BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
*
CAO THỊ HOA
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. NGUYỄN CÔNG KHẨN
2. PGS.TS. HỒ BÁ DO HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là CAO THỊ HOA nghiên cứu sinh khóa 31 Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương,
chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế, xin cam đoan:
1. Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
GS.TS. Nguyễn Công Khẩn và PGS.TS. Hồ Bá Do.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố
tại Việt Nam
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và
khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
tễ trung ương luôn giúp đỡ tôi nhiệt tình và tạo mọi điều kiện để tôi học tập,
nghiên cứu đạt kết quả.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quận ủy, HĐND-UBND quận Hai Bà Trưng
luôn giúp đỡ, động viên, cổ vũ tôi có thêm nghị lực trong học tập và thực hiện
đề tài nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, trạm Y tế 20
phường quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi để tôi triển khai nghiên cứu đÒ tµi.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người
thân trong gia đình đã động viên giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình
học tập và công tác.
Cao Thị Hoa
MỤC LỤC
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 37
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 39
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 39
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 39
2.2.3. Các kỹ thuật thu thập thông tin 43
2.2.4. Các giải pháp can thiệp 50
2.2.5. Chỉ số nghiên cứu 54
2.2.6. Tổ chức thu thập thông tin 56
2.3. PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 58
2.4. SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 59
2.4.1. Sai số 59
2.4.2. Khắc phục 59
2.5. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 60
2.6. GIỚI HẠN VÀ HẠN CHẾ ĐỀ TÀI 60
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61
3.1. THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT ATTP CỦA MỘT SỐ
CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG TẠI QUẬN
HAI BÀ TRƯNG, HÀ NỘI NĂM 2013. 61
3.1.1. Thực trạng điều kiện vệ sinh cơ sở nghiên cứu 63
3.1.2. Thực trạng vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ 65
3.1.3. Thực trạng vệ sinh thực phẩm 66
3.1.4. Thực trạng vệ sinh cá nhân của các đối tượng nghiên cứu 70
3.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢI PHÁP CAN THIỆP NÂNG CAO
THỰC THI PHÁP LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA MỘT
SỐ CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG TẠI QUẬN
HAI BÀ TRƯNG, HÀ NỘI NĂM 2013 - 2014 81
3.2.1. Hiệu quả thực hiện điều kiện vệ sinh cơ sở nghiên cứu 81
3.2.2. Hiệu quả thực hiện điều kiện vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ 83
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ATTP
: An toàn thực phẩm
ATVSTP
: An toàn vệ sinh thực phẩm
CAC
(Codex Alimentarius Committee)
: Ủy ban tiêu chuẩn hóa thực phẩm quốc tế
CDC
(Centers for Disease Control and
Prevention)
: Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch
bệnh tật
CSHQ
: Chỉ số hiệu quả
ĐVT
: Đơn vị tính
FAO (Food and Agriculture
Organization)
THPT
: Trung học phổ thông
TL
: Tỷ lệ
TAĐP
: Thức ăn đường phố
UBND
: Ủy ban nhân dân
VSATTP
: Vệ sinh an toàn thực phẩm
VSV
: Vi sinh vật
WHO (World Health Organization)
: Tổ chức Y tế Thế giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi 61
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 61
Bảng 3.3: Thực trạng điều kiện nhà vệ sinh 63
Bảng 3.4: Thực trạng vệ sinh rác thải của các cơ sở 63
Bảng 3.5: Thực trạng kết cấu khu chế biến, khu ăn uống 64
Bảng 3.6: Thực trạng vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ 65
Bảng 3.7: Thực trạng về sử dụng nguyên liệu thực phẩm 66
Bảng 3.8: Thực trạng về bảo quản thực phẩm 66
Bảng 3.9: Thực trạng về sử dụng phụ gia thực phẩm 67
Bảng 3.10: Thực trạng sử dụng thực phẩm nhập khẩu 68
