1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) chiếm vị trí hàng đầu trong các
bệnh của hệ thần kinh trung ương là nguyên nhân quan trọng gây tử vong
và tàn tật phổ biến ở mọi quốc gia trên thế giới [1], [2].
Trong các thể TBMMN, nhồi máu não (NMN) chiếm đa số với tỷ lệ
75% đến 80% 3, 4. Ở Việt Nam, theo điều tra của Lê Văn Thành tại Miền
Nam cho thấy tỷ lệ TBMMN khá cao, khoảng 6.060/1.000.000 dân [5].
Cùng với sự phát triển của xã hội và y học, tỷ lệ sống sót sau
TBMMN càng lớn cũng đồng nghĩa với tỷ lệ tàn tật do TBMMN càng tăng.
Di chứng của bệnh nhân (BN) sau TBMMN bao gồm các di chứng về vận
động, cảm giác, các rối loạn chức năng cao cấp của vỏ não [6]…Một trong
số đó là tình trạng rối loạn phản xạ nuốt.
Rối loạn phản xạ nuốt (RLPXN) là vấn đề thường gặp ở bệnh nhân
đột quỵ não cấp (Tai biến mạch máu não), chiếm khoảng 42- 67% gây hít
sặc dẫn đến viêm phổi với tỷ lệ lên đến 73,4% và cũng là lý do chính để sử
dụng kháng sinh. Viêm phổi tăng nguy cơ tử vong gấp 5,4 lần. Trong đó rối
loạn nuốt làm tăng nguy cơ viêm phổi gấp 3,17 lần và hít sặc tăng nguy cơ
viêm phổi gấp 6,95 – 11,57 lần, thậm chí gấp 18 lần. Triệu chứng RLPXN
sau đột quỵ rất thường gặp chiếm 51 – 55% có nghiên cứu đến 76,5%. Phát
hiện sớm và can thiệp RLPXN không những giúp hạn chế nguy cơ viêm
phổi hít mà còn giúp giảm nguy cơ suy dinh dưỡng, giảm thời gian nằm
viện và tỉ lệ tử vong [Trích dẫn từ 7].
Trong thực hành lâm sàng điều trị sự can thiệp sớm bằng cách đặt
sonde (ống thông) dạ dày đã làm giảm đáng kể tỉ lệ hít sặc và viêm phổi do
hít cũng như tình trạng suy dinh dưỡng [8]. Nhưng chưa có biện pháp điều
trị phục hồi RLPXN cũng như nghiên cứu về điều trị RLPXN để giảm thời
2
1.1.1. Tình hình TBMMN và RLPXN trên thế giới.
Theo Bethoux, tỷ lệ mắc bệnh TBMMN của các nước phương Tây
ước tính 5% đến 10% dân số [9]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới,
mỗi năm có hơn 4,5 triệu người tử vong do TBMMN. Riêng ở Châu Á
hàng năm tử vong do TBMMN là 2,1 triệu người [3], [4].
Tai biến mạch não đa số xảy ra ở lớp người cao tuổi và tỷ lệ tăng
nhanh theo tuổi [3]. Trong từng độ tuổi mắc TBMMN, đều thấy nam nhiều
hơn nữ [10]. Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã nhấn
mạnh đến TBMMN ở người trẻ. Ở Nhật Bản người trẻ chiếm 2,7% trong
1.350 bệnh nhân TBMMN. Ở Pháp tỷ lệ mới mắc ở người trẻ là 10 đến
30/100.000 dân, chiếm 5% toàn bộ các loại TBMMN [trích dẫn từ 11].
Theo thống kê năm 2000 cho thấy ở Hoa Kỳ có khoảng 700.000 người
bị đột quỵ não mới mắc, trong đó có 500.000 trường hợp đột quỵ não lần
đầu. Dự báo đột quỵ vẫn có xu hướng tăng trong ba mươi năm tới: năm
1995 có 12,8% người Mỹ trên 65 tuổi bị đột quỵ não và tới năm 2025 sẽ có
khoảng 18,7% [12], [13].
