Vấn đề xuất khẩu lao động Việt Nam sang Trung Đông - Pdf 28

GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG
1.1/ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG
1.1.1/ Vấn đề xuất khẩu lao động thoe học thuyế Mác
1.1.2/ Chính sách đối với thị trường lao động việc làm của một số nước
1.2/ VẤN ĐỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.2.1/ Khái niệm
1.2.2/ Nội dung
1.2.3/ Các hình thức xuất khẩu lao động
1.2.4/ Đặc điểm của xuất khẩu lao động
1.2.5/ Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động
1.2.6/ Rủi ro,hạn chế và lợi ích trong xuất khẩu lao động
1.2.7/ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động
1.3/ NHÌN NHẬN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU LAO ĐỘNG
TRÊN THẾ GIỚI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG TRUNG ĐÔNG THỜI GIAN QUA
2.1/ THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
2.1.1/ Cơ cấu dân số Việt Nam
2.1.2/ Đặc điểm của lao động Việt Nam
2.1.3/ Cơ cấu lao động Việt Nam
2.2/ CÁC THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG
2.3/ THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG
2.3.1/ Giới thiệu sơ lược về thị trường Trung Đông
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
1
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
2.3.2/ Lao động nước ngoài tại Trung Đông
2.3.3/ Mối quan hệ Việt Nam- Trung Đông

Trung Đông năm 2009
BẢNG 2.7 : Tiền lương lao động nhận được từ các thị trường Trung
Đông năm 2009
♦ CHƯƠNG 3
2/ ĐÁNH SỐ BIỂU ĐỒ :
♦ CHƯƠNG 1
♦ CHƯƠNG 2
BIỂU ĐỒ 2.1 : Sự gia tăng số lao động xuất khẩu sang UAE và
Qatar trong những năm qua
BIỂU ĐỒ 2.2 : Số lao động được giải quyết việc làm khi xuất khẩu
lao động sang Trung Đông những năm qua
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
3
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
Lời mở đầu
Việt Nam đã gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới (WTO), đã và đang trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng nên việc mở rộng quan
hệ thương mại với các nước trên thế giới là một điều tất yếu. Trong thời đại
toàn cầu hoá, lao động di chuyển từ nước này sang nước khác đã trở thành
hiện tượng khá phổ biến. Tuy không nhộn nhịp như tư bản và công nghệ, lao
động cũng là một yếu tố sản xuất ngày càng vượt biên giới tìm nơi có mức
thù lao cao hơn. Hơn nữa Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng
- một cơ hội lần đầu tiên chúng ta có trong lịch sử nhân khẩu học (“Cơ cấu
dân số vàng”, tức là số người trong độ tuổi lao động cao hơn số người phụ
thuộc). Theo Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, hiện nay, mỗi năm
nước ta có khoảng 1,4 – 1,6 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động. Sự
dồi dào của lực lượng này thực sự đang tạo ra cơ hội vàng cho sự phát triển
kinh tế. Tuy nhiên, đồng hành với nó là những thách thức không nhỏ về việc
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, tình trạng đô
thị hoá ngày càng mạnh, nông dân mất đất, không tìm được việc làm phù

Trung Đông không, xuất khẩu sang đây có đáp ứng được nhu cầu của người
lao động cũng như chính phủ ta mong muốn không? Từ đó đã thúc đẩy em
lựa chọn và thực hiện đề tài này “Xuất khẩu lao động Việt Nam sang
Trung Đông”
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
5
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG
VÀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1/ Vấn đề lao động :
1.1.1/ Vấn đề lao động theo học thuyết Mác :
Lao động là vấn đề trung tâm trong học thuyết Mác
- Mác khuyên rằng : “để con người tư duy, hành động, xây dựng tính hiện
thực của mình, với tư cách là con người đã thoát khỏi ảo tưởng và đạt đến
tuổi có lý trí; để con người vận động xung quanh mình, nghĩa là vận động
xung quanh cái mặt trời thật sự của mình”
- Lao động có ý thức và có mục đích, theo Mác, là cơ sở thực tiễn tạo ra
mọi vấn đề và phương hướng giải quyết những vấn đề nói trên. Với hình
thức lao động đó, con người chẳng những chiếm hữu tự nhiên mà còn qua
đó “làm thay đổi bản tính của con người”, nghĩa là “phát triển những tiềm
lực đang ngái ngủ trong bản tính đó và bắt sự hoạt động của những tiềm
lực ấy phải phục tùng quyền lực của mình”. Đó chính là những hoạt động
mang tính giống loài của con người mà với những hoạt động ấy, con
nguời
Thực tiễn lao động có ý thức là gạch nối con người với tự nhiên: ngoài
thực tiễn ấy ra thì sẽ không còn có cái gì khác, đó chính là điểm cốt tử
trong tư tưởng của Mác.
“Một bên là con người và lao động con người, bên kia là tự nhiên và vật
liệu của tự nhiên – thế là đủ”, vì vậy “chúng ta không cần phải xét người
lao động trong mối quan hệ với những người lao động khác” .Nói lao động