Bảng 3.11: Thực trạng về sử dụng thực phẩm bao gói sẵn 68
Bảng 3.37: Hiệu quả xét nghiệm nhanh nước sôi, dấm, hàn the, tinh bột 85
Bảng 3.38: Hiệu quả về xét nghiệm vi sinh vật trong thực phẩm 85
Bảng 3.39: Hiệu quả thay đổi kiến thức về điều kiện khu chế biến, khu ăn uống 86
Bảng 3.40: Hiệu quả thay đổi kiến thức về vị trí, cách bảo quản nguyên
liệu TP 86
Bảng 3.41: Hiệu quả thay đổi kiến thức về vật liệu chế tạo dụng cụ chế
biến, chứa đựng thực phẩm 87
Bảng 3.42: Hiệu quả thay đổi kiến thức về sử dụng bảo hộ lao động khi
chế biến 87
Bảng 3.43: Hiệu quả thay đổi kiến thức vệ sinh cá nhân khi chế biến thực phẩm 87
Bảng 3.44: Hiệu quả thay đổi kiến thức về thực phẩm có nguồn gốc xuất xứ 88
Bảng 3.45: Hiệu quả thay đổi kiến thức về điều kiện thịt gia súc, gia cầm 88
Bảng 3.46: Hiệu quả thay đổi kiến thức về chọn rau, củ, quả an toàn 89
Bảng 3.47: Hiệu quả thay đổi kiến thức về điều kiện thực phẩm bao gói sẵn 89
Bảng 3.48: Hiệu quả thay đổi kiến thức về thực phẩm nhập khẩu 89
Bảng 3.49: Hiệu quả thay đổi kiến thức phụ gia không được sử dụng chế
biến TP 90
Bảng 3.50: Hiệu quả thay đổi kiến thức về lưu mẫu thực phẩm 90
Bảng 3.51: Hiệu quả thay đổi cách xử lý khi có ngộ độc thực phẩm tại cơ sở 91
Bảng 3.52: Hiệu quả thay đổi nơi mua thực phẩm của các cơ sở 92
Bảng 3.53: Hiệu quả thay đổi nguồn thông tin các quy định pháp luật ATTP. 93 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ cơ sở theo số nhân viên trực tiếp chế biến thực phẩm 62
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP 62
Biểu đồ 3.3: Hiểu biết về nơi mua thực phẩm của chủ/người quản lý cơ sở 73
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tập huấn kiến thức về ATTP (2013) 77
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tham gia khám sức khỏe định kỳ (2013) 78
DANH MỤC HỘP THẢO LUẬN
Hộp 3.1: Thảo luận nhóm trọng tâm về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP 62
Hộp 3.2: Thảo luận nhóm trọng tâm về điều kiện khu chế biến, khu vực
ăn uống 64
Hộp 3.3: Thảo luận nhóm trọng tâm về vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ 65
Hộp 3.4: Thảo luận nhóm trọng tâm về vệ sinh thực phẩm 66
Hộp 3.5: Thảo luận nhóm trọng tâm về bảo quản thực phẩm 67
Hộp 3.6: Thảo luận nhóm trọng tâm về lưu mẫu thực phẩm 69
Hộp 3.7: Thảo luận nhóm trọng tâm về các xét nghiệm nhanh 70
Hộp 3.8: Thảo luận nhóm trọng tâm về thực phẩm có nguồn gốc, xuất xứ 73
Hộp 3.9: Thảo luận nhóm trọng tâm về tập huấn ATTP và khám sức khỏe 78
Hộp 3.10: Thảo luận nhóm trọng tâm về vệ sinh cá nhân 80
Hộp 3.11: Nhóm thảo luận trọng tâm kiến nghị về tuyên truyền tập huấn. 80
Hộp 3.12: Nhóm thảo luận trọng tâm kiến nghị về công tác kiểm tra, giám sát 80 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện hiện nay, cuộc sống con người không ngừng được nâng cao,
chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, mọi người quan tâm nhiều hơn đến
an toàn thực phẩm. Hàng năm số vụ nhiễm khuẩn, nhiễm độc thực phẩm đã được
pháp can thiệp.
Theo báo cáo của Sở Y tế Hà Nội, năm 2014, thanh tra tuyến thành phố kiểm
tra 878 lượt cơ sở, phạt tiền 117 cơ sở vi phạm ATTP với số tiền 1.267.750.000
đồng; thanh tra tuyến quận, huyện, thị xã và các xã, phường, thị trấn kiểm tra
138.779 lượt cơ sở, cảnh cáo 848 cơ sở, phạt tiền 545 cơ sở với số tiền phạt là
1.397.145.000 đồng, đình chỉ 58 cơ sở, hủy sản phẩm 194 cơ sở [79].
Quận Hai Bà Trưng là một quận đông dân, với 310.767 người, trên địa bàn
quận có 2.442 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Quận luôn tăng cường kiểm tra
thường xuyên, đột xuất và theo chuyên đề các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến
thực phẩm. Tuy nhiên trong năm 2013, kiểm tra 756 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn
uống, xử phạt 41 cơ sở, hủy khoảng 6 tấn thực phẩm không đảm bảo chất lượng
[67]. Do vậy cần thiết phải nghiên cứu các giải pháp quản lý bảo đảm an toàn thực
phẩm hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của một quận Thủ đô của cả nước.
