như ngôn ngữ, nuốt, tâm trí,
tình dục
Tế bào thần kinh tuy không thể tái sinh được khi bị mất đi do bệnh lý
nhưng khi điều trị kịp thời vẫn có thể đem lại kết quả tốt cho nhiều trường
hợp hoặc phục hồi hoàn toàn, hoặc một phần. Bệnh nhân có thể thích nghi với
điều kiện liệt, có thể tự phục vụ sinh hoạt tối thiểu [20], [63].
1.5.1. Điều trị theo y học hiện đại.
1.5.1.1. Dùng thuốc:
18
Nguyên tắc chung là sử dụng thuốc bảo vệ thần kinh phối hợp với nhau,
ngăn ngừa chảy máu thứ phát, tái tắc mạch, thu nhỏ kích thước ổ nhồi máu,
thuốc chống ngưng tập tiểu cầu, ổn định huyết áp, điều trị yếu tố nguy cơ tăng
đường máu, tăng lipid máu và các nguy cơ khác
1.5.1.2. Điều trị phục hồi chức năng sau giai đoạn cấp:
- Phục hồi chức năng bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã hội,
giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi để làm giảm tác động của giảm
khả năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật có cơ hội bình đẳng để hội
nhập hoặc tái hội nhập xã hội [9], [10].
Mục đích của việc phục hồi chức năng vận động sau giai đoạn cấp nhằm
đề phòng biến dạng khớp, co rút. Giúp bệnh nhân di chuyển với dụng cụ trợ
giúp hoặc độc lập di chuyển. Học lại các hoạt động chức năng hàng ngày như
mặc quần áo, di chuyển đi lại [43].
1.5.2. Điều trị theo y học cổ truyền.
Điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp bằng y học cổ truyền có nhiều
phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc:
1.5.2.1. Phương pháp không dùng thuốc
Gồm: Châm cứu, thuỷ châm, xoa bóp, bấm huyệt, dưỡng sinh.
 Châm cứu

+ Liệt mặt: Giáp xa, Địa thương, Thừa tương, Nghinh hương, Phong trì
+ Liệt chi trên: Hợp cốc xuyên Lao cung, Chi câu xuyên Ngoại quan,
Khúc trì xuyên Thủ tam lý, Kiên ngung xuyên Tý nhu, Cực tuyền, Bát tà, Giáp
tích
20
+ Liệt chi dưới: Phong thị, Huyết hải, Túc tam lý, Tam âm giao, Giải
khê, Thái xung, Giáp tích, Dương lăng tuyền, Trật biên, Hoàn khiêu, Ủy
trung, Thừa sơn, Côn lôn
+ Nếu thất ngôn thêm: Liêm tuyền, Ngoại kim tân.
 Kỹ thuật châm cứu kết hợp điện châm:
Sử dụng máy điện châm do công ty trang thiết bị y tế - Bộ Y Tế sản xuất.
Tần số kích thích khoảng 2 - 3 Hz (khoảng 120- 180 CK/phút).
Cường độ kích thích từ 2 µA đến 50 µA ở ngưỡng mà người bệnh có thể
chịu đựng được.
Châm cứu kết hợp điện châm ngày một lần. Thời gian mỗi lần từ 25 đến
30 phút.
Liệu trình điều trị châm cứu khoảng 30 ngày.
 Xoa bóp bấm huyệt:
Xoa bóp bấm huyệt là phương pháp chữa bệnh ra đời sớm nhất, được xây
dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm quý báu tích luỹ được trong
đấu tranh bảo vệ sức khoẻ của người xưa, được lý luận của YHCT chỉ đạo.
Đối với bệnh nhân bị trúng phong sau giai đoạn cấp thường để lại những
di chứng rất nặng nề như: liệt vận động, liệt mặt, tê bại tay chân, rối loạn
ngôn ngữ, nói khó, bí đại tiểu tiện
Xoa bóp bấm huyệt làm thay đổi những phản ứng sinh học cục bộ tại
vùng được xoa bóp, thông qua phản xạ thần kinh có thể điều tiết được công
năng trong cơ thể, cải thiện sự tuần hoàn huyết dịch. Ngoài ra nó có thể
tăng cường sự lưu thông, giải quyết được sự tê dại các chi, lưu thông khí
huyết [3].
1.5.2.2. Phương pháp dùng thuốc y học cổ truyền

