Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lời nói đầu
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam thời gian qua đã thu đợc những kết quả
bớc đầu quan trọng. Tốc độ tăng trởng kinh tế trong 5 năm liền (1996-2000) đạt
mức 7%, đời sống của nhân dân liên tục đợc cải thiện. Tuy nhiên, khó có thể
phủ nhận rằng nền kinh tế nớc ta vẫn đang tồn tại nhiều mâu thuẫn mà việc giải
quyết những mâu thuẫn này đang là một thách thức lớn cho toàn thể chúng ta.
Trong Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần thứ IX vừa qua đã đề ra chiến l-
ợc phát triển kinh tế- xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI- Chiến lợc đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền
tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp. Để thực
hiện đợc mục tiêu đó, yêu cầu về vốn là một trong những yêu cầu lớn và khó
giải quyết nhất đối với nền kinh tế. Mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn và khả năng
huy động vốn hiện đang là một trong những mâu thuẫn bên trong nổi cộm nhất.
Theo tính toán sơ bộ, trong giai đoạn 1997-2001, Việt Nam cần huy động
khoảng 40-42 tỉ USD. Đây thực sự là con số khổng lồ khi biết rằng tổng sản
phẩm quốc nội hàng năm của nớc ta chỉ đạt 24 tỉ đô la.
Để nhận thức rõ hơn mâu thuẫn này, em đã chọn đề tài: "Vận dụng
triết học Mác - Lê Nin với việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn và
khả năng huy động vốn cho phát triển nền kinh tế Việt Nam ".
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phần I
những vấn đề lý luận chung
I. Quy luật mâu thuẫn
1. Khái niệm mâu thuẫn
Mâu thuẫn là mối liên hệ tác động qua lại của các mặt đối lập.
Trong đó, mặt đối lập là những yếu tố, những bộ phận, những khuynh
hớng trái chiều nhau.
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát
những mặt, những thuộc tính, những khuynh hớng, phát triển ngợc chiều nhau
vận động và phát triển khách quan của chính bản thân các sự vật, hiện tợng.
Mâu thuẫn mang tính phổ biến
Mâu thuẫn là hiện tợng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và
t duy của con ngời. Khoa học tự nhiên hiện đại chứng minh rằng thế giới vi mô
là sự thống nhất giữa những thực thể có điện tích trái dấu, giữa hạt và trờng, hạt
và phản hạt. Trong sinh học có hấp thụ và bài tiết, di truyền và biến dị. Xã hội
loài ngời có những mâu thuẫn phức tạp hơn, đó là mâu thuẫn giữa lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng; giữa những giai
cấp đối kháng nh chủ nô và nô lệ, nông dân và địa chủ, t sản và vô sản. Trong
hoạt động kinh tế mâu thuẫn cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn nh mâu thuẫn
giữa cung và cầu, tích luỹ và tiêu dùng, tính kế hoạch hoá của từng xí nghiệp,
công ty với tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất hàng hoá, mâu thuẫn
giữa nhu cầu vốn và khả năng huy động vốn cho nền sản xuất... Trong t duy của
con ngời cũng có những mâu thuẫn nh chân lý và sai lầm...
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự vật kết thúc.
Trong mỗi một sự vật, mâu thuẫn đợc hình thành không phải chỉ có một mà có
thể có nhiều mâu thuẫn, vì sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập.
Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành. Ăngghen chỉ ra rằng
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chính sự vận động đơn giản nhất của vật chất cũng là một mâu thuẫn. Vật chất
tồn tại ở hình thức vận động cao hơn, mâu thuẫn thể hiện càng rõ nét hơn. Nó
gắn liền với sự vật, xuyên suốt quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của
sự vật. Đó chính là những thuộc tính quy định tính khách quan và phổ biến của
mâu thuẫn.
Nh vậy, mâu thuẫn là một hiện tợng khách quan và phổ biến, hình
thành từ những cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn có tự thân của tất cả các sự
vật, hiện tợng trong bản thân thế giới khách quan. Do đó, trong hoạt động thực
tiễn phải biết phân tích từng mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận
thức đợc bản chất, khuynh hớng vận động, phát triển của sự vật, hiện tợng
3.2. Đấu tranh của các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời
sự đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự bài
trừ, gạt bỏ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Bởi vì do các mặt đối lập có
xu hớng trái ngợc nhau mà trong quá trình tồn tại, mỗi mặt đối lập này lại vận
động theo xu hớng vốn có của mình dẫn đến chúng ảnh hởng, hạn chế và kìm
hãm lẫn nhau. Sự đấu tranh, chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các
mặt trong thế giới khách quan thể hiện dới nhiều dạng khác nhau và đợc chia
thành nhiều giai đoạn.
Giai đoạn hình thành mâu thuẫn: Ban đầu các yếu tố trong sự vật,
hiện tợng chỉ tồn tại với t cách là sự khác nhau. Những yếu tố ấy cứ vận động
theo những xu hớng riêng làm cho sự khác nhau dần trở nên sự khác biệt. Sự
khác biệt cứ tăng dần rồi chuyển thành sự đối lập. Các yếu tố lúc này trở thành
các mặt đối lập. Các mặt đối lập tác động qua lại lẫn nhau để tạo nên sự vật và
qua đó tạo nên mâu thuẫn. Nh vậy, trong giai đoạn hình thành mâu thuẫn sự
thống nhất là chủ yếu.