Rối loạn nuốt rất thường gặp ở bệnh nhân TBMMN cấp, theo Perry L
và Love CP (2001) tỉ lệ này chiếm khoảng 42 – 67%. Theo Trapl M và
cộng sự thì tỉ lệ là 51 – 55% [trích dẫn từ 7].
Thad Wilkins và cộng sự (2007) qua nghiên cứu 947 bệnh nhân ghi
nhận 214/947 chiếm 22,6% bệnh nhân bị nuốt khó, trong đó 80,8% bệnh
nhân nữ và 19,2% bệnh nhân nam [14].
Gordon và cộng sự (1987) trên tổng số 91 bệnh nhân TBMMN giai
đoạn cấp có 45% bệnh nhân bị chứng nuốt khó [15].
4
1.1.2. Tình hình TBMMN và RLPXN ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây, ở nước ta TBMMN đang có chiều hướng
thường do nguyên nhân mạch máu”. Định nghĩa này cũng là tiêu chí chẩn
đoán lâm sàng, khởi phát đột ngột gặp 95% các tai biến, đó là tiêu chí có
giá trị đặc hiệu về chẩn đoán [22].
TBMMN gồm hai thể chính: Thiếu máu cục bộ não hay còn gọi là
nhồi máu não và chảy máu não.
1.2.2. Nhồi máu não
1.2.2.1. Định nghĩa: Nhồi máu não là quá trình bệnh lý trong đó động
mạch não bị hẹp hoặc bị tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não do động
mạch não đó phân bố bị giảm trầm trọng, dẫn đến chức năng vùng não đó
bị rối loạn [3].
1.2.2.2. Lâm sàng: phụ thuộc vào vị trí ổ nhồi máu.
Nhồi máu não thuộc hệ động mạch cảnh
Nhồi máu động mạch não giữa
+ Nhồi máu nhánh nông của động mạch não giữa
Rối loạn vận động, cảm giác đối diện với bên bị tổn thương:
o Liệt nửa người với ưu thế tay – mặt do tổn thương hồi trán lên.
o Giảm cảm giác nông và sâu nửa người do tổn thương hồi đỉnh lên.
o Bán manh bên đồng danh hoặc bán manh góc nếu tổn thương nhánh
sau động mạch não giữa.
Rối loạn thần kinh – tâm lý phụ thuộc bên tổn thương
o Tổn thương bán cầu ưu thế: Thất ngôn Wernick hoặc rối loạn ngôn
ngữ kiểu Broca, mất dụng ý vận, mất khả năng viết, mất khả năng tính toán.
6
o Tổn thương bán cầu không ưu thế: Phủ định, không chấp nhận nửa
người bên liệt, thờ ơ với các rối loạn, đôi khi có lú lẫn.
+ Nhồi máu não nhánh sâu của động mạch não giữa
Liệt hoàn toàn, đồng đều nửa người bên đối diện
Nhồi máu động mạch thân nền
+ Nếu nhồi máu lớn, bệnh nhân thường tử vong. Trường hợp tổn
thương nhỏ thì có các triệu chứng sau: Hội chứng tháp hai bên, liệt tứ chi,
liệt VI, liệt VII hai bên, chỉ còn động tác nhìn lên.
+ NMN các nhánh nuôi cho thân não xuất phát từ động mạch thân nền:
Cuống não: Hội chứng Weber (liệt dây III bên tổn thương, hội
chứng tiểu não đối bên).
Cầu não: Hội chứng Millard – Gubler (liệt VII ngoại biên bên tổn
thương, liệt nửa người bên đối diện), hội chứng Foville (liệt dây VI, nhìn
ngang về bên liệt, liệt nửa người đối bên).
Hành não: Hội chứng Babinski – Nageotte, Wallenberg (chóng
mặt, liệt màn hầu, lưỡi bên tổn thương, liệt nhẹ nửa người bên đối diện).
Nhồi máu tiểu não
+ Bệnh cảnh đột ngột chóng mặt, nôn, hội chứng tiểu não, nystagmus.
+ Nếu kết hợp NMN thân não sẽ có các hội chứng thân não kèm theo.
