1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, Thể dục thể
thao đã và đang phát triển không ngừng trở thành một bộ phận không thể tách
rời trong đời sống hoạt động tinh thần của nhân loại. Tập luyện TDTT không
những nâng cao sức khỏe, phát triển cơ thể cân đối về trí tuệ, nhân cách, đạo
đức mà còn hoàn thiện sự phát triển của các tố chất vận động, đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy sự ra đời và phát triển
TDTT kéo theo sự phát triển của nhân loại, là cơ sở sinh tồn cho mọi hoạt
động.
Những năm trở lại đây, cùng với sự hòa nhập cũng như sự phát triển
của thể thao thế giới, TDTT Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ đó cũng
là nhờ sự đầu tư quan tâm của Đảng và nhà nước ta cũng như sự ủng hộ
hưởng ứng rộng rãi của các tầng lớp nhân dân để thể thao Việt Nam ngày
càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh của TDTT Việt Nam được thể hiện qua các kỳ
đại hội như: Đại hội TDTT Đông Nam Á (Sea Games), Đại hội TDTT Thế
giới (Olympic). Qua các kì đại hội TDTT Đông Nam Á thì Việt Nam luôn
giành được thứ hạng cao, khẳng định sự thành công của TDTT Việt Nam,
đồng thời nó còn tạo được vị thế của nền TDTT nước ta trong khu vực và trên
thế giới.
TDTT gồm nhiều loại hình vận động, mang lại cho con người sự phát
triển toàn diện và hài hòa giữa các mặt: Đức-Trí-Thể-Mỹ. Trong đó Bóng rổ là
một trong những môn thể thao hiện nay trên thế giới được phát triển khá phổ
biến. Bóng rổ là môn thể thao tập thể, có tính đối kháng cao; tập luyện và thi
đấu bóng rổ có tác dụng phát triển tất cả các tố chất vận động của con người
như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo, đó còn là cơ sở để
phát triển thể lực cho các môn thể thao khác.
Trong số các môn thể thao hiện đại được thi đấu ở các đại hội Olympic
thì môn Bóng rổ là môn thể thao có lịch sử tương đối sớm. Theo các sách về
2
lịch sử thể thao Olympic và sách giáo khoa về môn Bóng rổ thì môn Bóng rổ
những năm gần đây môn bóng rổ đã được phát triển rộng rãi các địa phương
như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Ninh Thuận, Đà Nẵng…
quan tâm và thu hút được nhiều đối tượng tham gia tập luyện.
Ở Việt Nam, bóng rổ là môn thể thao được ưa chuộng và phát triển, là
một môn nằm trong chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng và
trung học chuyên nghiệp của cả nước, đặc biệt là các tỉnh phía Nam. Hàng
năm, các giải bóng rổ vô địch quốc gia được tiến hành với sự tham gia của
nhiều đội mạnh. Bóng rổ là môn thể thao mang tính đối kháng cao, đòi hỏi
người tập phải thể hiện đầy đủ các năng lực về thể lực và đạt tới trình độ kỹ -
chiến thuật điêu luyện. Trong tập luyện và thi đấu bóng rổ, kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao là phương pháp tấn công rất phổ biến từ cự ly trung
bình và xa. Nhiều VĐV trong thi đấu sử dụng kỹ thuật này, vì nó mang lại
hiệu quả cao hơn so với các kỹ thuật khác.
Tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng, môn bóng rổ đã có trong chương
trình giảng dạy, nhưng thực tế việc sử dụng kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay
trên cao chưa được phát huy và còn nhiều hạn chế. Điều đó được thể hiện rõ
nhất trong kết quả thi kết thúc học phần hàng năm của sinh viên phổ tu còn
thấp, khả năng thực hiện kỹ thuật không được chính xác. Nguyên nhân chủ
yếu là do việc sử dụng các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp
tại chỗ ném rổ một tay trên cao cũng như các công trình nghiên cứu về vấn đề
này còn chưa được đề cập đầy đủ.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, căn cứ vào điều kiện học tập
cũng như khả năng của mình, việc lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu
quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao, trong quá trình giảng dạy môn
bóng rổ cho sinh viên phổ tu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào
tạo của nhà trường là một việc cần thiết, từ đó tôi xác định nghiên cứu đề tài:
4
“Lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ một
tay trên cao cho nữ sinh viên phổ tu khóa Đại học 6 trường Đại học Thể
dục thể thao Đà Nẵng”
dạy.