trình độ hợp lý hoá sản xuất, miễn là những hình thức tích luỹ ấy được thực
hiện theo chiều hướng phù hợp với bản chất của con người: con người với
tư cách là xã hội loài người thống trị được những sản phẩm do mình làm ra,
không bị những sản phẩm ấy chi phối. Thứ lao động thặng dư mang tính xã
hội để phục vụ cho nhu cầu tái sản xuất đó chính là “quỹ tái sản xuất” bắt
buộc phải là sở hữu của một cộng đồng mà Mác gọi là “liên minh những
người tự do”. Theo Mác, chỉ có trong quá trình cải biến không ngừng trình
độ sản xuất theo phương hướng đó, loài người mới tạo ra được một thế giới
phù hợp với bản chất đích thực của mình: một thế giới đã được nhân hoá
mang tính phổ biến, trong đó con người có thể sử dụng được thời gian tự
do do sức sản xuất mang lại để phát triển những tiềm lực sáng tạo trong
bản thân.
1.1.2/ Chính sách đối với thị trường lao động việc làm của một số nước :
1.1.2.1/ Xu hướng chung :
- Một là, giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, tăng tính linh
hoạt của thị trường lao động, việc làm trong tất cả các lĩnh vực của đời
sống kinh tế-xã hội. Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay và sự
tác động từ nhiều phía vào nền kinh tế của từng quốc gia, đặc biệt là
sự tác động của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
đang diễn ra mạnh mẽ, buộc các đảng dân chủ xã hội và chính phủ của
họ phải thực thi các chính sách quản lý giảm thiểu sự điều tiết từ phía
Nhà nước, nâng cao tính tự thân vận động của thị trường lao động,
việc làm, chỉ có như vậy mới bảo đảm cho nền kinh tế thị trường đạt
hiệu quả cao.
- Hai là, khống chế tiền lương thấp và trợ cấp thất nghiệp, đây là
những chính sách tỏ ra có hiệu quả trong việc thu hút đông đảo người
lao động tham gia thị trường lao động, tăng số người có việc làm,
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
7
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP

sách xã hội ở thời kỳ này hướng nhiều vào sự bình đẳng và giảm thiểu
các đặc quyền, đặc lợi đối với viên chức so với công nhân.
- Thời kỳ (1969-1982) đã đưa tỷ trọng các khoản chi xã hội tăng từ
26,2% lên mức 33,9%, đây là mức cao nhất so với các thời kỳ trước.
Cải cách lương hưu một lần nữa lại được tiến hành. Cuộc cải cách này
đã thành công. Bước ngoặt về chính sách xã hội đã bắt đầu mở ra ngay
dưới thời Chính phủ của thủ tướng Helmut Schmidr.
- Thời kỳ Liên minh “CDU-FDP”- Liên minh dân chủ thiên chúa
giáo (1982-1990) do Thủ tướng Helmut Kohl đứng đầu lên cầm quyền
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
8
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
năm 1982: Là thời kỳ diễn ra sự chuyển đổi theo hướng bảo thủ trong
nền chính trị Đức. Các cam kết về xã hội của Nhà nước được chuyển
vào thị trường và gia đình. Nhà nước xã hội được coi là Nhà nước
cạnh tranh và định hướng vào những điều kiện mới của nền kinh tế
toàn cầu hoá. Chính sách xã hội đã có bước ngoặt.
Việc chuyển các ưu tiên xã hội sang các ưu tiên về chính sách tài
chính, Nhà nước phúc lợi xã hội bắt đầu chuyển đổi thành Nhà nước
bảo hiểm.
Các yếu tố trọng tâm của Nhà nước xã hội vẫn được giữ nguyên.
Sự trì trệ của các cơ quan, các thiết chế đã cản trở cải cách và do đó
mà vẫn giữ được tính liên tục của các cấu trúc của Nhà nước phúc lợi
xã hội.
Trong các năm 1990-1998, việc thống nhất hai Nhà nước Đức và
áp dụng mô hình bảo hiểm xã hội của Tây Đức vào các bang mới phía
Đông nhằm nhanh chóng đưa mức sống ở phía Đông lên ngang bằng
với mức sống phía Tây đã làm thay đổi mạnh mẽ một số chính sách xã
hội liên quan đến lao động và việc làm. Trong chính sách xã hội đã
thiết lập hệ thống bảo hiểm xã hội trên các lĩnh vực lương hưu, thất

Tuy nhiên một loạt cải cách theo hướng tự do hoá thị trường của Liên
minh “Đỏ - Xanh” không tiến hành được do nhiều nguyên nhân, trong
đó có cả việc thiếu sự thống nhất về cương lĩnh của Chính phủ trong
lĩnh vực chính sách xã hội.
b/ Mô hình của nước Anh:
Khác với chính phủ của các đảng dân chủ xã hội, Chính phủ của
Công Đảng Anh chủ trương hoàn toàn theo hướng thị trường. Chính
phủ của Đảng bảo thủ (1976-1996) đã tiến hành những cải cách về cơ
cấu, nhờ đó càng tăng cơ hội cải cách cho Chính phủ Công Đảng. Đặc
biệt Chính phủ của bà Margaret Thatcher đã hạn chế mạnh mẽ quyền
lực của các tổ chức Công đoàn và sử dụng các biện pháp phi điều tiết
thị trường lao động. Những biện pháp này tạo điều kiện cho Công
đảng mở ra những khả năng mới năng động hoá việc làm. Vì vậy,
Chính phủ Công đảng Anh ngay lập tức đã có thể bắt đầu dự án
“Welfare to work” mà không lo phải đụng độ với giới lao động và
công đoàn.
Trong cuộc vận động tranh cử Công đảng đã cam kết tiếp tục thực
hiện chính sách tài khoá bảo thủ của Chính phủ tiền nhiệm ít nhất 2
năm và đặt nó dưới hai nguyên tắc cơ bản sau: Một là, mọi khoản chi
thường xuyên chỉ được phép thực hiện trên cơ sở lấy từ các khoản thu
thường xuyên. Các khoản nợ mới chỉ được phép dùng cho các mục
đích đầu tư. Hai là, nợ công mới cần được giữ ở mức ổn định, không
phụ thuộc vào chu kỳ thăng trầm kinh tế và không được có những can
thiệp phản chu kỳ ngắn hạn.
Chính sách ngân sách của Anh không bó hẹp hơn bất kỳ chính sách
ngân sách nào của phần lớn các Chính phủ dân chủ xã hội và tư sản
thuộc lục địa Châu Âu. Hơn nữa, bộ trưởng Ngân khố Anh còn sử
dụng các khoản thu thuế vượt trội để tài trợ cho các chương trình đặc
biệt về giáo dục, việc làm và y tế. Công đảng bắt đầu cải tổ hệ thống
thuế theo hướng bỏ hẳn hoặc bỏ gần hết thuế thu nhập đánh vào khu