Thường có phù não chèn ép vào thân não gây tăng áp lực nội sọ cấp,
có thể gây biến chứng tụt hạnh nhân tiểu não [23], [24], [25], [26], [27].
1.2.2.3. Xét nghiệm cận lâm sàng
* Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não (CT scanner):
- Ở giai đoạn sớm, nhồi máu não có các biểu hiện rất kín đáo (mất dải đảo,
mờ nhân đậu, xoá các rãnh cuộn não, dấu hiệu động mạch tăng đậm độ, giảm
đậm độ vượt quá hai phần ba vùng phân bố của động mạch não giữa...) [28].
8
- Sau giai đoạn cấp tính, nhồi máu não có các ổ giảm đậm độ, ổ này
thường thấy rõ từ ngày thứ hai trở đi. Trường hợp hội chứng ổ khuyết: có
các ổ giảm đậm độ hình tròn hoặc hình bầu dục trong chất trắng và các hạch
nền não, đường kính nhỏ hơn 1,5cm [29].
không có dấu hiệu hô hấp, tim mạch cấp tính đe dọa tính mạng.
* Cận lâm sàng
- Chụp CLVT sọ não: Hình ảnh giảm tỷ trọng ở nhu mô não.
- Chụp MRI: Hình ảnh giảm tín hiệu trên T1, tăng tín hiệu trên T2 (là
hình ảnh chủ yếu). Hiện tượng ngấm thuốc đối quang giảm dần sau vài tháng.
1.2.2.5. Điều trị NMN sau giai đoạn cấp.
* Điều trị NMN bằng thuốc
- Dự phòng NMN bằng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (Aspegic,
Plavix…).
- Dùng phối hợp các thuốc tăng cường tuần hoàn não và bảo vệ tế
bào thần kinh (Cerebrolysin, Gliatilin, Citicolin…).
- Điều trị các yếu tố nguy cơ và bệnh kèm theo như : Tăng huyết áp,
đái tháo đường, rối loạn lipid máu….
- Chống biến chứng kèm theo: chống bội nhiễm, chống loét…
* Phục hồi chức năng sau giai đoạn cấp, chế độ ăn uống và sinh hoạt
hợp lý [33].
1.2.3. Giải phẫu và sinh lý quá trình nuốt.
1.2.3.1. Giải phẫu hầu họng .
* Hình thể ngoài: chia làm ba phần
- Phần mũi của hầu (Naopharynx): nằm ngay lỗ mũi sau, trên phần
miệng của hầu và được ngăn cách bởi khẩu cái mềm khi nuốt.
- Phần miệng của hầu (Oropharynx): thông với khoang miệng ở phía
trước qua eo họng giới hạn bởi lưỡi gà và hai cung khẩu cái. Phía dưới
10
thông với phần thanh quản của hầu. Thành sau là phía trước của đốt sống
cổ II và III.
- Phần thanh quản của hầu (Laryngopharynx): liên tiếp với hầu miệng
Các đường hướng tâm được bảo đảm do nhánh thứ hai của dây V, các
nhánh của dây IX và dây X. Trung tâm nằm ở hành tủy.
Các đường ly tâm là các dây thần kinh sọ não IX, X, XII. Các giai
đoạn họng và thực quản không chịu kiểm soát theo ý muốn [34], [35], [36].
1.2.3.2. Thiết đồ đứng dọc hầu
Hình 1.1: Cấu trúc phần hầu họng (Atlas giải phẫu người) [37]
1.2.3.3. Sinh lý nuốt.
Nuốt là động tác nửa tùy ý, nửa tự động, có cơ chế phức tạp được chia
làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn nuốt có ý thức: Viên thức ăn được đặt trên lưỡi, lưỡi cử
động lên trên và ra sau để đẩy thức ăn vào họng. Bắt đầu từ đây nuốt trở
thành phản xạ tự động.
12
- Giai đoạn họng không có ý thức: Viên thức ăn kích thích vùng nhận
cảm nuốt ở quanh vòm họng, đặc biệt trên các cột hạnh nhân. Xung động
truyền về trung tâm nuốt ở hành não theo các sợi cảm giác của dây tam
thoa, dây IX. Từ trung tâm xung động theo các dây thần kinh V, IX, X và
XII đến họng và thực quản gây co các cơ của họng theo trình tự sau:
+ Họng mềm bị kéo lên trên để đóng lỗ mũi sau, ngăn sự trào ngược
thức ăn vào khoang mũi.
