Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, các quốc
gia đang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập.
Trong bối cảnh đó, thanh toán quốc tế (TTQT) nổi lên như là một chiếc cầu
nối giữa kinh tế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài. Hoạt động
TTQT ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế quốc dân nói chung và
hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay mỗi
quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh
tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi
nước. Trong dây chuyền hoạt động kinh tế đối ngoại của các quốc gia, thanh
toán giữa các nước sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng và vai trò của
ngân hàng trong TTQT chính là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo
an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời
tài trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập
khẩu. Việc mở rộng hoạt động TTQT trong các ngân hàng thương mại
(NHTM) là một tất yếu bởi hoạt động TTQT được xác định là nghiệp vụ căn
bản, làm tiền đề cho các nghiệp vụ khác phát triển như: kinh doanh ngoại tệ,
tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương,… tăng tính
thanh khoản, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong nước cũng như
quốc tế.
Ở nước ta cùng với quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới,
hoạt động TTQT cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ và thực sự đã có
những tác động to lớn đến chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong những
năm vừa qua.
Trong quá trình thực tập tại phòng TTQT thuộc chi nhánh
NHNo&PTNT Nam Hà Nội, em nhận thấy hoạt động TTQT được Ngân hàng
xem như một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của mình. Hoạt
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động TTQT đã mang lại cho NHNo&PTNT Nam Hà Nội nguồn thu nhập
hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước… Các khoản tín dụng của Ngân
hàng cho Chính phủ là nguồn quan trọng để đầu tư phát triển.
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng
nhất. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ
nhằm ổn định kinh tế.
Như vậy, NHTM thực chất là một doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động dưới sự kiểm soát, quản lý, điều tiết của ngân hàng Nhà nước, thực hiện
kinh doanh tiền tệ tín dụng, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi
và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
Đặc trưng quan trọng của NHTM là nguồn hoạt động chính từ bên
ngoài, hoạt động của NHTM chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật và của
NHNN Việt Nam. Để tiến hành hoạt động kinh doanh tiền tệ điều trước tiên
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là bản thân nhà kinh doanh phải có vốn và có “năng lực cao” trong kinh
doanh. Các hoạt động (hay nghiệp vụ) của ngân hàng chỉ có thể hình thành và
phát triển trên cơ sở phát sinh các nhu cầu của hoạt động kinh tế.
Ngân hàng là một doanh nghịêp cung cấp dịch vụ cho công chúng và
doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định
các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách
có hiệu quả.
Các dịch vụ ngân hàng bao gồm:
- Mua bán ngoại tệ:
Một trong số những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao
đổi (mua bán) ngoại tệ - tức là: một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền
này lấy một loại tiền khác và ngân hàng đó được hưởng phí dịch vụ. Trong thị
trường tài chính tiền tệ hiện nay, việc mua bán ngoại tệ thường chỉ do các
ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro
nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
+ Tài trợ dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,
các ngân hàng đã năng động hơn trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới
đặc biệt là trong các ngnàh công nghệ cao. Mặc dù rủi ro trong loại hình tín
dụng này cao song lãi lại lớn.
- Bảo quản vật có giá:
Ngân hàng thực hiện lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách
hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách hàng tờ biên
nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Giấy chứng nhận được sử
dụng như tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng
của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán
bằng tiền giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vào ngân hàng để đổi lấy chứng nhận của ngân hàng. Ngày nay vật có giá
được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bào quản.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán:
Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền
mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng,
chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và
nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Cùng với sự phát triển của công nghệ
thông tin, nhiều thể thức thanh toán phát triển như Uỷ nhiệm chi, nhờ thu,
L/C, thanh toán bằng điện, thẻ…
- Quản lý ngân quỹ:
Ngân hàng đồng ý việc quản lý thu chi cho một công ty kinh doanh và
tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh
lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
- Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ:
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở
thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ. Ngày nay, Chính phủ giành quyền
khả năng thanh toán.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý:
Nhiều ngân hàng (thường là các ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân
hàng đại lý cho các ngân hàng khác như: thanh toán hộ, phát hành hộ các
chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.1.3 Vai trò của TTQT đối với hoạt động NHTM:
1.1.3.1 TTQT ra đời từ những quan hệ kinh tế quốc tế và thúc đẩy sự
phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hình 1: Vai trò của TTQT đối với nền kinh tế
TTQT như là một chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước với phần kinh
tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy các hoạt động xuất
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Hoạt động TTQT ngày càng được khẳng định
trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại
nói riêng. Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó
tồn tại và phát triển được. Nếu hoạt động TTQT diễn ra nhanh chóng, chính
xác, an toàn thì sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ
giữa người mua và người bán một cách trôi chảy.