Trần Quang Hưng (2010) “Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận
độnh ở bệnh nhân nhồi máu não bằng thuỷ châm Neurobion”. Kết quả 100%
bệnh nhân có sự cải thiện độ liệt theo Rankin [23].
Galbaa Davkharbayar (2011) “Đánh giá tác dụng hỗ trợ phục hồi chức
năng vận động ở bệnh nhân nhồi náu não sau giai đoạn cấp bằng thuỷ châm
Epinosine B”. Kết quả 100% bệnh nhân có sự cải thiện độ liệt theo Rankin [15].
 Các nghiên cứu về điều trị Nhồi máu não sau giai đoạn cấp bằng
phương pháp dùng thuốc YHCT
Trong nhiều thập kỷ gần đây tại một số nước Châu Á mà điển hình là
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã đi đầu trong việc hiện đại hóa YHCT,
đã có nhiều tiến bộ trong việc nghiên cứu điều chế sản xuất thuốc YHCT. Bên
cạnh thuốc sắc, ngày càng có thêm nhiều dạng thuốc như thuốc tiêm, truyền
tĩnh mạch, thuốc viên có nguồn gốc từ các vị thuốc YHCT được nghiên
cứu, sản xuất và ứng dụng vào việc điều trị bệnh nói chung và TBMMN nói
riêng cho những kết quả tốt.
Khúc Hải Nguyên (1985) Bệnh viện Trung Y Cát Lâm Trung Quốc dùng
“Địa long đan sâm thang” điều trị cho 32 bệnh nhân. Kết quả: tốt 4 trường
hợp, khá 27 trường hợp, không kết quả 1 trường hợp, tỷ lệ đạt 96% [29]
Trương Văn Học (1987) ở Học viện Trung y Thiểm Tây Trung Quốc
dùng bài thuốc “Thông mạch sơ lạc phương” điều trị 110 trường hợp nhũn
não, kết quả: loại tốt (47,3%), khá (32,7%), trung bình (18,2%), không kết
quả (1,8%) [48].
Hà Tiểu Tiên (1989) ở Bệnh viện Tuyên vũ Bắc Kinh có bài “ Đào hồng
thông mạch phương” gia vị (Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung, Xuyên sơn
giáp, Quế chi, Địa long, Bạch thược, Sinh kỳ, Đan sâm). Kết quả: 29 bệnh
nhân phục hồi tốt (63,3%), 14 bệnh nhân phục hồi khá (30,4%), 3 bệnh nhân
có tiến bộ (6,5%) [29], [48].
23
Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu đánh giá tác dụng của một số
bài thuốc cổ phương dùng trong điều trị bệnh NMN sau giai đoạn cấp cho kết

vận động cho bệnh nhân TBMMN bằng thuốc viên Bổ dương hoàn ngũ thang
và điện châm” kết quả tốt 66,7%, trung bình đạt 33,3% [33].
Nguyễn Công Doanh (2011) trong “Nghiên cứu phục hồi chức năng
bệnh nhân nhồi máu não động mạch não giữa sau giai đoạn cấp bằng bài
thuốc Thông mạch dưỡng não ẩm và điện châm”, kết quả: 97,3% chuyển
dịch độ liệt theo Rankin trong đó 28,85% chuyển về độ I, 69,23% chuyển
về độ II [12].
1.6. SƠ LƯỢC VỀ THUỐC NGHIÊN CỨU
1.6.1. Nguồn gốc xuất xứ
Thuốc viên Panax Notoginseng Saponins (biệt dược Luotai) do công ty
cổ phần dược phẩm Côn Minh Trung Quốc nghiên cứu và sản xuất từ năm
2002 và được Công ty Dược phẩm Đông Đô Việt Nam nhập khẩu và phân
phối tại Việt Nam năm 2010 [47].
Thành phần chính của thuốc được chiết xuất từ rễ củ tam thất.
Trồng và thu hoạch: Cây Tam thất được trồng chủ yếu tại tỉnh Vân Nam
Trung Quốc. Cây trồng sau bảy năm mới tiến hành thu hoạch vào mùa thu
trước khi cây ra hoa.
Bộ phận dùng: Rễ củ.
Dịch chiết Saponins tiêu chuẩn hóa có nguồn từ Panax Notoginseng
(tam thất).
Có hai dạng bào chế: dạng thuốc tiêm và thuốc viên.
1.6.2. Thành phần
Hỗn hợp Saponins được tiêu chuẩn hóa trong đó thành phần chính chiếm
80%, gồm: Panax ginsenoside Rg 1: 25 - 35%; Panax ginsenoside Rb1: 30 -
40%; Panax ginsenoside Rd: 7 - 15%; Panax notoginsenoside R1: 5 - 10% [47].
1.6.3. Thành phần của thuốc viên:
25

Trích đoạn C IM LÂM SÀNG CHUNG CA CÁC B NH NHÂN NHI MÁU NÃO ĐẶ ĐỂ ỆỒ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status