+ Các nếp gấp của vòm họng ở hai bên được kéo vào giữa tạo thành
một rãnh dọc để thức ăn qua đó vào họng sau. Rãnh này không cho những
thức ăn hoặc vật có kích thước lớn đi qua.
+ Các dây thanh âm nằm sát cạnh nhau, thực quản bị kéo lên trên và ra
trước bởi các cơ cổ. Động tác này cùng với sự có mặt của các dây chằng
làm cho nắp thanh quản bị đưa ra sau che kín thanh môn, ngăn không cho
có thể giải thích tình trạng RLPXN ở những bệnh nhân không có tổn
thương kinh điển ở các vùng não được cung cấp bởi động mạch não giữa
hoặc tổn thương thân não [15], [39], [40].
Hamdy và cộng sự đã dùng kích thích từ xuyên sọ (TMS: Trancranial
Magnetic Stimulation) để thăm dò các vùng vận động của vỏ não từ đó vẻ
được bản đồ vỏ não và các cơ tương ứng đã thấy rằng tổn thương bên bán
cầu ưu thế hầu như gây RLPXN.
Veis và Logemann đã dùng chiếu điện quang có quay video (VFS:
Videofluoroscopy) để nghiên cứu cho thấy những rối loạn hay gặp nhất ở
bệnh nhân TBMMN có khó nuốt là giảm phản xạ nuốt. Giảm khả năng vận
động của lưỡi, giảm vận động của hầu họng gặp ở một nửa các trường hợp.
Giảm chức năng của nhẫn hầu hiếm gặp. Các rối loạn này thường xảy ra
cùng nhau và 40% các trường hợp có hít phải dị vật.
Như vậy trong phạm vi TBMMN thì RLPXN ở pha miệng - hầu có lẽ
là định nghĩa tốt nhất do việc cản trở thức ăn từ miệng xuống hầu để vào
thực quản. RLPXN trong phạm vi này không phải là triệu chứng chủ quan
và nó không liên quan tới bất thường của thực quản.
14
Sự hồi phục chức năng nuốt ở bệnh nhân TBMMN phụ thuộc vào diện
vận động của cơ vùng hầu họng trên bán cầu đại não không bị tổn thương,
sự nguyên vẹn của cơ quan phát động động tác nuốt ở thân não, thời gian
kéo dài của cung phản xạ hầu và mức độ tổn thương giác quan. Hamdy và
cộng sự cũng đã dùng kích thích từ xuyên sọ để theo dõi sự hoạt động của
vỏ não liên quan tới phục hồi chức năng nuốt. Ở những bệnh nhân RLPXN
có hồi phục, có sự tăng hoạt động của vùng nuốt ở bán cầu không ưu thế
sau TBMMN một tháng và ba tháng. Còn những bệnh nhân RLPXN không
hồi phục thì không có hiện tượng này. Các kết luận rút ra là sự phục hồi
phục nhược điểm đó. GUSS được Michaela Trapl và cộng sự phát triển từ
tháng 6/2005 và công bố vào tháng 10/2007 [40], [47], [48].
* Một số điểm lưu ý khi đánh giá:
- Bệnh nhân cần ngồi trên giường hoặc ghế, độ dốc tối thiểu 600 .
- Người đánh giá chắc chắn bệnh nhân có thể quan sát được mặt người
đánh giá, thìa, cốc và thức ăn của họ.
- Các tiêu chuẩn đánh giá trong thử nghiệm nuốt trực tiếp là: ho khi
nuốt hoặc sau nuốt, phải làm sạch họng , chảy nước dãi, thay đổi giọng nói.
Dừng thử nghiệm pháp khi có một trong các dấu hiệu trên.
- Một lần nuốt được quan sát bằng một lần nâng lên và hạ xuống của
sụn phễu.