1.1.3.2 TTQT là một công cụ của Nhà nước nhằm hoạch định ra các
chính sách về hoạt động ngoại thương
Hoạt động TTQT luôn nằm trong tầm kiểm soát của Nhà nước, kiểm
soát lượng ngoại tệ vào, ra do hoạt động TTQT của các NHTM có ảnh hưởng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
TTQT
đối với
nền kinh tế
1. Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK
2. Bôi trơn và thúc đẩy đầu tư nước ngoài
3.Thúc đẩy phát triển sản phẩm, dịch vụ
dụng vốn vay và giám sát được tình hình kinh doanh của khách hàng. Việc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh doanh đa năng là phương sách hiệu quả để phân tán rủi ro trong kinh
doanh của ngân hàng.
1.1.3.5 TTQT góp phần tăng nguồn vốn cho NHTM.
Nghiệp vụ TTQT không chỉ tạo điều kiện thu hút khách hàng, làm tăng
số dư tiền gửi thanh toán mà trong quá trình thực hiện các phương thức TTQT
cho khách hàng, đặc biệt là phương thức tín dụng chứng từ, những khoản tiền
ký quỹ mở thư tín dụng của khách hàng tạo nguồn vốn rẻ và tương đối ổn
định cho ngân hàng. Ngoài ra các khoản khách hàng nộp để giải chấp lô hàng
nhập khẩu do ngân hàng quản lý khi chưa đến hạn thanh toán cũng là một
nguồn tạo thanh khoản cho ngân hàng dưới hình thức tiền tập trung chờ thanh
toán.
1.2 HOẠT ĐỘNG TTQT CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm hoạt động TTQT của NHTM:
Các quốc gia trên Thế giới không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa
vào các giao dịch, trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các hoạt động văn hoá, khoa
học kỹ thuật và xã hội của bản thân Quốc gia mình. Sự khác biệt về tự nhiên,
khoa học và xã hội đã làm cho lợi thế so sánh giữa các Quốc gia không thể
bằng nhau, nước này có lợi thế về mặt này nhưng lại bất lợi thế về mặt khác
và nước khác thì ngược lại. Hoạt động kinh tế đối ngoại là hoạt động trao đổi
hàng hoá và tiền tệ giữa các chủ thể của các Quốc gia khác nhau. Khác với
kinh tế nội thương, ngoài việc hàng hoá di chuyển qua biên giới ít nhất là một
nước thì kinh tế ngoại thương còn sử dụng ngoại tệ bên cạnh đồng bản tệ.
Việc thanh toán lúc này đã vượt ra khỏi phạm vi một Quốc gia liên quan đến
các Quốc gia khác trên Thế giới.
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền
tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mỗi Quốc gia. Thông qua TTQT mà dòng tiền tệ này không ngừng chảy trên
phạm vi toàn cầu.
- Ngân hàng thương mại: NHTM là chủ thể chủ yếu của các trung gian
tài chính tham gia TTQT. NHTM là một trung gian tài chính có mạng lưới
bao trùm rộng khắp trong toàn quốc, nó nắm trong tay hầu hết toàn bộ của cải
của xã hội dưới hình thứ bằng tiền, nó có đại lý ở hầu hết các quốc gia đối tác
trên phạm vi toàn cầu.
