Đánh giá tác dụng điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp của bài thuốc bổ dương hoàn ngũ thang - Pdf 19

ĐặT VấN Đề
Đột quỵ não chiếm tỷ lệ cao trong bệnh lý thần kinh, là vấn đề cấp thiết
của y học mỗi quốc gia. Ở các nước phát triển, đột quỵ não (ĐQN) là nguyên
nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau bệnh tim mạch [17], [42], [75], [76].
Ở Hoa Kú, tỷ lệ mắc bệnh là 794/100.000 dân trong đó 85% đột quỵ
do thiếu máu não cục bộ. Năm 1993, Hội Tim mạch Hoa Kỳ đã đề cập thêm
việc chăm sóc đột quỵ khẩn cấp như một phần trong hồi sức cơ bản và hồi sức
cấp cao.
Ở Pháp năm 1994 chiếm tỷ lệ là 65.000/52.346.000 bị đột quỵ và 50% trở
thành tàn phế.
Ở Châu Phi, Châu Á, tỷ lệ đột quỵ ở các nước và khu vực đang phát
triển tương đương với Châu Âu, Châu Mỹ. Bệnh có xu hướng gia tăng hàng
năm ở Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan. Tại Trung Quốc, thống kê có tới
6.000.000 người bị đột quỵ, trong đó nhồi máu não (NMN) chiếm 62%.
Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đang tăng nhanh với mức độ đáng lo ngại.
Theo Lê Văn Thành và cộng sự, điều tra một số địa phương ở miền Nam cho
kết quả của bệnh tương đương với các nước trên thế giới.
Nhồi máu não chiếm tỷ lệ 68 – 70% sè ĐQN, thường gặp ở người 60 –
70 tuổi, nam lớn hơn nữ [62], [64]; tỷ lệ tử vong 28 – 39%. Hiện nay, người ta
quan tâm đến nhồi máu não người trẻ với tỷ lệ mắc bệnh 5 – 10%. Nguyên
nhân do bệnh về máu, tim mạch. Đây là đối tượng có khả năng điều trị tốt và
là thành phần đang có nhiều cống hiến cho xã hội.
Từ năm 1975, bằng các tiến bộ về phương pháp chẩn đoán, hồi sức cấp
cứu, phẫu thuật thần kinh, đẩy mạnh các biện pháp dự phòng, kết hợp y học
hiện đại (YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT), dùng thuốc và không dùng
thuốc đã đưa lại kết quả khá lớn trong chẩn đoán và điều trị. Trung Quốc có
1
các chế phẩm như: An cung ngưu hoàng hoàn, Hoa đà tái tạo hoàn, Ngưu
hoàng thanh tâm hoàn, dịch truyền Đan sâm ; ở Việt Nam còng có mét số
nghiên cứu điều trị NMN như: Nguyễn Văn Vụ nghiên cứu tác dụng của bài
thuốc “Kỷ cúc địa hoàng hợp Tứ vật đào hồng”, Bùi Xuân Tuyết nghiên cứu

+ Động mạch não giữa: Tưới máu cho mặt ngoài bán cầu, vùng trán –
thái dương, đỉnh – thái dương, nửa trước thuỳ chẩm.
+ Động mạch thông sau: Tạo sự nối thông của vòng mạch đa giác
Willis.
+ Động mạch mạc mạch trước: Chạy vào các mạch để tạo thành đám rối
màng mạch bên, giữa, trên.
* Hệ động mạch đốt sống- thân nền: Cung cấp máu cho 1/3 sau của
bán cầu đại não, tiểu não và thân não. Hai động mạch não sau là hai nhánh tận
cùng của động mạch đốt sống thân nền, tưới máu cho mặt dưới của thuỳ thái
dương và mặt giữa thuỳ chẩm. Theo Lazorthes và Gemege, tuần hoàn não có
3 hệ thống nhánh thông.