quan hệ lao động theo thời hạn.
Trong khi hai biện pháp đầu được coi như là những biện pháp của một
chính sách việc làm dân chủ xã hội truyền thống, thì biện pháp cuối lại
nhằm điều tiết thị trường lao động một cách mạnh mẽ. Nhưng chính
ngay khu vực thị trường phi điều tiết của những việc làm theo thời
hạn, được trả lương thấp và hầu như không được bảo hiểm xã hội lại
chứng tỏ rằng nó đặc biệt năng động, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ.
Nếu sự phát triển này tiếp diễn, thì ở Pháp (cũng giống như ở Tây Ban
Nha) có thể sẽ xuất hiện một thị trường lao động đối lập, một bên là
khu vực được điều tiết mạnh nhưng trì trệ, và bên kia là bộ phận phi
điều tiết nhưng năng động và sẽ đẻ ra những bất bình đẳng xã hội đáng
kể.
d/ Mô hình của Đan Mạch:
Chính sách thị trường lao động của Đan Mạch ngay trong những
năm 70 và 80 của thế kỷ XX đã có những yếu tố tích cực hoá mạnh
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
11
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
mẽ. Khác với các nhà nước phúc lợi xã hội Châu Âu lục địa, trọng
tâm của chính sách việc làm là tích cực hoá nguồn lực lao động chứ
không phải trợ cấp cho những người thất nghiệp. Những yếu tố tích
cực đó đặc biệt được phát triển trong những năm 90. Song giờ đây,
trọng tâm được nhấn mạnh là nghĩa vụ đào tạo lại, bồi dưỡng và nhận
việc. Cho đến năm 2000, chiến lược tích cực hoá này càng được tăng
cường hơn theo nhiều bước, nó thu hút rất mạnh tầng lớp thanh niên,
đưa họ vào các chương trình bồi dưỡng và việc làm mới. Nét đặc biệt
của chính sách tích cực hoá thị trường lao động của Đan Mạch là
nhấn mạnh giáo dục và đào tạo. Người thất nghiệp có nghĩa vụ tham
gia thực hiện biện pháp tích cực hoá, nếu không anh ta sẽ nhanh
chóng mất quyền được hưởng trợ cấp xã hội. Nhưng anh ta cũng có

lớn nhất, có tỷ lệ nghèo khổ thấp nhất và mức chênh lệch thu nhập rất
vừa phải. Đan Mạch rất thành công trong việc thu hút lao động tham
gia vào thị trường lao động. Với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động có
việc làm đạt mức rất cao so với quốc tế và có tỷ lệ người thất nghiệp
thấp nhất trong tổ chức OECD. Phân loại theo lý thuyết công bằng,
Đan Mạch đứng hàng thứ tư trong các nước OECD, loại trừ được tình
trạng đẩy con người ra bên lề xã hội, đầu tư vào vốn người... Đan
Mạch được coi là tương đối lý tưởng ở các nước do Đảng dân chủ xã
hội cầm quyền hiện nay.
 Rút ra ưu điểm của từng mô hình có ý nghĩa thực tiễn với Việt
Nam.
a/ Ưu điểm của Cộng hoà Liên bang Đức: Lấy nền kinh tế thị trường
xã hội, sở hữu hỗn hợp làm trục xoay quanh để thực hiện các chính
sách cải cách thị trường lao động, việc làm. Nó buộc các mục tiêu cải
cách đặt ra phải gắn liền với vấn đề an sinh xã hội của người lao động
đang làm việc và cả những người đã nghỉ hưu, người thuộc tầng lớp
thấp của xã hội được chú ý nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi để
chuyển dần từ Nhà nước phúc lợi xã hội sang Nhà nước bảo hiểm xã
hội, giảm bớt gánh nặng chi ngân sách, tăng tính tự chịu trách nhiệm
với các tổ chức xã hội và người dân.
b/ Ưu điểm của nước Anh: Chủ trương hoàn toàn theo hướng thị
trường, nó giúp Chính phủ Anh mở ra những khả năng mới năng động
hoá việc làm, nó kích cầu việc làm trong khu vực lương thấp. Tuy
nhiên mô hình này có một số hạn chế: tỷ lệ đói nghèo cao gấp đôi
Đức, các dịch vụ công trong lĩnh vực vận tải, giáo duc, y tế kém hơn
phần lớn các nước lục địa.
c/ Ưu điểm của Cộng hoà Pháp: Hầu như không có ưu điểm gì đáng
nói, vì nó phải trả giá ở sự kém cỏi trong chính sách thị trường lao
động, việc làm. Nhà nước phúc lợi xã hội thời kỳ sau chiến tranh thế
giới không có sức thuyết phục cả về phương diện chi trả tài chính và