Các quá trình sư phạm cho phép đánh giá mức độ phát triển về trình độ
kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của sinh viên như trình độ thể lực, tâm lý,
chiến thuật nó được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của phương
tiện, phương pháp giảng dạy, xác định khả năng đã đạt được, trình độ tập
luyện kỹ chiến thuật của người tập. Các phương pháp chủ yếu của kiểm tra sư
phạm là quan sát sư phạm và thực nghiệm kiểm tra về những mặt khác, về
trình độ tập luyện của sinh viên.
Chính vì vậy, việc sử dụng quá trình sư phạm để đánh giá trình độ tập
luyện kỹ chiến thuật của sinh viên, vận động viên đóng một vai trò quan trọng
trong quản lý quá trình tập luyện, nó giúp cho các giảng viên, huấn luyện viên
nắm được kết quả của quá trình tập luyện kỹ thuật của sinh viên, vận động
viên và có kế hoạch điều chỉnh hợp lý nâng cao nhận thức và hoàn thiện kỹ
thuật động tác đảm bảo hiệu quả của quá trình đào tạo.
6
1.2. Cơ sở lý luận của việc giảng dạy động tác
Giảng dạy kỹ thuật động tác là một quá trình giảng dạy cho học sinh
hình thành về kỹ năng, kỹ xảo vận động mà khi tiến hành giảng dạy phải tuân
thủ theo những nguyên tắc của quá trình giáo dục và giáo dưỡng thể chất. Bất
kỳ một hoạt động giảng dạy kỹ thuật nào, dù đơn giản hay phức tạp đều tuân
thủ theo nguyên tắc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động. Giảng dạy phải đi
từ đơn giản đến phức tạp, đi từ dễ đến khó.
Quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động của người học được
dựa trên kiến thức mà người học lĩnh hội được. Kỹ năng, kỹ xảo được hình
thành nhờ quá trình lặp đi lặp lại nhiều lần. Việc củng cố các mối liên hệ thần
kinh tạm thời được hình thành làm cho các yếu tố vận động ngày càng mở
rộng.
Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác được chia làm ba giai
đoạn, tương ứng với ba giai đoạn của quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo đó
là:
- Hoàn thiện nhịp điệu động tác, thực hiện động tác tự nhiên, liên tục.
*Giai đoạn 3: Kỹ năng, kỹ xảo được hình thành
Ở giai đoạn này động tác đã được ổn định, trở thành kỹ năng vận động
và thực hiện ngày càng tự động hóa hơn, không còn động tác thừa. Lúc này
trên võ não đã hình thành được các đường dây liên hệ tạm thời giữa các trung
tâm thần kinh. Tuy nhiên, để động tác được tự động hóa hơn thì người tập
phải lặp đi lặp lại động tác nhiều lần để dẫn đến việc hình thành kỹ năng, kỹ
xảo vận động.
Mục đích ở giai đoạn này là đảm bảo tiếp thu và vận dụng động tác
hoàn thiện trong thực tế. Nhiệm vụ giảng dạy ở giai đoạn này là:
- Củng cố kỹ xảo đã có về kỹ thuật động tác.
8
- Mở rộng biến dạng của kỹ thuật động tác để có thể thực hiện tốt trong
các diều kiện khác nhau, kể cả lúc phải biểu hiện các tố chất thể lực ở mức độ
cao nhất.
- Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác cho phù hợp với đặc điểm
và năng lực cá nhân.
- Nếu cần cải tạo lại kỹ thuật động tác rồi tiếp tục hoàn thiện nó trên cơ
sở phát triển các tố chất thể lực.