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng và hiệu quả giải pháp can thiệp thực thi pháp luật an toàn thực
phẩm của một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội” với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm của một số cơ sở
kinh doanh dịch vụ ăn uống tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2013.
2. Đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp nâng cao việc thực thi pháp luật
về an toàn thực phẩm của một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại quận
Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2013-2014. 3
CHƯƠNG 1
mạn tính, hiện nay chưa đủ điều kiện đánh giá, chưa chẩn đoán, thống kê và mô tả
được. Do vậy, thuật ngữ ngộ độc thực phẩm nói về một hội chứng cấp tính, xảy ra
đột ngột do ăn phải thức ăn có chứa chất độc, biểu hiện bằng những triệu chứng dạ
dày-ruột và những triệu chứng khác tùy theo đặc điểm của từng loại ngộ độc [136]
[141] [144] [145].
- Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm: là khả năng các tác nhân làm ô nhiễm xâm
nhập vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh [74].
- Nhiễm khuẩn thực phẩm (Food Borne Infection): thuật ngữ này đề cập đến
những hội chứng của một bệnh do sự xuất hiện các tác nhân lây nhiễm vi sinh vật
có sẵn trong thực phẩm gây ra (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm) mà không có
các độc tố được hình thành trước đó [139] [145].
- Bệnh truyền qua thực phẩm: là bệnh do ăn, uống thực phẩm bị nhiễm tác
nhân gây bệnh [74]. Bệnh truyền qua thực phẩm (Food Borne Disease): biểu hiện là
một hội chứng mà nguyên nhân do ăn thức ăn bị nhiễm các tác nhân gây bệnh, làm
ảnh hưởng tới sức khỏe cá thể và cộng đồng. Hiện tượng dị ứng do mẫn cảm cá
nhân với một loại thức ăn nào đó không coi là bệnh truyền qua thực phẩm [151].
1.1.2. Pháp luật an toàn thực phẩm trên thế giới
Tại Mỹ, luật lệ quy định vệ sinh an toàn thực phẩm đầu tiên của Mỹ ban
hành vào năm 1820, lúc đó chỉ quy định tiêu chuẩn cho 11 loại thịt ở Washington và
tiêu chuẩn cho thuốc của quốc gia. Các đạo luật thực phẩm của Mỹ không đưa ra
các quy định cụ thể về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm mà chỉ quy định chung sau đó
giao quyền cho các Bộ trưởng ban hành các tiêu chuẩn cụ thể. Tại mục 608 của
Luật Thanh tra thức ăn Liên bang của Mỹ quy định Bộ trưởng Nông nghiệp có trách
nhiệm “Đưa ra các quy tắc và quy định về vệ sinh mà các cơ sở giết mổ, chế biến
thức ăn…sẽ phải duy trì”[150]. Trên cơ sở quy định này của luật, bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp đã ban hành các văn bản quy định về vấn đề vệ sinh đối với các cơ
sở giết mổ và chế biến thực phẩm, bao gồm các điều kiện cụ thể về mặt bằng, cơ sở
vật chất của cơ sở; các thiết bị, dụng cụ dùng tại cơ sở; các hoạt động vệ sinh tại cơ
sở; vệ sinh của nhân viên; xây dựng, vận hành và duy trì các quy trình vận hành tiêu
Tại Malaysia, Pháp lệnh Thực phẩm năm 1983 của Malaysia được ban hành
(sau đó được sửa đổi, bổ sung vào năm 1985). Nghiên cứu pháp luật về an toàn thực
6
phẩm của Malaysia cho thấy, thường xuyên có sự rà soát lại các các quy định của
pháp luật, các tiêu chuẩn cụ thể cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của
khoa học kỹ thuật trong thực phẩm, phù hợp với yêu cầu của công nghiệp thực
phẩm và người tiêu dùng, đáp ứng với yêu cầu thương mại trong nước và quốc tế.
Là thành viên của WTO, Malaysia đã tích cực hướng tới những qui định, tiêu chuẩn
thực phẩm của mình theo Codex để tạo điều kiện cho giao lưu thương mại, trong đó
tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về tiêu chuẩn thực phẩm, thực phẩm mới,
quy định nhãn mác, quy định sử dụng các chất phụ gia thực phẩm và đã soạn thảo
quy định về thực phẩm chiếu xạ, thực phẩm biến đổi gen theo quy định của ASEAN
và Codex. Hiện nay, Malaysia vẫn đang tiếp tục xây dựng các chính sách lớn, xây
dựng chiến lược, tiêu chuẩn thực phẩm, rà soát các văn bản pháp luật và đẩy mạnh
thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm [137].