+ Hoạt động mua-bán : thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ
bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất
định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản tiền
dưới hình thức tiền lương. Còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của
mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ phải thực hiện
công việc nhất định nào đó ( do hai bên thỏa thuận ) theo ý muốn của
mình.
Nhưng hoạt động mua-bán này có một điểm đặc biệt đáng lưu ý là :
quan hệ mua-bán chưa thể chấm dứt ngay được vì sức lao động không thể
tách rời người lao động. Quan hệ này khởi đầu cho một quan hệt mới_quan
hệ lao động. Và quan hệ lao động sẽ chỉ thực sự chấm dứt khi hợp đồng lao
động ký kết giữa hai bên hết hiệu lực hoặc bị xóa bỏ hiệu lực theo thỏa
thuận của hai bên.
1.2.2/ Nội dung :
Xuất khẩu lao động gồm hai nội dung :
- Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
- Xuất khẩu lao động tại chỗ ( Xuất khẩu lao động nội biên ) : người lao
động trong nước làm việc cho các doanh nghiệp FDI, các tổ chức
quốc tế qua Internet.
Xét về nội dung: đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
14
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
+ Người lao động ở đây bao gồm: người lao động làm các công việc
phổ thông, sản xuất , giúp việc….(những công việc ít đòi hỏi trình độ
chuyên môn), chuyên gia, tu nghiệp sinh.
♦ Chuyên gia: là những người lao động có trình độ chuyên môn từ bậc
đại học trở lên
♦ Tu nghiệp sinh : chỉ những người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu

♦ Các yêu cầu về tổ chức lao động, điều kiện lao động do doanh nghiệp
xuất khẩu lao động Việt Nam đặt ra
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
15
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
♦ Doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam trực tiếp đưa lao động
sang nước ngoài, quản lý , đảm bảo quyền lwoji và nghĩa vụ cho lao
động tại nước ngoài. Vì vậy quan hệ lao động tương đối ổn định
♦ Cả người sử dụng lao động Việt Nam và lao động Việt Nam đều phải
tuân theo pháp luật nước nhập khẩu lao động
♦ Lao động cũng cần có trình độ học vấn, ngoại ngữ tốt, giao tiếp xã hội
rộng, tìm hiểu rõ các thông tin về đối tác.
1.2.4/ Đặc điểm của xuất khẩu lao động :
1.2.4.1/ Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đồng thời
cũng là hoạt động mang tính xã hội cao
- Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế ở tầm vi mô và vĩ mô.
Nói xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế vì nó đem lại lợi ích cho cả
hai bên tham gia ( bên cung và bên cầu ). Ở tầm vĩ mô, bên cung là
nước xuất khẩu lao động , bên cầu là nước nhập khẩu lao động. Ở tầm
vi mô, bên cung là người lao động mà đại diện cho họ là các tổ chức
kinh tế làm công tác xuất khẩu lao động ( gọi tắt là doanh nghiệp xuất
khẩu lao động ), bên cầu là người sử dụng lao động nước ngoài. Dù
đứng ở góc độ nào thì với tư cách là chủ thể của một hoạt động kinh tế,
cả bên cung và bên cầu khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao động
đều nhằm mục tiêu là lợi ích kinh tế. Họ luôn luôn tính toán giữa chi
phí phải bỏ ra với lợi ích thu được để có quyết định hành động cuối
cùng sao cho lợi nhất. Chính vì thế bên cạnh các quốc gia chỉ đơn thuần
là xuất khẩu hay nhập khẩu lao động thì còn có cả những quốc gia vừa
xuất khẩu vừa nhập khẩu lao động.
- Tính xã hội thể hiện ở chỗ : dù các chủ thể tham gia xuất khẩu