1.1.1.2. Cơ chế điều hoà tuần hoàn não
Lưu lượng máu não không phụ thuộc hoàn toàn vào lưu lượng máu do
tim co bóp.
Sự điều hoà lưu lượng máu não thông qua cơ chế Bayliss: khi tim bóp
mạnh đẩy máu lên não nhiều, các mạch máu nhỏ ở não co lại hạn chế tưới
máu, khi máu lên não Ýt thì mạch máu não giãn ra để chứa máu nhiều hơn
[20], [28], [29].
+ Sự điều hoà theo cơ chế thần kinh: Không mạnh và làm thay đổi tuần
hoàn não không đáng kể.
4
+ Điều hoà qua chuyển hoá: Phân áp CO2 tăng gây giãn mạch, ngược
lại, phân áp O2 tăng dẫn đến co mạch và làm giảm lưu lượng tuần hoàn não.
1.1.1.3. Sinh lý tế bào não khi tiêu thụ Oxi
Giảm lưu lượng tuần hoàn não và thiếu O2 não vùng thiếu máu não cục bộ
do huyết khối và tắc mạch ở trung tâm, lưu lượng máu thấp dưới 10ml/100g
não/phút sẽ tử vong trong vài giờ và không hồi phục; Vùng xung quanh có
lưu lượng máu thấp từ 20-30ml/100g não/phút, lúc này các tế bào não chưa
chết, không hoạt động điện nhưng vẫn duy trì tế bào sống, vùng này được gọi
là “vùng tranh tối tranh sáng”. Nếu Shunt tuần hoàn hoạt động tốt hoặc dưới

* Tắc mạch não (Embolism).
Là do cục tắc được phát tán từ nơi khác, di chuyển theo dòng máu tới
và làm giảm tưới máu vùng não do động mạch đó phân bè [16], [17], [75],
[76].
* Huyết khối động mạch não (Thrombosis).
Là một quá trình bệnh lý liên tục, do tổn thương thành mạch, làm rối
loạn chức năng hệ thống đông máu và hoặc rối loạn tuần hoàn, dẫn đến hẹp
hoặc tắc động mạch não và xảy ra ngay tại vị trí động mạch bị tổn thương.
* Hội chứng lỗ khuyết.
Các ổ khuyết xảy ra khi các mạch xuyên có đường kính nhỏ hơn
0,2mm bị tắc. Đường kính các ổ khuyết dưới 1,5cm trên phim chụp cắt lớp vi
tính sọ não. Sự thoái hoá này phần lớn do hậu quả của bệnh tăng huyết áp
(THA) mãn tính có vữa xơ động mạch (VXĐM). Hay gặp ở vùng chất trắng
dưới vỏ, các hạch nền não, thân não, tiểu não [16], [17], [34], [75].
1.1.3. Các nguyên nhân gây nhồi máu não
6
1.1.3.1. Nguyên nhân tắc mạch não.
+ Cục tắc từ tim tới mạch não: Trong bệnh hẹp van 2 lá, rung nhĩ, hội
chứng yếu nút xoang, loạn nhịp hoàn toàn, bệnh Osler, sa van 2 lá, viêm sùi
van động mạch chủ…[2], [5], [16], [17], [19], [27], [76].
+ Cục tắc từ mạch tới não: Cục tắc thường là mảnh, mảng vữa xơ hoặc
các tổ chức bệnh lý của các động mạch lớn như động mạch chủ, động mạch
cảnh … bong ra, đi theo dòng máu gây tắc mạch não.
+ Cục tắc ngoài hệ tim mạch tới mạch não: Tắc mạch do khí trong các
trường hợp thay đổi áp suất đột ngột (Thợ lặn, du hành gia ), tắc mạch hơi
do tiêm truyền, phẫu thuật, tắc mạch do nước ối trong sinh đẻ ở sản phụ, tắc
mạch do dập nát phần mềm [8], [31], [32], [47].