Nhật Bản có nhiều pháp lệnh liên quan đến an toàn thực phẩm như: Pháp
lệnh vệ sinh thực phẩm ban hành ngày 24/12/1947, Pháp lệnh thi hành luật vệ sinh
thực phẩm ngày 31/8/1953, Quy chế thi hành Luật vệ sinh thực phẩm ngày
13/7/1948. Dưới các pháp lệnh là các thông tư hướng dẫn về thống kê lượng thực
phẩm, quy định về xử lý ngộ độc thực phẩm Ngoài ra, còn các văn bản khác như:
thoả thuận phân vùng trong công tác sức khoẻ và vệ sinh, thoả thuận chi tiết về điều
hành hệ thống hành chính trong vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn xử lý liên quan đến
sức khoẻ và vệ sinh [131].
1.1.3. Pháp luật an toàn thực phẩm tại Việt Nam
Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội thông qua ngày 28/06/2010 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2011. Luật An toàn thực phẩm có 12 chương, 72
điều, quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong đảm bảo thực phẩm;
điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, xuất
1228/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc
gia vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2012 – 2015 [99].
- Chỉ thị 34/CT-TTg ngày 11/12/2014 của Thủ tướng chính phủ về việc tiếp tục
đẩy mạnh công tác bảo đảm an toàn thực phẩm và phòng chống ngộ độc thực phẩm
trong tình hình mới [100].
- Thông tư 15/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung bảo đảm an
8
toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm [15]. Thông tư
26/2012/TT-BYT của Bộ Y tế quy định cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện
ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng
cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước
khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực
phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế [16].
- Thông tư 30/2012/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về điều kiện an toàn thực
phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố.
Trong đó có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Y tế về chất lượng nước ăn uống,
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Y tế về chất lượng nước sinh hoạt
[11],[12],[17].
- Thông tư số 47/2014/TT-BYT ngày 11/12/2014 của Bộ Y tế hướng dẫn
quản lý an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống [18].
- Thông tư liên tịch 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT hướng dẫn việc
phân công, phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm [19]. Thông tư
số 14/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định
việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm
nông lâm thủy sản [5].
- Thành phố Hà Nội có thông tri số 06-TT/TU ngày 18/01/2012 của Ban
Thường vụ thành ủy Hà Nội về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai, đôn đốc,
kiểm tra công tác tại các địa phương về việc triển khai các nhiệm vụ, biện pháp đảm
- Các văn bản qui phạm pháp luật ban hành cần được bổ sung mới, sửa đổi
kịp thời phù hợp sự phát triển và hội nhập.
- Văn bản quy phạm pháp luật cần được tiếp cận theo hướng mới, chuyển từ
phương thức quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm (quản lý dựa trên tiêu chuẩn, quy
chuẩn công bố áp dụng); quản lý theo phương thức kiểm tra ATTP, từ công đoạn
sang quản lý theo quá trình, chuỗi cung cấp thực phẩm.
- Hệ thống văn bản kỹ thuật về an toàn thực phẩm ban hành từng bước phù
hợp các qui định quốc tế.
- Bộ máy tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ trung
ương đến địa phương; có sự phân công, phân cấp trách nhiệm cụ thể giữa các bộ,
10
giữa các sở, ban, ngành ở địa phương.
- Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm từ trung ương đến xã,
phường, thị trấn để chỉ đạo giải quyết các vấn đề mang tính liên ngành.
- Thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tại trung ương và cấp tỉnh.
Thanh tra, kiểm tra từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng thực phẩm.
- Mạng lưới kiểm nghiệm chất lượng an toàn thực phẩm ở trung ương và địa
phương; trang thiết bị kiểm nghiệm phục vụ quản lý.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật ATTP tạo sự chuyển
biến về nhận thức của nhà quản lý, người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng.
- Thực hiện pháp luật về ATTP cần được sự quan tâm và thực hiện của mọi
công dân, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, nghề nghiệp.