mua_bán.
1.2.5/ Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động
1.2.5.1/ Nhóm nhân tố khách quan
• Điều kiện kinh tế chính trị, tình hình dân số_nguồn lao động
của nước tiếp nhận lao động
Các nước tiếp nhận lao động thường là các nước có nền kinh tế
phát triển hoặc tương đối phát triển nhưng trong quá trình phát triển
kinh tế của minh họ lại thiếu hụt nghiêm trọng trong lực lượng lao động
cho một hoặc một vài lĩnh vực nao đó. Vì thế họ có nhu cầu tiếp nhận
thêm lao động ở nước khác. Ngoài ra, xuất khẩu lao động còn chịu
nhiều tác động ở sự phát triển kinh tế có ổn định hay không của nước
tiếp nhận. Nếu nền kinh tế có những biến động xấu bất ngờ xảy ra thì
hoạt động xuất khẩu lao động cũng gặp nhiều khó khăn.
Chính trị cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động. Nếu nước tiếp
nhận có tình hình chính trị không ổn định thì họ cũng có thể không có
nhu cầu tiếp nhận thêm lao động ở nước xuất khẩu.
• Điều kiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc giữa quốc gia
xuất khẩu lao động và quốc gia tiếp nhận
Nếu những điều kiện này tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí trong
hoạt động xuất khẩu lao động cũng như thuận lợi trong quá trình đưa
lao động đi và nhận lao động về. Vì thế hoạt động xuất khẩu lao động
sẽ diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn.
1.2.5.2/ Nhóm nhân tố chủ quan
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
17
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
Bao gồm hệ thống các quan điểm, chính sách và chủ trương của nhà
nước về hoạt động xuất khẩu lao động. Nếu coi trọng xuất khẩu lao
động, xác định đúng vị trí của nó trong phát triển kinh tế_xã hội sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động và ngược lại.

lột công nhân một cách quá đáng dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa
người lao động và người sử dụng lao động. Hậu quả là người lao động
sẽ bỏ việc hoặc bị sa thải. Trong trường hợp này người lao động và
doanh nghiệp xuất khẩu lao động bị thiệt hại.
- Từ phía người lao động :
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
18
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
Các rủi ro từ phía người lao động chủ yếu là do người lao động ý thức
kém, nhận thức kém đã tự ý phá vỡ hợp đồng (bỏ việc làm) để ra làm
ngoài cho các công ty tư nhân với mức thu nhập cao hơn. Trong trường
hợp này người sử dụng lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động sẽ
bị thiệt hại. Người sử dụng lao động sẽ bị thiệt hại nặng nề nếu số
người lao động bỏ việc ngày càng nhiều và nhất là trong cùng một lúc.
Khi đó có thể gây đình trệ trong sản xuất hoặc dư luận không tốt trong
xã hội của nước sở tại.
Với doanh nghiệp xuất khẩu lao động, điều đầu tiên họ phải gánh chịu
là sự mất uy tín với đối tác và thậm chí là nguy cơ mất thị trường lao
động và tiếp theo là sự thiệt hại về tài chính: chi phí đưa người lao động
về nước, chi phí tìm kiếm lao động…Nếu tình trạng này kéo dài doanh
nghiệp xuất khẩu lao động có thể bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép
xuất khẩu lao động.
- Từ phía doanh nghiệp xuất khẩu lao động :
Rủi ro phát sinh chủ yếu là do doanh nghiệp xuất khẩu lao động là các
“doanh nghiệp ma” nghĩa là hoạt động không hề có sự cho phép của cơ
quan chức năng. Thực chất hành vi của các doanh nghiệp này là lợi
dụng sự cả tin của người lao động, sự thiếu thông tin về lĩnh vực xuất
khẩu lao động và đặc biệt là khát vọng muốn đổi đời của người lao
động để lừa đảo. Trong trường hợp này người bị hại trực tiếp là người
lao động. Họ bị thiệt hịa về tài chính nặng nề, thậm chí có người đã