1.1.3.2. Nguyên nhân gây huyết khối động mạch não
+ Tổn thương của VXĐM là mảng vữa rất giàu Cholestrol và chất xơ
làm lớp áo trong động mạch dày lên [23], [42], [50], [61].

+ Rối loạn cơ vòng: BÝ đái hoặc đái không tự chủ. Rối loạn thần kinh
thùc vật, có thể tăng tiết đờm dãi.
+ Rối loạn tâm thần chủ yếu thấy BN có rối loạn cảm xúc như dễ xúc
động, dễ cười, dễ khóc, và có triệu chứng trầm cảm [16], [17], [42].
* Các thể lâm sàng:
+ Lâm sàng huyết khối động mạch não:
8
- Huyết khối hệ động mạch cảnh trong: Hay gặp ở chỗ phân chia động
mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài từ động mạch cảnh gốc. Khi động
mạch cảnh gốc hẹp, sẽ có triệu chứng TK khu trú, điển hình là hội chứng mắt
tháp: giảm hay mất thị lực cùng bên với động mạch bị tổn thương, liệt nửa
người trung ương bên đối diện
- Huyết khối động mạch não trước: Ýt khi có rối loạn ý thức, BN
thường có biểu hiện trầm cảm, rối loạn trí nhớ, rối loạn chức năng cao cấp,
liệt nửa người trung ương đối diện bên não bị tổn thương .
- Huyết khối động mạch não giữa: BN có rối loạn ý thức, liệt nửa người
trung ương, liệt dây VII trung ương bên đối diện với bên tổn thương, liệt mặt
và tay nặng hơn chân. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân NMN động mạch não giữa
rất cao, tỷ lệ tàn tật nghiêm trọng dù đã được cấp cứu và chăm sóc đặc biệt.
- Huyết khối động mạch não sau: Bán manh cùng tên bên đối diện, mất
ngôn ngữ giác quan, mất khả năng đọc nếu tổn thương bán cầu trội.
- Huyết khối động mạch sống nền: Lâm sàng điển hình biểu hiện là các
hội chứng giao bên: liệt các dây thần kinh sọ não kiểu ngoại vi cùng bên tổn
thương, rối loạn vận động và hoặc mất cảm giác nửa người bên đối diện.
- Huyết khối tiểu não: Rối loạn ý thức từ nhẹ đến nặng, đau đầu, buồn
nôn, nôn. Mất điều hoà không tăng khi nhắm mắt như: Rối loạn phối hợp vận
động sai tầm, quá tầm, các động tác vụng về giật cục.
+ Lâm sàng tắc mạch não: Các triệu chứng lâm sàng xuất hiện đột ngột, tuỳ
theo vị trí và đường kính mạch tắc, có thể rối loạn ý thức nhẹ hoặc hôn mê.
Có thể co giật nếu cục tắc ở nhánh nhỏ ở vỏ não.

+ Chống phù não nếu có phù não.
+ Các thuốc nhằm phục hồi và cải thiện tuần hoàn não.
10
+ Các thuốc điều trị triệu chứng.
+ Đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc hộ lý, hạ thân nhiệt, phục hồi chức năng
[1], [29], [34], [75], [76].
1.1.5.2. Một số phương pháp và thuốc điều trị cụ thể
* Các thủ thuật can thiệp.
Tạo hình động mạch qua da, kỹ thuật giải phóng cục tắc, làm tiêu cục
tắc huyết khối, kỹ thuật nong rộng lòng mạch ở các động mạch bị hẹp….
* Thuốc điều trị làm tan cục máu đông (Thrombolytic drugs).