1.2.2. Thực trạng thực thi pháp luật an toàn thực phẩm trên thế giới
Tình hình ATTP trong khu vực và trên thế giới đang diễn biến rất phức tạp
đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa, một món ăn có thể bị ô nhiễm rất phức tạp cả
về không gian và thời gian. Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm cũng rất phức tạp ở các
khu vực khác nhau trên thế giới do ô nhiễm môi trường, thiên tai lũ lụt, gian lận
thương mại trong sản xuất, kinh doanh, chế biến và sử dụng thực phẩm. Tình trạng
nước là nguồn chủ yếu gây ô nhiễm thực phẩm. Nước lấy từ vòi chỉ có vài giờ trong
ngày, do vậy tất cả bát đũa được rửa chung trong một chậu nước và cả ngày không
thay nước [143]. Một nghiên cứu khác ở Pune (Ấn Độ) năm 2013 cho biết nguồn
nước của những người bán thức ăn trên đường phố bị lây nhiễm các vi khuẩn có
nguồn gốc từ phân. Đây là nguyên nhân của các vụ tiêu chảy [129]. Nghiên cứu ở
Peru năm 2013 cho thấy 94% người bán thực phẩm sử dụng nước công cộng, nguồn
nước tốt nhưng thường được chứa trong các bể không có nắp đậy hoặc bể khó thau
rửa dẫn đến bị ô nhiễm nguồn nước [121].
1.2.3. Thực trạng thực thi pháp luật an toàn thực phẩm tại Việt Nam
Sau khi luật An toàn thực phẩm được thông qua, thủ tướng chính phủ đã ban
hành Nghị định số 38/2012/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật An toàn thực phẩm [28]. Nhiều giải pháp về ATTP được triển khai trên toàn
quốc. Năm 2011, Chính phủ đã đề ra chiến lược ATTP từ 2011-2020, tầm nhìn tới
2030 [98]. Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể từ Trung ương
12
đến các tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã, phường đã vào cuộc quyết liệt để triển
khai có hiệu quả các quy định của pháp luật về ATTP. Tuy nhiên, việc triển khai
thực hiện các văn bản pháp luật đôi khi còn chưa kịp thời. Công tác phối hợp liên
ngành giữa các cơ quan chức năng còn chưa tốt. Nhiều chính quyền địa phương coi
công tác quản lý an toàn thực phẩm là trách nhiệm của ngành y tế nên công tác chỉ
đạo, huy động sự tham gia của các cơ quan liên quan chưa quyết liệt. Đầu tư kinh
phí từ ngân sách còn thấp, trang thiết bị và nhân lực còn hạn chế.
Theo báo cáo của Cục An toàn thực phẩm năm 2013 cho thấy, thanh kiểm tra
457.556 cơ sở, bao gồm tất cả các nhóm đối tượng, phát hiện 95.216 cơ sở vi phạm
pháp luật ATTP, chiếm 20,08%. Số bị xử phạt bằng hình thức phạt tiền là 6.497 cơ
sở với số tiền là 12.669 triệu đồng, tiêu hủy hàng chục tấn thực phẩm các loại [23].
Việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho cơ sở chế
biến, kinh doanh thực phẩm tăng hàng năm. Tuy nhiên, tỷ lệ cơ sở được cấp giấy
4- 1.102 khuẩn lạc/g và 11,4% số mẫu bột thịt, bột cá nhiễm Salmonella (2 loại vi
sinh vật không được phép có trong thức ăn chăn nuôi); 58% số mẫu bột cá có hàm
lượng nitơ phi protein cao hơn quy định. Theo nghiên cứu của Trần Quang Trung
năm 2011 về thực trạng ô nhiễm vi khuẩn trong thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh
TAĐP tại Lào Cai, tổng số vi khuẩn cao nhất trong mẫu rau sống (66%), thịt chín
các loại (51,7%), trong giò chả và các sản phẩm tinh bột chín (23,3%) [104].
Việc hướng dẫn và quản lý sử dụng thuốc kháng sinh, chất kích dục và tăng
trưởng trong chăn nuôi còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc, gây tồn dư
và làm ảnh hưởng đến tính an toàn của sản phẩm động vật. Kết quả phân tích của
Bộ NN & PTNT cho thấy, có 45,8% hộ gia đình, cơ sở chăn nuôi sử dụng kháng
sinh, 8,6% sử dụng chất kích dục và 12,5% có sử dụng chất tăng trưởng [4].
- Thực thi pháp luật ATTP trong giết mổ gia súc, gia cầm:
Tình trạng giết mổ gia súc, gia cầm thủ công, không đảm bảo vệ sinh thú y là
một yếu tố làm tăng nguy cơ ô nhiễm thực phẩm. Việc kiểm soát vệ sinh giết mổ
còn hạn chế, còn quá nhiều cơ sở giết mổ nằm ngoài tầm quản lý của chính quyền
địa phương và cơ quan thú y. Kết quả điều tra cho thấy, chỉ có 45,6% cơ sở giết mổ
được phép của chính quyền địa phương và 40,05% cơ sở giết mổ được cơ quan thú
y thẩm định các điều kiện vệ sinh thú y [4].