Giai đoạn phát triển mâu thuẫn: Các mặt đối lập cứ tiếp tục vận
động theo những xu hớng riêng trái ngợc nhau. Giữa chúng đã xảy ra sự hạn
chế, kìm hãm lẫn nhau. Sự đấu tranh xuất hiện. Các mặt đối lập dần chuyển
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thành các đối cực. Mâu thuẫn đã phát triển đến đỉnh cao và yêu cầu đợc giải
quyết.
Giai đoạn giải quyết mâu thuẫn: Khi mâu thuẫn đã phát triển đến
đỉnh cao và trong những điều kiện phù hợp thì mâu thuẫn sẽ đợc giải quyết
bằng cách xảy ra sự chuyển hoá của các mặt đối lập. Sự vật cũ mất đi, sự vật
mới đợc hình thành. Sau khi mâu thuẫn đợc giải quyết, sự thống nhất của hai
mặt đối lập cũ đợc thay thế bằng sự thống nhất của hai mặt đối lập mới. Hai mặt
đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn đợc giải
quyết, sự vật mới hơn xuất hiện. Cứ nh thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm
đối. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thờng xuyên,
liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn
định cũng nh khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết: "Sự thống nhất ( phù
hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm
thời thoáng qua của tơng đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau
là tuyệt đối, cũng nh sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối".
ý nghĩa phơng pháp luận của quy luật mâu thuẫn
Mâu thuẫn là một hiện tợng khách quan và phổ biến, hình thành từ
những cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn có và tự thân của tất cả các sự vật,
hiện tợng trong thế giới khách quan. Do đó trong hoạt động thực tiễn phải biết
phân tích từng mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức đợc bản
chất, khuynh hớng vận động, phát triển của sự vật, hiện tợng.
Sự vật khác nhau thì mâu thuẫn cũng khác nhau, mỗi sự vật đều có
nhiều mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn lại có đặc điểm riêng của nó; quá trình phát
triển của một mâu thuẫn, ở mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng. Do đó,
phải biết phân tích cụ thể từng mâu thuẫn và tìm cách giải quyết cụ thể cho từng
loại mâu thuẫn đó.
Cần nắm vững nguyên tắc để giải quyết mâu thuẫn. Đó là sự đấu tranh
giữa hai mặt đối lập diễn ra theo quy luật phá vỡ cái cũ để thiết lập cái mới tiến
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bộ hơn. Vì vậy, trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu tranh đợc coi là chân
chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả lĩnh vực kinh tế, xã hội. Đặc biệt, trong nền
kinh tế của các nớc đang phát triển, trong đó có nớc ta. Việc nắm rõ nguyên nhân
cũng nh thực trạng của từng loại mâu thuẫn sẽ giúp ta tìm ra phơng hớng giải
quyết hợp lý. Tuy nhiên với phạm vi nghiên cứu của đề tài, em chỉ xin đi sâu
nghiên cứu mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn và khả năng huy động vốn cho phát triển
nền kinh tế nớc ta. Và để hiểu rõ vấn đề, trớc hết ta đi tìm hiểu đôi chút về vốn đầu
t và vai trò của nó đối với việc phát triển kinh tế.
Đối với pham vi vi mô, cùng với bên ngoài nhất thiết phải có vốn đối
ứng bên trong mới có thể triển khai công trình thuận lợi. Thêm vào đó cần có
vốn để đầu t vào các công trình nh: điện, cấp thoát nớc, thông tin, giao thông và
hạ tầng xã hội khác.
Kinh nghiệm ở các nớc cho thấy cần có tích luỹ nội bộ nền kinh tế thì
mới có khả năng trở thành nớc công nghiệp hoá. Việt Nam ta trong thời gian dài
có tích luỹ âm, đến nay mức tích luỹ gộp cũng chỉ dới 20%, vẫn cha đủ điều
kiện cho sự phát triển nhanh trong những năm tới.
2.2. Với nguồn vốn nớc ngoài:
Thu hút vốn đầu t nớc ngoài là rất quan trọng, góp phần đáng kể vào
việc đẩy nhanh nhịp độ tăng trởng kinh tế.Nhờ đó mà nớc sở tại có thể tiếp nhận
đợc công nghệ tiên tiến, đặc biệt là những nớc có nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu
dựa vào nông nghiệp. Việc tiếp thu này còn giúp nớc sở tại tăng năng suất lao
động, tạo ra những ngành nghề mới và phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, nhờ học
tập đợc kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nớc ngoài nên việc điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có hiệu quả hơn, tạo thêm đợc
công ăn việc làm cho ngời lao động, góp phần đào tạo cán bộ có kỹ thuật và
trình độ chuyên môn cao. Thông qua đó ngời lao động sẽ có nguồn thu nhập ổn
định, đời sống đợc đảm bảo.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2.3. Mối quan hệ giữa vốn huy động trong nớc và vốn huy động từ nớc
ngoài.
Đối với một nớc đang phát triển, để phát triển kinh tế để từ đấy thoát ra
khỏi cảnh đói nghèo thì vấn đề nan giải ngay từ đầu là thiếu vốn gay gắt. Từ đó
dẫn tới thiếu nhiều thứ cần thiết khác cho sự phát triển nh công nghệ, cở sở hạ
tầng... Do đó, để có đợc những bớc đi ban đầu cho sự phát triển kinh tế không
thể không huy động vốn từ nớc ngoài. Không một nớc đang phát triển nào trên
con đờng phát triển lại không tranh thủ nguồn vốn đầu t nớc ngoài, nhất là trong
điều kiện kinh tế mở.