1.2.4.5. Quản lý bệnh nhân TBMMN có RLPXN.
* Mục tiêu:
- Giảm tỷ lệ mắc và tử vong do nhiễm trùng hô hấp liên quan đến rối
loạn nuốt.
- Cải thiện tình trạng dinh dưỡng.
16
- Đưa bệnh nhân quay lại chế độ ăn bình thường, cải thiện chất lượng
cuộc sống
Việc quản lý nhằm mục tiêu an toàn cho bệnh nhân chờ tới khi chức
năng nuốt được phục hồi
* Chế độ dinh dưỡng
- Rối loạn phản xạ nuốt nặng: không ăn, uống đường miệng. Cho ăn
qua sonde dạ dày, nội soi mở thông dạ dày qua da. Nuôi dưỡng tĩnh mạch.
- Rối loạn phản xạ nuốt trung bình: ăn đồ đặc mịn, nước uống ngụm
nhỏ, bổ xung thêm qua sonde dạ dày, dinh dưỡng tĩnh mạch. Chế độ tùy
từng cá thể.
trong giai đoạn cấp của YHHĐ thì YHCT xếp TBMMN vào chứng trúng
phong, giai đoạn sau cấp của YHHĐ với triệu chứng liệt nửa người nổi bật
thì YHCT xếp vào chứng bán thân bất toại [50], [51].
1.3.1. Chứng trúng phong.
1.3.1.1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của chứng trúng phong.
Trúng phong còn gọi là thốt trúng vì bệnh phát sinh cấp, đột ngột và
rất nặng, triệu chứng thường nhiều biến hóa, phù hợp với tính thiện hành đa
biến của phong. Bệnh nhân đột nhiên ngã ra bất tỉnh hoặc vẫn còn tỉnh, bán
thân bất toại hoặc tứ chi không cử động được, miệng méo, mắt lệch, nói
khó [52]. Trúng phong là chứng bệnh được đề cập tới từ hơn 2000 năm nay
trong các y văn cổ như Nội kinh, Linh khu, Kim quỹ yếu lược và qua các
thời kỳ lịch sử được bổ sung, hoàn thiện dần.
Ghi chép về bệnh, bắt đầu từ Nội kinh là “tà khí xâm phạm vào nửa
người làm dinh vệ bị hao tổn nên chân khí mất, chỉ còn tà khí lưu lại gây
nên thiên khô” [50], [51].
Sách Tố vấn viết: “Người có dương khí vượng, nếu giận quá thì hình
18
khí tuyệt, huyết dồn lên trên làm người ta bị trúng phong” [50].
Các thầy thuốc đời sau do điều kiện lâm sàng và kinh nghiệm khác
nhau, nên về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, cách điều trị đối với bệnh này
ý kiến không thống nhất. Sự phát triển đó chia làm hai giai đoạn:
- Từ thời trước Đường, Tống lấy học thuyết ngoại phong là chính
[17], [53].
- Đến thời Kim Nguyên thì nêu lập luận nội phong. Đây là bước
chuyển biến lớn về nhận thức bệnh trúng phong và nguyên nhân gây ra
bệnh này [14], [51], [52], [53].
Danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) đã nói: “Trúng phong là đầu mối các
+ Khí huyết hư tà trúng vào kinh lạc: do khí huyết không đủ, mạch lạc
hư rỗng nên phong tà nhân chỗ hư trúng vào kinh lạc làm khí huyết tắc trở.
Hoặc người béo khí suy, đàm thấp thịnh, ngoại phong dẫn động đàm thấp
bế tắc kinh lạc gây nên bệnh [56].
Như vậy, nguyên nhân và cơ chế gây trúng phong rất phức tạp nhưng
quy lại không ngoài sáu yếu tố là phong (nội phong, ngoại phong), hỏa
(can hỏa, tâm hỏa), đàm (phong đàm, thấp đàm, nhiệt đàm), huyết (huyết
hư, huyết ứ), khí (khí hư, khí trệ, khí nghịch) và hư (tỳ hư, can thận hư, âm
hư). Trong những yếu tố đó thì can thận âm hư là căn bản, huyết ứ thường
xuyên xảy ra, hai yếu tố này tác động lẫn nhau làm cho phong động, khí
huyết nghịch loạn, gây trúng phong [51], [52], [53].
