MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Gia đình có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã
hội, “gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình lại càng tốt”. Trong gia
đình, vợ, chồng, cha, mẹ, con vừa là thành viên trong gia đình, vừa là thành viên
của xã hội; hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra
những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa vợ và chồng, cha mẹ và
con cái, đó là gia đình… Để cho gia đình tồn tại và phát triển, cần phải có các điều
kiện vật chất – cơ sở kinh tế của gia đình, nuôi sống gia đình. Do vậy, chế độ tài
sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm xây dựng như là một trong các
chế định cơ bản, quan trọng nhất của pháp luật về Hôn nhân và gia đình (HN –
GĐ).
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản,
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường
hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định.
Về mặt pháp lý, quan hệ tài sản của vợ chồng là một bộ phận không thể tách
rời của quan hệ hôn nhân, xuất hiện cùng lúc với sự xuất hiện của quan hệ hôn
nhân, tồn tại trong quan hệ hôn nhân và chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Việc thiết lập quan hệ hôn nhân đồng thời làm nảy sinh quan hệ tài sản của vợ
chồng và quan hệ này tồn tại như một tất yếu khách quan của quan hệ hôn nhân.
Dưới góc độ kinh tế, quan hệ tài sản của vợ chồng là một bộ phận của quan
hệ kinh tế, do đó nó bị chi phối bởi các quy luật kinh tế của một nền tảng kinh tế
và chứa đựng trong nó các đặc trưng của nền tảng kinh tế đó. Các chế độ xã hội
dựa trên nền tảng kinh tế khác nhau thì quan hệ tài sản của vợ chồng khác nhau.
Ngay trên một nền tảng kinh tế nhất định, ở các giai đoạn lịch sử phát triển khác
nhau, quan hệ tài sản của vợ chồng cũng được nhìn nhận và xem xét một cách khác
nhau.
Hầu hết pháp luật các nước cũng như Luật HN – GĐ nước ta đều ghi nhận
chế độ tài sản riêng của vợ chồng. Thực chất đây là việc thừa nhận tính độc lập
trong quan hệ tài sản của vợ và chồng, bảo đảm tính thống nhất nội tại, chặt chẽ
thời kỳ này được áp dụng trong Luật cổ và tục lệ phong kiến là chế độ cộng đồng
toàn sản. Với quan điểm coi điền sản là chính yếu, Quốc triều hình luật đã quy
định thành phần khối tài sản chung của vợ chồng gồm ba loại: Phụ tông điền sản,
3
thê điền sản, tần tảo điền sản. Tất cả các loại tài sản này được đặt dưới sự quản lý
của người chồng – chủ gia đình. Tuy vậy, pháp luật thời Lê và tục lệ cũng đã giành
cho người vợ được tham gia vào việc quản trị tài sản chung của vợ chồng, nhất là
đối với những nhu cầu gia vụ bảo đảm đời sống chung của gia đình.
1.2. Chế độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ Pháp thuộc
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn
đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác và cuối cùng đã đầu hàng vô điều
kiện. Để thực hiện chính sách “chia để trị”, thực dân pháp đã chia nước ta thành ba
miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng điều chỉnh các
quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài
sản của vợ chồng được quy định trong Bộ luật dân sự Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ luật
dân sự Trung kỳ năm 1936 là chế độ cộng đồng toàn sản với quyền gia trưởng của
người chồng trong gia đình. Còn ở miền Nam, tập dân luật giản yếu Nam Kỳ năm
1883 không sự liệu cụ thể về chế độ tài sản của vợ chồng nên được áp dụng theo
án lệ, cho đến ngày ra đời luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình
Diệm.
1.3. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật ở miền Nam nước ta
trước ngày thống nhất đất nước (1954 - 1975)
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi chấm dứt thời kỳ kéo dài gần 80
năm Pháp thuộc. Theo hiệp định Giơnevơ, đất nước ta vẫn tạm thời bị chia cắt
thành hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt. Miền Bắc được giải phóng bước
vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, sau 1954, đế quốc Mỹ
đã thay chân thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, hòng
chia cắt lâu dài đất nước ta. Trong giai đoạn này, vấn đề pháp luật điều chỉnh các
quan hệ hôn nhân và gia đình dưới chế độ Ngụy quyền Sài gòn được thể hiện
thông qua ba vănn bản luật đó là: Luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô
luật nhà Lê đã phản ánh một cách khá trung thực và điều chỉnh một cách hợp lý
mối quan hệ giữa vợ và chồng phù hợp với thực tế xã hội việt nam. Vì vậy, địa vị
pháp lý của người vợ được cải thiện hơn hẳn so với quan niệm Nho giáo. Bộ luật
nhà Lê công nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu đối với tài sản riêng. Tài sản
riêng của vợ chồng là tài sản mà mỗi bên vợ , chồng có trước khi kết hôn, do thừa
kế do gia đình của mỗi người. Đối với tài sản này, vợ chồng đều có quyền sở hữu
riêng rẽ mặc dù những tài sản này được quản lý chung bởi vợ chồng và các tức lợi
của nó là tài sản chung. Những tài sản này chỉ tạm thời gộp vào để vợ chồng quản
lý chung trong thời gian hôn nhân. Người chồng không có quyền chiếm dụng tài
sản mà vợ được thừa kế từ dòng họ nhà mình và ngược lại, người vợ cũng vậy. Do
đó, khi ly hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về sở hữu riêng của người đó và họ
có quyền mang theo, trừ trường hợp ly hôn do người vợ có lỗi như gian dâm thì
điền sản của vợ phải để lại cho chồng (điều 401).
5
Sự thừa nhận người vợ có quyền sở hữu tài sản riêng là điểm tiến bộ của
Quốc triều hình luật mà không tìm thấy trong pháp luật phong kiến Trung Quốc
cũng như trong Hoàng Việt luật lệ vì Hoàng Việt luật lệ được sao chép nguyên văn
từ luật nhà Thanh.
Dưới thời kỳ Pháp thuộc, với chính sách chia để trị, thực dân Pháp đã chia
nước ta thành ba miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng
điều chỉnh các quan hệ HN - GĐ, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng.
Thời kỳ đầu, các án lệ ở Nam Kỳ đã áp dụng theo quan niệm người vợ có tài
sản riêng và chế độ hôn sản là theo chế độ cộng đồng tài sản; nhưng sau đó các án
lệ lại đổi hướng không công nhận quyền có tài sản riêng của người vợ với lập luận
rằng: “nếu công nhận chế độ cộng đồng tài sản tức là đã gán cho người vợ những
quyền ngang hàng với quyền của ngườ chồng, trong khi đó trong gia đình, người
vợ chỉ có địa vị như địa vị của một người con gái”. Tất cả tài sản trong gia đình
đều thuộc sở hữu và quản lý của người chồng. Như vậy, chế độ tài sản của vợ
chồng được áp dụng tại Nam Kỳ dưới thời kỳ Pháp thuộc đã rất bất công đối với
người vợ, kể cả những tài sản do người vợ tạo ra được khi hành nghề riêng trước