Thuốc thường dùng là: Streptokinaza, Urokinaza, rtPA, đường dùng
chủ yếu là tĩnh mạch. Cần thận trọng khi dùng thuốc, nếu không bệnh nhân sẽ
gặp nguy hiểm. Theo Hommel M. và cộng sù, dùng Streptokinaza điều trị
ĐQN làm tăng tỷ lệ tử vong. Theo các số liệu điều tra tổng quát sau điều trị
tiêu huyết khối (corchane) ở các bệnh nhân NMN cấp (số liệu thu thập từ 321
hãng dược phẩm cho đến năm 2001), bao gồm 17 thử nghiệm (NINDS,
ATLANTIS, PROACT ) trên 5216 BN, đưa vào thống kê 5144 BN trong đó:
4 thử nghiệm dùng Streptokinaza, 8 thử nghiệm dùng rtPA tĩnh
mạch(2889/5114= 56%), 2 thử nghiệm dùng rtPA động mạch. Đánh giá
chung nh sau: điều trị tiêu huyết khối tuy có tỷ lệ tử vong cao trong 7-10 ngày
đầu, tỷ lệ chảy máu trong sọ cao hơn, nhưng nếu điều trị sớm dưới 6 giờ, cứ
1000 BN sẽ loại trừ được 44 trường hợp tử vong hoặc sống thực vật. Với rtPA
tỷ lệ này cao hơn, cứ 1000 BN có 57 trường hợp thoát chết hoặc sống thực vật
nếu được điều trị trước 6 giờ, nếu trong 3 giờ đầu thì tỷ lệ này là 140/1000.
Liều rtPA được vận dụng là 0,9mg/kg cân nặng (liều tối đa 90mg) được dùng
trong vòng 01 giê, 10% liều được tiêm nhanh trong vòng vài phút đầu tiên
(bolus) [42], [44], [62].
* Thuốc chống đông:
11

chất điện giải) trong điều kiện thiếu máu cục bộ. Thuốc được dùng điều trị rối
loạn tuần hoàn não, một vài chứng bệnh về mắt (tắc mạch võng mạc). Gần
đây, được nghiên cứu dùng trong các biểu hiện: Chán nản, khác thường về
ứng xử, đau đầu mạn do căng thẳng, biểu hiện tâm thần vận động, thần kinh
do đái tháo đường, giảm sút trí tuệ, trí nhớ (khi có các biểu hiện này do rối
loạn tuần hoàn não hay có liên quan đến tuần hoàn não) [22], [37], [38], [44].
* Thuốc bảo vệ thần kinh (Neuro protective)
Thường được dùng sớm trong 6 giờ đầu như: kháng glutamate, chống
gốc tự do, chẹn canxi, cung cấp dinh dưỡng, dự phòng tổn thương khi tưới
máu… song, hiệu quả và an toàn nhất là các thuốc dinh dưỡng thần kinh, điển
hình là Cerebrolysin, Nifedipin, Nicardipin, Numodipin (Nimotop) [32], [38],
[44].
1.2. Quan niệm của y học cổ truyền về nhồi máu não.
Căn cứ vào các biểu hiện lâm sàng thì đột quỵ thuộc phạm vi chứng
“trúng phong”. Đó là tình trạng bệnh có các biểu hiện chính là đột nhiên hôn
mê, bất tỉnh, bán thân bất toại (bại liệt nửa người), mồm méo mắt lệch, nói
khó hoặc không nói được, chi thể tê bì. Bệnh thường xảy ra đột ngột, diễn
biến nhanh, tình trạng nặng nề, phức tạp [4], [14], [33], [75], [76].
Tróng phong là chứng bệnh đã được đề cập tới từ hơn 2.000 năm nay
trong các y văn cổ như “Nội kinh”, “Kim quỹ yếu lược”, qua các thời kỳ lịch
sử được bổ sung và hoàn thiện dần.
13
Nguyên nhân, cơ chế gây trúng phong rất phức tạp nhưng quy lại
không ngoài sáu yếu tố là phong (nội phong, ngoại phong), hỏa (can hỏa, tâm
hỏa), đàm (phong đàm, thấp đàm, nhiệt đàm), huyết (huyết hư, huyết ứ), khí
(khí hư, khí trệ, khí nghịch) và hư (tỳ hư, thận hư, âm hư). Trong những yếu
tố đó thì can thận âm hư là căn bản. Huyết ứ thường xuyên xảy ra, tác động
tương hỗ lẫn nhau làm cho phong động, khí huyết nghịch loạn, gây trúng
phong.