1.3.1.2. Phân loại của chứng trúng phong.
Kim quỹ yếu lược viết: “tà ở lạc, cơ phu bất nhân, tà ở kinh trọng bất
thắng (vận động khó), tà ở phủ bất thức nhân (có rối loạn ý thức), tà khí ở
tạng thiệt nạn ngôn, thổ đờm dãi” [53]. Trên cơ sở đó sau này phân thành
trúng phong kinh lạc (ở nông) và trúng phong tạng phủ (ở sâu) [53], [57].
* Trúng phong kinh lạc: mức độ nhẹ, liệt nửa người không có hôn
mê, tê tay chân, đi lại nặng nề, mắt miệng méo, tê liệt nửa người, rêu lưỡi
trắng, mạch phù sác.
20
* Trúng phong tạng phủ: bệnh xuất hiện đột ngột, liệt nửa người có
hôn mê, có hai chứng:
Chứng bế: bất tỉnh, răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai bàn tay nắm chặt,
da mặt đỏ, chân tay ấm, không có rối loạn cơ tròn, mạch huyền hữu lực.
Chứng thoát: bất tỉnh, mắt nhắm, miệng há, tay duỗi, chân tay lạnh, có
rối loạn cơ tròn, mạch trầm huyền vô lực.
Phân biệt tính chất hàn, nhiệt và trạng thái hư thực của bệnh [58]:
là một chứng bệnh [63], [64].
Ế là chứng nhẹ, cách là chứng nặng. Ế là bước đầu của cách, cách là
bước tăng dần. Sách Thiên kim Diễn Nghĩa viết “Ế với cách vốn cùng một
khí. Bắt đầu của chứng cách chưa bao giờ không do ế gây nên” cho nên gọi
chung là ế cách [65].
1.3.3.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.
- Ưu tư uất giận [63], [64].
Lo nghĩ có thể hại tỳ, tỳ tổn thương thì khí kết làm cho tân dịch không
được phân bố mà tụ lại thành đờm. Đờm với khí giao trở nhau ở thực quản
dần dần sinh chứng ngẹn.
Sách Y Tôn Tất Độc viết: “Đại để khí huyết suy hao, lại vì buồn lo, khí
giảm thì tỳ vị bị thương, huyết dịch hao dần, uất khí dinh đờm, đờm thì tắc lại
không thông; khí thì đi lên, không đi xuống, trở ngài đường thông, thức ăn
uống khó tiến vào nên nghẹn do đó mà sinh ra, đó là nói về lúc ban đầu. Nếu
vì uất giận hại can, can là tạng tàng huyết, can uất thì huyết dịch vận hành
không thông, đọng lại lâu thì thành ứ huyết; đờm với ứ huyết thường kết lại
với nhau, trở tắc ở miệng dạ dày nên thức ăn không xuống được”.
Từ Linh Thai nói: “Chứng nghẹn tất nhiên có ứ huyết, ngoan đàm
nghịch khí, trở cách vị khí, đó là chỉ vào tình huống này”.
- Thương tổn về ăn uống [63], [64].
Rượu với đồ ăn giúp cho thấp sinh ra nhiệt, nếu uống rượu quá nhiều
lại ăn nhiều thứ ngon béo thì dễ gây thành đờm trọc; nếu ăn nhiều thứ cay
thơm, khô nóng thì dễ làm cho hao tân táo huyết. Đờm trọc làm cho đường
22
ăn hẹp lại, huyết táo làm cho họng nuốt khô sáp, những cái đó đếu có thể
ngăn trở ở họng mà phát sinh chứng nghẹn.
Sách Lâm chứng chỉ nam nói: “Rượu thấp, thức ăn béo gây nên đờm
phần tươi sống, ấy là bệnh thất tình vậy.
1.3.3.3. Các thể lâm sàng của chứng ế cách.
Đàm khí giao trở.
- Triệu chứng lâm sàng: Nuốt bị vướng họng, ngực cách đầy tức, khi
tình chí thoải mái thì bệnh bớt, miệng khô, họng ráo, chất lưỡi hơi đỏ rêu
mỏng nhờn, mạch huyền hoạt.
