Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mục lục
Lời nói đầu 2
Phần I: Những vấn đề lý luận chung 3
I. Quy luật mâu thuẫn 3
1. Khái niệm mâu thuẫn 3
2. Đặc điểm mâu thuẫn 4
3. Nội dung quy luật 5
II- Vai trò của vốn đầu t đối với sự phát triển của nền kinh tế 9
1. Khái niệm vốn đầu t 9
2. Tầm quan trọng của vốn đầu t 9
Phần II: Phân tích thực trạng mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn và
khả năng huy động vốn cho phát triển kinh tế Việt Nam 13
I- Nhu cầu vốn đầu t cho phát triển kinh tế Việt Nam 13
1. Mục tiêu phát triển kin2h tế 13
2. Nhu cầu vốn đầu t cho phát triển kinh tế Việt Nam 14
II- Thực trạng khả năng huy động vốn cho đầu t phát triển
kinh tế 15
1. Huy động vốn trong nớc 15
2. Huy động vốn nớc ngoài 18
III- Phân tích mâu thuẫn và một số nguyên nhân của mâu thuẫn 19
1. Phân tích mâu thuẫn 19
2. Nguyên nhân của mâu thuẫn 20
Phần III: Một số giải pháp nhằm giải quyết mâu thuẫn 21
I- Giải pháp cân đối vốn đầu t bằng nguồn vốn trong nớc 21
II- Giải pháp bảo đảm cân đối vốn đầu t bằng nguồn vốn nớc
ngoài 22
Kết luận 24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lời nói đầu
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam thời gian qua đã thu đợc những kết quả
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát
những mặt, những thuộc tính, những khuynh hớng, phát triển ngợc chiều nhau
tồn tại trong cùng một sự vật, hiện tợng, tạo nên sự vật, hiện tợng đó. Ví dụ nh
điện tích âm và dơng trong nguyên tử, đồng hoá và dị hoá trong sinh học, tích
luỹ và tiêu dùng trong kinh tế...
Cần phân biệt rằng không phải bất kì hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu
thuẫn. Bởi vì trong các sự vật, hiện tợng của thế giới khách quan không phải chỉ
tồn tại trong nó hai mặt đối lập. Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật có thể
cùng tồn tại nhiều mặt đối lập, chỉ có những mặt đối lập nào tồn tại thống nhất
trong cùng một sự vật nh một chỉnh thể, nhng có khuynh hớng phát triển ngợc
chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (sự chuyển hoá này tạo
nguồn gốc, động lực, đồng thời quy định cả bản chất, khuynh hớng phát triển
của sự vật) thì hai mặt đối lập nh vậy mới gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu
thuẫn. Ví dụ, trong một nền sản xuất xã hội xuất hiện hàng loạt các mặt có
khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau nh lực lợng sản xuất, quan hệ sản
xuất; cung và cầu; tích luỹ và tiêu dùng; nhu cầu vốn và khả năng huy động
vốn...Trong đó, lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập chính
tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì hai mặt đối lập này không chỉ là nguồn gốc, động
lực mà còn quy định rõ bản chất, khuynh hớng phát triển của nền sản xuất.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2 .Đặc điểm của mâu thuẫn
Mâu thuẫn là hiện tợng khách quan
Đối lập với các quan điểm của triết học cũ, phép biện chứng duy vật
khẳng định rằng tất cả các sự vật, hiện tợng tồn tại trong thực tại khách quan
đều chứa đựng trong nó mâu thuẫn. Sự hình thành và phát triển của mâu thuẫn
là do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sự vật, hiện tợng quy định. Mâu
thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất kì một lực lợng siêu tự nhiên nào, kể cả ý
chí của con ngời. Mỗi một sự vật, hiện tợng đang tồn tại đều là một thể thống
nhất đợc cấu thành bởi các mặt, các khuynh hớng, các thuộc tính phát triển ng-
ợc chiều nhau, đối lập nhau. Sự liên hệ, tác động qua lại, đấu tranh chuyển hoá,
3. Nội dung quy luật
Qui luật mâu thuẫn là qui luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy
vật. Quy luật này là "hạt nhân của phép biện chứng". Nó vạch ra nguồn gốc,
động lực của sự vận động, phát triển của bản thân sự vật, hiện tợng; đồng thời
tác động đến tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng.
3.1. Thống nhất của các mặt đối lập:
"Thống nhất" của các mặt đối lập đợc hiểu với ý nghĩa không phải
chúng đứng bên cạnh nhau mà là nơng tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp, cân
bằng nhng liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau. Mặt đối lập này
lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của chính mình và ngợc lại. Nếu
thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất địn sẽ không có
sự tồn tại của sự vật. Bởi vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện
không thể thiếu đợc cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tợng nào. Sự thống
nhất này là do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo nên. Ví dụ tích
luỹ và tiêu dùng là hai mặt đối lập thống nhất với nhau trong nền sản xuất.
Không có tích luỹ thì không thể thực hiện đợc quá trình tái sản xuất mở rộng và
nh vậy không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao. Ngợc
lại, nếu không đảm bảo thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng thì cũng không thể đẩy
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mạnh sản xuất phát triển. Không đẩy mạnh sản xuất phát triển thì cũng không
có tích luỹ.