Vương Thanh Nhiệm cho rằng: Nguyên khí hư thì kinh lạc rỗng, bán

Nguyên nhân bệnh sinh: Do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều đồ
cay nóng, đồ béo ngọt hoặc do lao động quá mệt nhọc làm cho tỳ mất kiện
vận, thủy thấp sẽ tích tụ lại sinh ra đàm, đàm uất lâu ngày hoá nhiệt gây trở
trệ kinh lạc, che lấp thanh khiếu. Nếu tinh thần uất ức, quá tức giận làm cho
can phong nội động. Phong kết hợp với đàm, với nhiệt gây nên tình trạng bế
trở kinh lạc, ảnh hưởng tới sự lưu thông của khí huyết, che lấp thanh khiếu mà
gây nên bệnh.
Pháp điều trị: Hoá đàm thanh phủ.
Phương thuốc: Tinh lâu thừa khí thang gia giảm [75].
* Can thận âm hư, phong dương thượng nhiễu
Biểu hiện lâm sàng: Bệnh nhân đau đầu, chóng mặt, miệng khô, ù tai,
ngủ Ýt hay mê, đau lưng mỏi gối, chân tay tê bì. Liệt nửa người, miệng méo,
mắt lệch, nói khó. Đại tiện táo, nước tiểu vàng. Chất lưỡi đỏ, lưỡi Ýt rêu hoặc
rêu vàng. Mạch huyền tế sác hoặc huyền hoạt [75].
Nguyên nhân bệnh sinh: Theo tài liệu Tố vấn- Thiên sinh khí thông
thiên luận: Do phiền lao mà ảnh hưởng tới dương khí, dương khí thăng lên
sinh ra phong, đồng thời gây hao tổn tinh huyết. Tinh huyết bất túc thì gây
15
nên can thận âm hư, can âm không được nuôi dưỡng đầy đủ làm cho can
dương cang thịnh. Khi gặp các điều kiện bất lợi như tinh thần bị kích thích,
uống nhiều rượu, lao động quá mệt nhọc, thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột
làm cho âm hư ở dưới, dương cang thịnh ở trên, dương hoá phong động làm
cho khí huyết nghịch loạn. Đây là nội phong, nội phong nhiễu động thì hoá
hỏa thăng phù lên trên, có thể kết hợp với đàm trọc, huyết ứ gây nhiễu loạn
kinh lạc, bế trở thanh khiếu gây trúng phong.
Pháp điều trị: Tư dưỡng can thận âm, trấn can tức phong.
Phương thuốc: Trấn can tức phong thang gia giảm [3], [67], [71].
* Tỳ hư đàm thấp, đàm trọc thượng nhiễu
Biểu hiện lâm sàng: Đau đầu, chóng mặt, tức ngực, ăn Ýt, dễ nôn. Đột
ngột xuất hiện huyễn vựng, nôn, buồn nôn, nhìn đôi hoặc mắt mờ, lưỡi bệu,

can tức phong, dục âm tiềm dương [74], [75], [76].
17
+ Âm bế :
Biểu hiện lâm sàng: Ngoài các triệu chứng nh chứng bế, còn có thêm
biểu hiện sắc mặt trắng nhợt, tình trạng li bì, Ýt dãy dụa, chi thể lạnh, nhiều
đờm dãi. Bụng trướng, nhiều mồ hôi. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng dính [74],
[75], [76].
Nguyên nhân bệnh sinh: Thể trạng dương hư, âm thịnh, tỳ thận bất túc,
tâm dương hư suy, vận hoá thất thường. NÕu tinh thần u uất thì nội phong
nhiễu động, phong hợp với đàm thấp làm che lấp thanh khiếu gây nên bệnh.