- Các chủ thể khác:
Các chủ thể khác bao gồm các pháp nhân, thể nhân hoạt động trong các
lĩnh vực phi ngân hàng như kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất nhập
khẩu lao động và chuyên gia, du lịch, vận tải, giao nhận, bảo hiểm, đầu tư và
các hoạt động ngoại giao, quân sự, giao lưu văn hoá, nghệ thuật, khoa học kỹ
thuật và xã hội.
Các chủ thể này tham gia hoạt động TTQT với tư cách là người uỷ thác
cho Ngân hàng thu hộ những khoản phải thu và ra lệnh cho Ngân hàng chi các
khoản phải chi cho người nước ngoài.
1.2.3 Các điều kiện trong TTQT
1.2.3.1 Điều kiện về tiền tệ:
Điều kiện về tiền tệ có nghĩa là việc quy định sử dụng đơn vị tiền tệ của
nước nào để tính toán và thanh toán trong hợp đồng TTQT, đồng thời quy
định cách xử lý khi có sự biến động về giá trị của đồng tiền đó trong quá trình
thực hiện hợp đồng xuất - nhập khẩu hàng hoá và thanh toán.
* Lựa chọn tiền tệ:
Đồng tiền nào được lựa chọn sử dụng trong TTQT phải được thoả
thuận giữa hai bên mua - bán, nhìn chung nước nào cũng muốn chọn đồng
tiền nước mình được sử dụng trong TTQT với lý do: qua thanh toán có thể
nâng vị thế của đồng tiền nước mình trên thị trường tiền tệ quốc tế, đồng thời
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước đó có thể chủ động trong thanh toán, không phải dùng ngoại tệ để trả nợ
thương mại quốc tế và TTQT vì khi lựa chọn đảm bảo hối đoái theo phương
pháp này, sau khi các bên đã thoả thuận thống nhất số ngoại tệ chọn đưa vào
“rổ” sẽ xác định tỷ giá trung bình của cả “rổ” tiền này với đồng tiền đã lựa
chọn trong thanh toán tại thời điểm ký.
1.2.3.2 Điều kiện về địa điểm thanh toán:
Là quy định nghĩa vụ thanh toán tiền trong hợp đồng thương mại Quốc
tế sẽ được trả ở đâu. Về phương diện lý thuyết, việc thanh toán giá trị hợp
đồng có thể diễn ra tại nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc tại một nước thứ
ba nhưng trong thực tế việc quy định địa điểm thanh toán phụ thuộc chủ yếu
vào đàm phán, dựa vào tương quan so sánh lực lượng trong quan hệ thương
mại. Thực tế nước nào cũng muốn dành quyền thanh toán tại địa điểm nước
mình có lợi vì:
- Sử dụng tối đa hiệu quả nguồn vốn thanh toán.
- Có thể nâng cao được vị thế của thị trường tiền tệ nước mình trong
quan hệ thanh toán quốc tế.
- Tạo điều kiện cho ngân hàng nước mình thu được phí nghiệp vụ.
. Chính vì vậy để thoả thuận được địa điểm thanh toán cần đàm phán ký
trong hợp đồng thanh toán Quốc tế.
1.2.3.3 Điều kiện về thời gian thanh toán:
Điều kiện về thời hạn thanh toán quy định khi nào thì người nhập khẩu
phải trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu lấy thời điểm giao hàng (chuyển giao
quyền sở hữu) làm mốc, thì thời hạn thanh toán có thể là: trả tiền trước, trả
tiền ngay, trả tiền sau, hoặc kết hợp các cách này.
