Lịch sử lập hiến Việt Nam - Pdf 28

Luật Hiến pháp Việt Nam Nhóm 5 - Lớp KT32E-2
LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua bao nhiêu năm cách mạng không ngừng: Vừa chiến đấu giành và giữ độc lập cho dân
tộc, tự do cho nhân dân, chủ quyền cho đất nước, vừa xây dựng, kiến thiết quốc gia trên nền tảng
dân chủ, lại đương đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, để rồi nay bước vào thời kì
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa – đó
là chặng đường mà nền lập hiến Vệt Nam đã đi qua. Đó là chặng đường chưa dài của một nền lập
hiến, cụ thể là nền lập hiến Việt Nam, chưa dài nếu so với những nền lập hiến của những quốc gia
có lịch sử hàng trăm năm, trong đó có nền lập hiến kéo dài trên hai thế kỉ. Chưa dài nhưng đầy ắp
những sự kiện lịch sử tiêu biểu, tượng trưng cho tinh thần bất khuất, khát khao tự do, độc lập của
cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Lịch sử lập hiến Việt Nam xét về mặt đó trải qua bốn bản Hiếp pháp: Hiến pháp năm 1946,
Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, và Hiến pháp năm 1992, mà thời điểm ra đời của mỗi
bản Hiến pháp đều gắn liền với thời điểm có tính chất đổi mới của cả dân tộc, xứng đáng để có thể
đem so sánh với lịch sử lập hiến hàng thế kỉ của nhiều nước. Tìm hiểu lịch sử lập hiến nước ta là
một vấn đề rất quan trọng, cùng sự so sánh với lịch sử lập hiến của nhiều nước, ta có thể nhận
thấy, tuy tuổi đời chưa nhiều nhưng đã phản ánh một thời kì phát triển sôi động, khẩn trương của
xã hội Việt Nam. Để hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn và để tự hào về Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà
nước cũng như chặng đường phát triển của nền lập hiến Việt Nam, nhóm em mạnh dạn chọn đề
tài: “Lịch sử lập hiến Việt Nam” làm đề tài cho bài tập nhóm tháng một.
NỘI DUNG
I. Khái quát về sự ra đời của Hiến pháp trong lịch sử
Theo lịch sử, xã hội loài người đã tồn tại hơn năm mươi nghìn năm, Nhà nước và pháp luật cũng
đã có gần ba nghìn năm. Nhưng Hiến pháp được hiểu như ngày nay là đạo luật cơ bản của mỗi quốc
gia để quy định tổ chức quyền lực Nhà nước, quy định các quyền tự do, dân chủ và các nghĩa vụ của
công dân chỉ bắt đầu xuất hiện vào thời kỳ cách mạng tư sản. Sự ra đời của Hiến pháp gắn liền với
việc khẳng định thắng lợi của cách mạng tư sản, đồng thời đánh dấu sự chấm dứt của chế độ cai trị
độc đoán, chuyên quyền, sử dụng bạo lực công khai và trắng trợn đã từng tồn tại hàng nghìn năm dưới
chế độ phong kiến, chế độ chiếm hữu nô lệ. Trong Nhà nước chiếm hữu nô lệ và Nhà nước phong kiến
không hề biết tới Hiến pháp.
Dưới chế độ phong kiến, vua hay hoàng đế - đại diện giai cấp thống trị phong kiến, được coi là con

nam" về tự do, dân chủ được mở rộng. Đại diện cho xu hướng này là Bùi Quang Chiêu (người
sáng lập ra Đảng lập hiến năm 1923) và Phạm Quỳnh.
Khuynh hướng thứ hai: chủ trương đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc .Sau khi giành
được độc lập sẽ xây dựng bản Hiến pháp của Nhà nước độc lập đó. Không có độc lập dân tộc thì
không thể có Hiến pháp thực sự dân chủ. Đại diện cho chủ trương này là Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh, Hồ Chí Minh. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và lịch sử lập hiến ở nước ta đã chứng
minh chủ trương này là hoàn toàn đúng đắn.
III. Hiến pháp năm 1946
Lịch sử lập hiến Việt Nam chính thức bắt đầu với bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm
1946. Hiến pháp 1946 ra đời trên một cơ sở ngay từ dầu thể hiện tính đồng nhất, nhất quán giữa cơ
sở tư tưởng - một hệ tư tưởng cách mạng đậm đà bản chất dân chủ, nhân dân với một cơ sở xã hội,
thực tế đấu tranh giai cấp, dân tộc quyết liệt, có tính sống còn của toàn dân tộc , một dân tộc bất
khuất, kiên cường vùng lên từ kiếp đời nô lệ đòi độc lập tự do.
Bản chất nhân dân, thực sự dân chủ được thể hiện đậm nét ngay từ đầu trong bản Hiến pháp đầu
tiên ra đời ngay trong năm đầu của chính quyền cách mạng và đến lượt mình, bản Hiến pháp đó
trở thành công cụ mạnh mẽ để thể chế hóa quyền của nhân dân làm chủ Nhà nước, làm chủ chế độ.
1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1946
Hiến pháp năm 1946 ra đời trong điều kiện chính quyền nhân dân còn non trẻ, thù trong giặc
ngoài còn đang tìm mọi cách làm suy yếu, lật đổ Nhà nước mới ra đời. Trong phiên họp đầu tiên
của Chính phủ (3/9/1945), Hồ Chủ Tịch đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Chính Phủ, một trong số
đó là xây dựng Hiến pháp: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ cai trị, rồi đến chế độ thực dân
không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng
quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”.
Ngày 20/9/1945, Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh thành lập ban dự thảo Hiến pháp gồm bảy người,
do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tháng 11/1945, ban dự thảo đã hoàn thành công việc và bản
dự thảo hiến pháp được công bố cho toàn dân thảo luận. Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham
gia đóng góp ý kiến cho bản dự thảo Hiến pháp -chứa đựng ước mơ bao đời của họ về độc lập và
tự do.
Trên cơ sở ban dự thảo Hiến pháp của Chính phủ, ngày 2/3/1946, Quốc hội ( Khóa 1, kì họp
thứ nhất) đã thành lập ban dự thảo Hiến pháp gồm 11người đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái

Về tính chất, Hiến pháp 1946 thể hiện rõ nét tính dân chủ nhân dân nhưng mang màu sắc của Hiến
pháp tư sản, nhất là trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Tính dân chủ nhân
dân trong Hiến pháp năm 1946 thể hiện trên các mặt:
Về hình thức chính thể và nguồn gốc quyền lực, đây là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Hiến
pháp 1946 ra đời khi nhiệm vụ giai cấp và nhiệm vụ dân tộc chi phối, gắn bó mật thiết với nhau,
khi nhiệm vụ “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn” nổi lên hàng đầu, khi “đoàn kết không
phân biệt giống nòi, giàu nghèo…”, trở thành nguyên tắc lập hiến thì các quy định của Hiến pháp
1946 chứng tỏ là đã tìm ra phương thức thể hiện một cách phù hợp: “tất cả quyền bính trong nước
là của toàn thể nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều
1). “Lời nói đầu” của Hiến pháp này cũng khẳng định: chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa là
“chính thể dân chủ”. Đây là bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước Việt Nam, là bước
ngoặt lớn trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ.
Về quyền lực nhân dân - đầy đủ trên nhiều lĩnh vực. Với việc lấy “đảm bảo các quyền tự do
dân chủ” làm một trong ba nguyên tắc chỉ đạo, Hiến pháp 1946 thực sự là một bản Hiến pháp đặc
sắc trong các Hiến pháp của các nước, của các dân tộc xưa nay nói chung. Hiến pháp 1946 của
Việt Nam đã dành hẳn một chương và chương đó đặt ở vị trí trang trọng – chương II, tiếp chương
I “chính thể” để quy định quyền và nghĩa vụ của công dân và cũng không hoàn tòan ngẫu nhiên,
Hiến pháp 1946 để dành cho chương này 13 điều trong số 70 điều của Hiến pháp để quy định các
quyền tự do dân chủ của công dân, thể hiện bản chất thật sự dân chủ và là một nền dân chủ rộng
Bài Tập Nhóm - tháng một
3
Luật Hiến pháp Việt Nam Nhóm 5 - Lớp KT32E-2
rãi của chế độ mới. Hiến pháp này ghi: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi
phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6); “tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước
pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh
của mình (Điều 7)…Có thể thấy rằng, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhân dân được đảm bảo
các quyền tự do, dân chủ; lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, quyền bình đẳng trước pháp luật
của mọi công dân được pháp luật ghi nhận; và cũng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, phụ nữ
được ngang quyền với nam giới trong mọi phương diện. Với bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta,
công dân Việt Nam được hưởng quyền bầu cử, nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu

1946 quy định đến nay vẫn còn nguyên giá trị
IV. Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp 1959, Hiến pháp thứ hai theo trình tự thời gian trong lịch sử lập hiến nước ta. Ra
đời trong những điều kiện, hoàn cảnh trong nước và quốc tế hoàn toàn khác trước, nên bên cạnh sự
kế thừa nhiều quy định của Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 còn có sự bổ sung, phát triển lớn, và
đưa cả nền lập hiến Việt Nam vào một quỹ đạo mới - nền lập hiến xã hội chủ nghĩa.
1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1959
Bài Tập Nhóm - tháng một
4
Luật Hiến pháp Việt Nam Nhóm 5 - Lớp KT32E-2
Tính đến thời điểm năm 1959, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời và phát triển
được 14 năm. Đó là một khoảng thời gian có nhiều sự kiện chính trị quan trọng làm thay đổi tình
hình chính trị, xã hội và kinh tế của đất nước.
Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 1946, thực dân Pháp lại gây ra chiến tranh để
xâm lược nước ta một lần nữa. Với Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thắng lợi,
miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Đất nước còn tạm thời chia làm hai miền Vì vậy
nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh thống nhất nước nhà.
Hiến pháp 1946, Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Nhà nước ta đã hoàn thành sứ mệnh của nó,
nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi.Vì vậy, trong
kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I đã quyết định sửa đổi Hiến
pháp 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khi làm xong bản dự thảo đầu tiên,
tháng 7 năm 1958 bản dự thảo đã được thảo luận trong các cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các
cơ quan quân, dân, chính, Đảng. Sau đợt thảo luận này, bản dự thảo đã được chỉnh lý lại và ngày 1
tháng 4 năm 1959 đem công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng. Ngày
18/2/1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo về Dự thảo
Hiến pháp sửa đổi. Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày
1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp.
2. Nội dung của Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1959 gồm có “Lời nói đầu” và 112 điều chia làm 10 chương:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status