Pháp điều trị: Tân ôn khai khiếu, trừ đàm tức phong.
Phương thuốc: Tô hợp hương hoàn, khi đã tỉnh dùng bài Điều đàm
thang gia giảm [71].
* Chứng thoát:
Biểu hiện lâm sàng: Bệnh nhân đột ngột ngã vật ra, bất tỉnh nhân sự,
mắt mở, miệng há, hơI thở yếu, tay chân lạnh, ra mồ hôI đầm đìa, đại tiểu tiện
dầm dề không tự chủ, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi tím tối, rêu lưỡi trắng
nhờn, mạch vi muốn tuyệt.
Nguyên nhân bệnh sinh: Tình trạng dương khí suy đến cực điểm, dễ
dẫn tới âm dương ly thoát, khí của tạng phủ và cơ thể suy kiệt sắp tuyệt. Do
vậy, tình trạng bệnh nhân thường rất nặng nề.
Pháp điều trị: Ých khí hồi dương, phù chính cố thoát.
Phương thuốc: Sâm phô thang gia vị [74], [75], [76].
1.2.2. Biện chứng luận trị giai đoạn hồi phục và di chứng
Giai đoạn này gồm các thể bệnh như sau:
* Khí hư, huyết ứ, kinh lạc trở trệ:
Biểu hiện lâm sàng: Bại liệt nửa người, chi thể tê bì, mồm méo, mắt lệch,
nói khó, sắc mặt không tươi nhuận, có thể chân tay phù. Chất lưỡi tím, ban
điểm ứ huyết. Rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch tế sáp, vô lực.
18

đỡ Ýt [60].
+ Bùi Xuân Tuyết: Nghiên cứu tác dụng điều trị NMN sau giai đoạn cấp
của viên nang “Tuần hoàn não”. Thành phần gồm: Ngưu tất, Đương quy,
Hồng hoa, Hoài sơn, Cam thảo. Nghiên cứu 132 bệnh nhân NMN sau giai
đoạn cấp, trong đó 82 BN uống bài “Tuần hoàn não”, 50 BN uống Cavin ton,
sau 3 tuần điều trị thấy: Điểm Orgogozo ở nhóm uống “Tuần hoàn não tăng”
hơn so với nhóm chứng (36, 8 và 30,8). Lượng giá hoạt động theo thang điểm
Barthel ở nhóm uống “Tuần hoàn não” tăng hơn so với nhóm chứng (32, 25
và 25,6). Các chỉ số triglycerid, cholesterol, LDL-C đều giảm, HLD-C máu
đều tăng có ý nghĩa thống kê [51].
+ Nguyễn Đức Vượng dùng bài “Kiện não hoàn” điều trị 30 bệnh nhân
NMN sau giai đoạn cấp trong một tháng: Toàn bộ BN phục hồi được chức
năng vận động (50% BN phục hồi hoàn toàn, 33,33% BN còn liệt độ I,
13,34% BN còn liệt độ II). Điểm Orgogozo tăng từ 64,33% lên 88,17% [52].
+ Tô Hoàng Linh dùng bài thuốc “Phục não” điều trị 36 BN NMN sau
giai đoạn cấp trong một tháng, kết quả nhóm nghiên cứu: Thể trúng phong
kinh lạc (25% BN được phục hồi hoàn toàn, 50% BN còn liệt độ I, 13,9% BN
còn liệt độ II). Thể trúng phong tạng phủ (5,0% BN còn liệt độ I, 2,8% bệnh
nhân còn liệt độ II, 2,8 BN còn liệt độ III) [37].