Là những lợi ích vật chất mà các chủ thề của nước xuất khẩu lao
động (nhà nước,doanh nghiệp xuất khẩu lao động, người lao động)
nhận được thông qua hoạt động xuất khẩu lao động.
Cụ thể như sau
+ Với người lao động : đó là thu nhập sau thuế và các hàng hóa có
giá trị có thể gửi về nước
+ Doanh nghiệp xuất khẩu lao động: là lợi nhuận từ hoạt động xuất
khẩu lao động
+ Nhà nước : là nguồn ngoại tệ thu về
1.2.7.2/ Hiệu quả về xã hội
Là tất cả những lợi ích phi vật chất có thể có được trực tiếp qua hoạt
động xuất khẩu lao động hoặc phát sinh từ hiệu quả kinh tế của hoạt
động xuất khẩu lao động nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định, phồn vinh,
hạnh phúc
Biểu hiện:
+ Khả năng đảm bảo cuộc sống cho người lao động
+ Khả năng giải quyết công ăn việc làm
+ Mối quan hệ giao lưu hợp tác với nước bạn
Và một số các khía cạnh khác liên quan đến phúc lợi xã hội.
1.3/ Nhìn nhận về các thị trường xuất nhập khẩu lao động trên thế giới :
Sự di chuyển của lao động trí thức, xuất và nhập khẩu lao động giản đơn
(unskilled labor, less-skilled labor) hay lao động chân tay (blue-collar
workers) là hiện tượng tương đối mới. Vấn đề nầy cũng phức tạp, không
thể chỉ xét ở khía cạnh thuần kinh tế.
- Những nước cần nhập khẩu lao động có hai loại :
+ Một là những nước dân số ít mà giàu tài nguyên như ở Trung Đông, ở
đây thiếu lao động trong các ngành xây dựng, dịch vụ, nhất là dịch vụ tại
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
20
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP

Riêng Phi-li-pin, hiện nay có khoảng 8 triệu người làm việc ở nước
ngoài, bằng khoảng 10 % dân số nước nầy. Hằng năm ngoại hối do lao
động xuất khẩu gửi về qua đường chính thức khoảng 10 tỉ USD, xấp xỉ
10 % GDP.
 Nhìn chung có thể thấy một số đặc điểm cơ bản liên quan đến lao động
xuất khẩu và liên quan đến những nước xuất khẩu nhiều lao động :
+ Thứ nhất, lao động giản đơn xuất khẩu sang các nước phát triển nhất là
các nước công nghiệp mới thông thường làm việc trong những môi trường
khó khăn, quyền lợi của người lao động dễ bị xâm phạm nếu việc xuất nhập
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
21
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
khẩu lao động không được tổ chức chu đáo, không có sự cam kết của xí
nghiệp dùng lao động và sự giám sát của các cơ quan của nước sở tại.
+ Thứ hai, vì là lao động giản đơn, trình độ học vấn, trình độ văn hoá của
người đi lao động nước ngoài thấp nên khó thích nghi với điều kiện văn
hoá, xã hội nước ngoài. Không ít người thất vọng với hoàn cảnh sống và
làm việc ở xứ người, và có nhiều trường hợp phạm pháp xảy ra, gây ra hình
ảnh xấu cho nước xuất khẩu lao động. Ngoài ra, cùng với điểm thứ nhất,
lao động có trình độ văn hoá thấp thường dễ bị bóc lột tại xứ người.
+ Thứ ba, nước xuất khẩu lao động hầu hết là những nước không thành
công trong các chiến lược phát triển kinh tế. Với trình độ văn hoá thấp,
người dân các nước nầy không khỏi không lo âu khi rời xứ sở ra nước
ngoài làm việc. Tại Á châu, ngay cả việc rời nông thôn để ra thành thị đối
với họ cũng không phải là sự chọn lựa dễ dàng. Thành ra, nếu trong nước
có công ăn việc làm, ít người muốn tham gia xuất khẩu lao động.
+ Thứ tư, cho đến nay, trong những nước xuất khẩu lao động chưa thấy
nước nào đưa vấn đề nầy vào trong chiến lược phát triển kinh tế chung,
trong đó lao động được đưa đi sẽ bảo đảm rèn luyện được tay nghề khi trở
về, ngoại hối thu được sẽ được dùng một cách hiệu quả trong việc du nhập