Nh vậy, nhờ sự thống nhất mà sự vật tồn tại là chính nó. Sự thống nhất
tạo tính ổn định và tơng đối của sự vật.
Khái niệm "sự thống nhất của các mặt đối lập" còn đợc dùng cùng một
nghĩa với khái niệm "sự đồng nhất của các mặt đối lập". Tuy nhiên, trong trờng
hợp các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau thì hai khái niệm này không còn đồng
nghĩa với nhau nữa. Mỗi một sự vật, hiện tợng vừa là bản thân nó, vừa là một
cái khác với bản thân nó. Trong sự đồng nhất đã bao hàm sự khác nhau, không
có cái gì đồng nhất thuần tuý, không có đối lập, không có chuyển hoá.
3.2. Đấu tranh của các mặt đối lập
Tuy nhiên không phải bất kì sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều
dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát
triển đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kịên cần thiết mới dẫn đến sự
chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau. Chuyển hoá của các mặt đối lập chính
là lúc mâu thuẫn đợc giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Đó là quá
trình diễn biến rất phức tạp với rất nhiều hình thức khác nhau. Do đó không nên
hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một
cách giản đơn, máy móc nh A chuyển thành B và ngợc lại. Thông thờng mâu
thuẫn chuyển hoá theo hai phơng thức : Một là, mặt đối lập này chuyển hoá
thành mặt đối lập kia nhng ở trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật.
Ví dụ lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến chuyển
hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất t bản chủ
nghĩa và lực lợng sản xuất ở trình độ cao hơn. Hai là, cả hai mặt đối lập chuyển
hoá lẫn nhau để hình thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Nh vậy, đấu tranh đa đến sự chuyển hoá làm các mặt đối lập thay đổi
dẫn đến sự vận động. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc động lực
của sự vận động, xuyên qua quá trình vận động mà thể hiện một xu hớng tiến
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lên. Có thể khẳng định đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc và động lực
của sự phát triển.
3.3. Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh
Đó là hai mặt tồn tại trong cùng một quá trình giải quyết mâu thuẫn và
có liên quan chặt chẽ với nhau. Thống nhất tạo tiền đề cho đấu tranh. Đấu tranh
phá vỡ thể thống nhất cũ xác lập thể thống nhất mới.
Thống nhất là điều kiện để sự vật tồn tại là chính nó- nhờ có sự thống
nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết đợc các sự vật, hiện tợng tồn tại
trong thế giới khách quan. Song bản thân sự thống nhất chỉ là tạm thời, tơng
đối. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thờng xuyên,
liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn
định cũng nh khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết: "Sự thống nhất ( phù
dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo
tiềm lực mới cho nền sản suất xã hội.
2. Tầm quan trọng của vốn đầu t
Bất kì một quốc gia nào muốn tăng trởng và phát triển đều cần một điều
kiện không thể thiếu đợc, đó là phải tạo vốn cho nền kinh tế. Việt Nam cũng
nằm trong quy luật đó. Hoạt động đầu t là chìa khoá cho sự tăng trởng và phát
triển kinh tế, ngời ta không thể thực hiện đầu t mà không có vốn.
Thực tế ở nhiều nớc cho thấy: muốn giữ đợc mức tăng trởng ổn định ở
mức trung bình khoảng 6% - 7% năm cần phải duy trì mức đầu t từ 15% - 20%
GDP. Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Hàn quốc đạt tốc độ tăng trởng kinh tế
thần kỳ trong 2-3 thập kỷ gần đây, vì họ đều kiên trì thực hiện đầu t cao 30% -
40% so với GDP. Nhiều nớc nếu tỷ lệ đầu t bằng 30% GDP thì thờng đạt tốc độ
tăng trởng 7% - 8% năm. Có thể nói, để đạt tốc độ tăng trởng 1% thì tỷ lệ đầu t
phải là 4% GDP. Đối với nớc ta, các chuyên gia kinh tế cho rằng muốn tăng
GDP lên gấp 2 lần vào năm 2000 thì số vốn đầu t từ 35 - 40 tỷ USD.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong văn kiện Đại hội VIII đã chỉ rõ "Cần huy động mọi nguồn vốn
trong và ngoài nớc để đầu t phát triển, trong đó vốn trong nớc có ý nghĩa quyết
định, vốn nớc ngoài có ý nghĩa quan trọng" cụ thể là:
2.1. Với nguồn vốn đầu t trong nớc :
Trong lịch sử phát triển, các nớc phát triển kinh tế cùng dựa trên lí luận
chung là: nếu bản thân nền kinh tế không tiết kiệm nội bộ thì đó là nền kinh tế
"tiêu hao' ăn dần vào của cải, kết cục sẽ đi vào con đờng bế tắc cho sự phát
triển.
Đối với pham vi vi mô, cùng với bên ngoài nhất thiết phải có vốn đối
ứng bên trong mới có thể triển khai công trình thuận lợi. Thêm vào đó cần có
vốn để đầu t vào các công trình nh: điện, cấp thoát nớc, thông tin, giao thông và
hạ tầng xã hội khác.
Kinh nghiệm ở các nớc cho thấy cần có tích luỹ nội bộ nền kinh tế thì
mới có khả năng trở thành nớc công nghiệp hoá. Việt Nam ta trong thời gian dài