20
* Ngoài nước:
Hiệp hội Chẩn trị trúng phong cấp tính Trung Quốc nghiên cứu:
+ An cung ngưu hoàng hoàn: 53 BN tróng phong tạng phủ có hôn mê,
dùng An cung ngưu hoàng hoàn mỗi lần 1 viên hòa tan trong 20 ml nước thụt
giữ đại tràng, cứ 12 giê thụt 1 lần, liệu trình là 07 ngày. Kết quả: tốt 68%,
khá: 32%. Mét nghiên cứu khác dùng An cung ngưu hoàn hoàn hòa tan bơm
qua sonde dạ dày, 1 viên/lần, ngày 2 lần. Với thể dương bế dùng thêm Linh
dương giác, với âm bế dùng thêm Điều đàm thang. Kết quả đạt 85% [78].
+ Thanh khai linh: 40- 60 ml pha với 500 ml dung dịch Glucose 10%
truyền tĩnh mạch chậm. Nghiên cứu trên 124 BN, trong đó 111 ca đột quỵ

Kinh ban hành (2/2003); bài thuốc “Bổ dương hoàn ngũ thang” được chọn từ
sách Y lâm cải thác của Vương Thanh Nhiệm thời đại nhà Thanh (Thế kỷ 17-
18 sau Công nguyên). Bài thuốc gồm: Sinh hoàng kỳ, Quy vĩ, Xích thược,
Địa long, Hồng hoa, Xuyên khung, Đào nhân [71], [77]. Có tác dụng: Bổ khí
hoạt huyết, khư ứ thông lạc.
1.2.4.2. Các nghiên cứu cho thấy:
Bài thuốc này có tác dụng giãn mạch, chống co thắt cơ trơn, hạ thấp độ
nhớt của máu, kháng cục máu đông, hạ huyết áp, hạ lipid, cường tim, kháng
22
viêm, tăng cường chức năng miễn dịch, xúc tiến hồi phục tổn thương thần
kinh [71].
23
1.2.4.3. Các vị thuốc trong nghiên cứu:
* Hoàng kỳ (Radix Astragali)
Là rễ phơi hay sấy khô của cây
Hoàng kỳ Astragalus membranaceus
(Fisch) Bunge. Thuộc họ Đậu Fabaceae
[35], [36], [69], [72].
+ Thành phần hoá học: Sở dược
thuộc Viện nghiên cứu Y dược học Bắc
Kinh: Trong Hoàng kỳ có choline
betain, nhiều loại acid amin và
sacaroza. Những tài liệu trước chỉ mới
biết chất nhầy và chất đường. Gần đây
phát hiện trong Hoàng kỳ có chứa
lượng lớn Sebenium, Astragalosid I-
VIII, Isoflavonoid và Polysacharid.
+ Tác dụng dược lý: Hoàng kỳ có tác dụng kích thích các trung tâm miễn
dịch, thúc đẩy quá trình chuyển hoá, tăng cung lượng tim, lợi niệu, hạ áp và
kháng khuẩn. Được sử dụng nhiều trong điều trị ung thư, HIV/AIDS và một

tế bào gan, trẫn tĩnh, chống viêm, giảm đau,
giảm tổn thương do phóng xạ, ức chế ung
thư, kháng khuẩn.
+ Tác dụng YHCT : Bổ huyết, hoạt huyết, điều huyết, thông kinh, hoạt
trường vị.
* Xích thược(
(Radix Paeoniae rubrae).
Là rễ phơi hay sấy khô của cây
Thược dược Paeonia lactiflora Pall.
Họ Mao lương Ranunculaceae [35],
[36].
+ Thành phần hoá học: có tinh bét,
tanin, nhựa, chất nhầy, chất đường, sắc
tố và acid benzoic. Tỷ lệ acid benzoic
trong xích thược thấp hơn bạch thược.
+ Tác dụng dược lý: giãn mạch vành,
tăng khả năng chịu đựng thiếu oxy,
chống ngưng tập tiểu cầu, chống thiếu
25
H×nh 1.02. Qui vÜ [69]
H×nh 1.03. XÝch thîc[69]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status