23
GVHD : TRẦN VĂN NGHIỆP
đến 59 tuổi” cũng tăng nhanh. Do vậy, số người trong độ tuổi lao
động tăng lên với tốc độ thường cao hơn nhiều so với tốc độ tăng dân
số , số người phụ thuộc giảm đi nhưng vẫn còn cao và vấn đề việc làm
vẫn chưa được giải quyết đáng kể
 Số lao động trong độ tuổi này cần xuất khẩu lao động để kiếm công
ăn việc làm.
- Việt Nam tiến đến thời kì dân số vàng :
+ Trong giai đoạn (1979-2007), “Tỷ số phụ thuộc” của lao động Việt
Nam không ngừng giảm xuống
+ Sau 28 năm, “tỷ số phụ thuộc trẻ” đã giảm mạnh tới hơn một nửa,
từ 84,2 năm 1979 chỉ còn 39,2 năm 2007 và trở thành nhân tố quyết
định làm giảm tỷ số phụ thuộc nói chung. Trong khi đó, “tỷ số phụ
thuộc già” tăng lên đôi chút, từ 13,8 lên 14,5. Điều đó cho thấy tốc độ
già hóa dân số nhanh hơn tốc độ tăng “dân số trong độ tuổi lao động”.
“Phụ thuộc trẻ” giảm, “phụ thuộc già” tăng sẽ tạo ra những vận hội và
thách thức khác nhau cho cả gia đình và xã hội.
+ Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng - một cơ hội lần
đầu tiên chúng ta có trong lịch sử nhân khẩu học (“Cơ cấu dân số
vàng”, tức là số người trong độ tuổi lao động cao hơn số người phụ
thuộc).
 Theo Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, hiện nay, mỗi năm
nước ta có khoảng 1,4 – 1,6 triệu người bổ sung vào lực lượng lao
động. Sự dồi dào của lực lượng này thực sự đang tạo ra cơ hội vàng
cho sự phát triển kinh tế, với lực lượng lao động tăng như thế để tận
dụng thời kì vàng này nước ta cần đẩy mạnh xuất khẩu lao động để
tăng cường giải quyết việc việc làm và tăng thu nhập cho người lao
động.
2.1.2/ Đặc điểm của lao động Việt Nam :

công nhân kỹ thuật giỏi còn ít.
- Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt
3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham
gia xếp hạng, theo đánh giá mới của Ngân Hàng thế giới (WB). Một
nghiên cứu khác cho thấy lao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm.
Trong khi đó, những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm
đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Một
khẳng định nữa cho thấy nguồn lao động của nước ta có năng suất lao
động quá thấp, đứng thứ 77/125 nước và vùng lãnh thổ, sau cả
Indonesia, Philippine và Thái Lan. Ngay tại Thủ đô, có chưa tới 15%
lực lượng lao động biết tiếng Anh và sử dụng thành thạo máy vi tính.
Theo bảng số liệu do PGS.TS Đặng Quốc Bảo cung cấp thì tỉ lệ lao
động không có chuyên môn ở Hà Nội hiện là 41,4%, Hải Phòng 64%,
Đà Nẵng 54,4%, TP.HCM 55% và Bà Rịa Vũng Tàu là 62,9%.Hiện
nay, nhiều doanh nghiệp không “dám” sử dụng lao động VN cho
những vị trí cần kiến thức và tay nghề cao nên sẽ có lúc chúng ta phải
nhập khẩu lao động chất lượng cao từ nước ngoài vào.
- Bên cạnh đó, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác để
hoàn thành công việc của lao động Việt Nam còn kém. Nhiều nhà
quản lý nước ngoài đã nhận xét rằng: "Lao động Việt Nam làm việc
rất tốt khi tự mình giải quyết công việc, nhưng nếu đặt họ trong một
nhóm thì hiệu quả kém đi nhiều". Chính điều này đã khiến cho nhiều
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO 34K01.2
25

Trích đoạn Công ty Dịch vụ Xuất khẩu Lao động và Chuyên gia (SULECO) Về phía chính phủ : Về phía người lao động đi xuất khẩ u: Về phía nhà nước và doanh nghiệp xuất khẩu lao động:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status