- Phép điều trị: Khai uất, hóa đàm, nhuận táo.
- Phương: Khai cách tán.
Tân thiếu nhiệt kết.
- Triệu chứng lâm sàng: Nuốt vướng mắc mà đau, thức ăn đặc không
nuốt được còn lỏng thì nuốt được, người gầy mòn dần, miệng khô họng
ráo, đại tiện khô kết, ngũ tâm phiền nóng, chất lưỡi đỏ khô hoặc có vân nứt,
mạch huyền tế sác.
- Pháp điều trị: Tư dưỡng tân dịch.
- Phương: Ngũ trấp yên trung ẩm.
Ứ huyết nội kết.
- Triệu chứng lâm sàng: Đau vùng ngực cách, ăn không xuống được
lại nôn ra, thậm chí nước không nuốt vào được, có khi nôn ra thử như nước
đậu đỏ, đại tiện rắn như phân dê, sắc mặt tối trệ, hình thể ngày càng gầy
róc, da khô ráo, lưỡi đỏ hoặc hơi xanh tím, mạch tế sáp.
- Pháp điều trị: Tư âm dưỡng huyết, phá kết hành ứ.
- Phương: Thông u thang gia giảm.
Khí hư dương nhược.
- Triệu chứng lâm sàng: Là hiện tượng ăn uống không vào được kéo dài,
sắc mặt trắng nhợt, tinh thần mệt mỏi, người lạnh, khí đoản, nôn mửa ra nước,
mặt phù, chân sưng, bụng trướng, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch tế nhược.
- Pháp điều trị: Ôn bổ tỳ thận.
- Phương: Bổ khí vận tỳ thang kết hợp với Hữu quy hoàn [64], [65].
1.4.2. Châm cứu điều trị chứng ế cách.
1.4.2.1. Một số công thức huyệt.
Theo các tài liệu có nêu lên một số công thức huyệt điều trị chứng ế cách.
Theo Châm cứu Đại Thành quyển thứ 8, điều trị chứng nghẹn “ế
cách” do khí hư, huyết hư, nhiệt, đờm hỏa, huyết tích có thể cứu: Thiên
Đột, Thạch Quan, Túc Tam Lý, Vị Du, Thủy Phân, Vị Quản, Cách Du,
Khí Hải [68].
Cũng theo Châm cứu Đại Thành quyển thứ 9 điều trị chứng ngũ ế
(năm chứng ế cách) thì châm: Lao Cung, Trung Khôi, Trung Quản, Túc
Tam Lý, Đại Lăng, Chi Câu, Thượng quản [68].
Châm Cứu Học Giảng Nghĩa: Châm bình bổ bình tả Cách du, Cự
khuyết, Nội quan, Túc tam lý, Vị du. (Cách du điều hành khí huyết, Khứ ứ,
khai thông hoành cách mô; Vị du, Túc tam lý thông điều vị khí trung tiêu.).
Châm Cứu Trị Liệu học: Đưa ra công thức huyệt điều trị như sau:
+ Thực chứng châm tả: Chiên chung, Cự khuyết, Cách du, Tỳ du,
Cách quan.
+ Hư chứng châm bổ: Tỳ du, Khí hải, Cách du, Túc tam lý, Công tôn,
châm tả Lao cung.
1.4.2.2. Phác đồ huyệt sử dụng trong nghiên cứu.
- Tại chỗ: Thượng liêm tuyền (ngoài kinh), Ngoại kim tân (ngoài
kinh), Ngoại ngọc dịch (ngoài kinh); Nhân nghinh (III.9), Thủy đột (III.10),
Khí xá (III.11), Thiên đột (XIV.22).
- Toàn thân: Hợp cốc (II.4), Túc tam lý (III.36), Bách hội (XIII.20),
Thần môn (V.7), Nội quan (IX.6), Tam âm giao (IV.6), Huyết hải (IV.10),
Thái xung (XII.3), Đản trung (XIV.17), Phong trì (XI.20) hai bên.