- Trả tiền trước:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo quy định này, người mua phải trả tiền cho người người bán toàn
bộ hoặc một phần tiền hàng trước khi người bán chuyển giao hàng hoá dưới
quyền định đoạt của người mua hoặc trong khoảng thời gian từ khi người bán
chấp nhận đơn đặt hàng cho đến trước khi người bán thực hiện đơn hàng của
cấp cho người mua một khoản tín dụng theo sự thoả thuận giữa hai bên. Các
khoản nợ này có thể hoàn trả bằng tiền hoặc bằng hàng hoá do chính hợp
đồng hợp tác tạo ra.
1.2.4 Các phương tiện dùng trong TTQT:
1.2.4.1 Hối phiếu:
- Khái niệm: Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh yêu cầu trả tiền vô điều
kiện, do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này: Hoặc khi nhìn
thấy hối phiếu, hoặc tại một ngày cụ thể trong tương lai; hoặc tại một ngày có
thể xác định được trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một
người nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả cho
người cầm phiếu.
- Đặc điểm của Hối phiếu:
+ Tính trừu tượng: Do trên hối phiếu chỉ ghi số tiền phải trả và những nội
dung liên quan đến việc trả tiền mà không cần phải ghi nội dung quan hệ tín
dụng hoặc nguyên nhân phát sinh việc trả tiền. Hiệu lực pháp lý của hối phiếu
cũng không bị ràng buộc do nguyên nhân gì mà hối phiếu được phát sinh.
+ Tính bắt buộc phải trả tiền: Khi đến thời hạn trả tiền, người trả tiền
hối phiếu có nghĩa vụ phải trả theo đúng nội dung ghi trên hối phiếu đã được
chấp nhận, tuyệt đối không được viện lý do riêng để trì hoãn hoặc từ chối
nghĩa vụ trả tiền trừ khi hối phiếu được lập ra trái phép.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tính lưu thông: nhờ 2 đặc điểm trên mà hối phiếu có được phép
chuyển nhượng một hay nhiều lần từ người này sang người khác để làm
phương tiện thanh toán, chi trả lẫn nhau giữa các chủ thể có liên quan trong
thời gian hiệu lực của hối phiếu.
1.2.4.2 Lệnh phiếu (Promissory note) - Kỳ phiếu
- Khái niệm: Lệnh phiếu hay còn gọi là kỳ phiếu là một cam kết trả tiền
vô điều kiện do ngườ lập phiếu ký phát hứa trả một số tiền nhất định cho một
người khác, hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả cho người cầm phiếu.
+ Tính linh hoạt: Với nhiều loại thẻ đa dạng, phong phú, thẻ thích hợp
với mọi đối tượng khách hàng, khách hàng sẽ được đáp ứng để thoả mãn mọi
nhu cầu từ rút tiền mặt cho tới nhu cầu thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ.
+ Tính an toàn và nhanh chóng: Mọi giao dịch thẻ đều được thực hiện
một cách tự động thông qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ
hay điểm rút tiền tự động tới ngân hàng thanh toán nên quá trình thanh toán
thẻ diễn ra nhanh chóng. Ngân hàng bảo vệ được tiền của khách hàng bằng số
PIN, ảnh ,chữ ký, tài khoản thẻ,…nên an toàn hơn hẳn so với các phương tiện
thanh toán khác.
1.2.5 Các phương thức TTQT:
Phương thức thanh toán quốc tế là một cách thức nhất định để người
bán thu được tiền nhanh nhất, an toàn nhất và người mua trả được tiền và
nhận được hàng chuẩn xác đủ về số lượng, đúng về chất lượng, đúng thời hạn
như hợp đồng đã ký.
Tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các bên đối tác trong quan
hệ thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau cùng sử dụng một
phương thức thanh toán cho phù hợp.
Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu được dùng:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance)
- Phương thức thanh toán mở tài khoản (Open account)
- Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment)
- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1.2.5.1 Phương thức thanh toán chuyển tiền:
1.2.5.1.1 Khái niệm:
Phương thức thanh toán bằng chuyển tiền là phương thức thanh toán
trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình chuyển
một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm
nhất định bằng phương tiên chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng trả tiền
(Paying Bank)
Người thụ hưởng
(Beneficiary)
Người chuyển tiền
(Remiter)
Ngân hàng chuyển tiền
(Remitting Bank)
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.5.1.4. ưu nhược điểm:
Đây là phương thức thanh toán rất nhanh chóng, chi phí ít. Tuy nhiên khi
áp dụng, việc trả tiền hay không phụ thuộc thiện chí trả tiền của người NK. Rủi
ro sẽ xảy ra nếu sau khi nhận hàng người nhập khẩu không tiến hành chuyển
tiền hoặc cố tình dây dưa kéo dài nhằm chiếm dụng vốn của người XK.
1.2.5.2 Phương thức thanh toán mở tài khoản (Open Account):
1.2.5.2.1 Khái niệm:
Phương thức thanh toán mở tài khoản là người bán xin mở một tài
khoản (hoặc sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao
hàng hay dịch vụ, định kỳ sau khi kiểm tra, đối chiếu theo thoả thuận giữa 2
bên (tháng, quý, bán niên) người mua trả tiền cho người bán.
1.2.5.2.2. Đặc điểm của phương thức mở tài khoản:
- Đây là một phương thức không có sự tham gia của các Ngân hàng với
chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên.
(2)
(3)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.5.3.2 Các bên tham gia giao dịch thanh toán theo phương thức nhờ
thu:
- Người có yêu cầu uỷ nhiệm thu: người cung cấp dịch vụ (gọi là bên
bán).
- Ngân hàng nhận uỷ thác thu: Ngân hàng phục vụ bên bán.
- Ngân hàng xuất trình: là Ngân hàng thu hộ, thường là Ngân hàng đại
lý hoặc chi nhánh của ngân hàng nhận uỷ nhiệm thu (ở nước người mua).
- Người trả tiền: Người nhập khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung
ứng được gọi chung là bên mua.
1.2.5.3.3 Phân loại phương thức thanh toán nhờ thu và quy trình nghiệp
vụ:
* Nhờ thu trơn (Clean Collection): là phương thức thanh toán trong đó bên
bán uỷ thác cho Ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối
phiếu do chính người bán lập. Các chứng từ thương mại có liên quan đến giao dịch
bên bán đã chuyển giao trực tiếp cho bên mua, không qua Ngân hàng.
Hình 4: Quy trình nhờ thu trơn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Người mua Người bán
NH xuất trình
NH thu hộ
NH nhận uỷ
thác thu
(1)
(2) (7)
(3)
(6)
(4) (5)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bước 1: Bên bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua
Bước 2: Bên bán lập hối phiếu đòi tiền người mua, đồng thời chuyển
toàn bộ chứng từ hàng hoá uỷ nhiệm qua ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền
từ người mua.
Bước 3: Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng
phục vụ bên mua nhờ thu tiền từ người mua
Bước 4: Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu
ký chấp nhận hối phiếu.
Bước 5: Bên mua thanh toán tiền
Bước 6: Chuyển tiền trả qua ngân hàng phục vụ bên bán
Bước 7: Thanh toán tiền cho bên bán.
Trong nhờ thu kèm chứng từ người bán uỷ thác cho ngân hàng ngoài
việc thu hộ tiền còn nhờ Ngân hàng khống chế chứng từ hàng hoá đối với
người mua. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu trơn và nhờ thu kèm
chứng từ. Với cách khống chế theo bộ chứng từ này quyền lợi của bên bán
được đảm bảo hơn vì sự ràng buộc giữa việc thanh toán tiền và nhận hàng của
người mua.
1.2.5.4 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C – Letter of
Credit)
* Phương thức L/C: là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng
rộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế, chiếm khoảng 70%
giá trị thanh toán. Lý do là nó bảo đảm quyền lợi một cách tương đối cho cả
người mua và người bán.
1.2.5.4.1 Khái niệm và đặc điểm:
Phương thức thanh toán TDCT là một sự thoả thuận mà trong đó, một
ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người
xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba
Website: Email : Tel : 0918.775.368