Đối với môn bóng rổ quá trình giảng dạy, huấn luyện cũng phải tuân
theo những nguyên tắc chung của giáo dục học và lý luận giáo dục thể dục thể
thao. Trong quá trình giảng dạy, vấn đề lựa chọn và sắp xếp các bài tập theo
một trình tự nhất định, đảm bảo nguyên tắc sư phạm, phù hợp với tiến độ từng
giáo án giảng dạy, phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh là công việc
quan trọng hàng đầu. Kỹ thuật bóng rổ thuộc loại hoạt động không có chu kỳ,
động tác phức tạp muôn hình muôn vẻ, thay đổi nhanh, linh hoạt đáp ứng với
mọi tình huống của trận đấu, hơn nữa bóng rổ là môn thể thao mang tính đối
kháng nên kỹ thuật luôn được thực hiện trong điều kiện bị đối phương kèm
chặt. Người học bóng rổ không nắm vững kỹ thuật thì không thể thực hiện có
hiệu quả trong thi đấu. Vì vậy, trong quá trình tập luyện bóng rổ, việc tập kỹ
học, có ý thức áp dụng những điều đã học vào thực tế và dễ dàng vượt qua
những khó khăn trong quá trình tập luyện. Việc tập luyện phải thường xuyên
và có hệ thống, phải tập theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó,
từ những động tác đã nắm bắt được đến những động tác mới. Khi tập cần
tránh chạy theo các động tác mới mà bỏ qua các kỹ thuật cơ bản trong bóng
10
rổ, bởi vì kỹ thuật cơ bản tuy đơn giản những rất quan trọng, việc nắm chắc
và vận dụng thành thạo nó giúp người tập nâng cao hiệu quả trong thi đấu,
đồng thời tạo tiền đề vững chắc cho việc đi sâu nắm bắt các kỹ thuật phức tạp
hơn. Mặt khác, muốn ném rổ chính xác cần có kỹ thuật hợp lý, ổn định và biết
cách điều khiển đúng đắng hoạt động luân phiên giữa căng và thả lỏng cơ
bắp, cách dùng sức và tính linh hoạt của bàn tay cũng như sự ra sức cuối cùng
của các ngón tay, quỹ đạo bay của bóng, chiều xoáy của bóng.
Khi tập cần phát triển khả năng quan sát, cũng như các môn bóng khác,
tập bóng rổ không chỉ đơn thuần là việc nắm được các động tác như: Dẫn
bóng, chuyền bóng, bắt bóng và ném rổ mà còn phải vận dụng được nó trong
thi đấu, vì vậy vấn đề nâng cao khả năng quan sát trong tập luyện cũng là một
yếu tố quan trọng.
11
1.4.1. Nguyên lý kỹ thuật động tác tại chỗ ném rổ một tay trên cao
Hình 1.1
Hình 1.2 Hình 1.3
Tư thế chuẩn bị
: Hai chân rộng bằng
vai, trước – sau, chân cùng tay ném
đặt trước, trọng tâm động tác dồn vào
chân trước (Hình 1.1).
chân trước, thân người ngả trước.
13
1.4.2. Những yếu tố để ném rổ chính xác
Việc tập luyện kỹ thuật ném rổ sẽ quyết định đến sự thành bại của
những lần thi đấu hay kiểm tra trong quá trình học tập. Để ném rổ được tốt ta
cần tập trung chú ý phải nắm vững, thực hiện đúng kỹ thuật cơ bản:
- Tư thế ném rổ phải được định hình, phải thường xuyên tập luyện để
hình thành thói quen trong mọi trường hợp, mọi vị trí, mọi cự ly, mọi góc độ
để nâng cao hiệu quả ném rổ.
- Độ xoáy của bóng là một trong những nguyên nhân quyết định độ
chuẩn xác của ném rổ. Hướng bóng và tốc độ xoáy của bóng được quyết định
bởi động tác tay: gập cổ tay, miết các ngón tay vào bóng khi bóng ra tay.
- Biết sử dụng đường bay của bóng ở từng cự ly.
- Điểm ngắm, góc độ ném rổ, thời cơ ném rổ.
- Phải có thể lực tốt, ý chí phẩm chất và tinh thần trách nhiệm cao.
- Cần có kỹ thuật toàn diện: di chuyển, chuyền, bắt, dẫn bóng.
- Có sự kết hợp của đồng đội với khả năng cá nhân.
1.5. Đặc điểm tâm – sinh lý của đối tượng nghiên cứu
Ở lứa tuổi này các em đã kết thúc giai đoạn dậy thì, thời kỳ này là sự
tăng trưởng của cơ thể đạt đến trình độ hoàn thiện. Các tố chất và các chức
năng căn bản đã hoàn chỉnh trong quá trình phát triển. Giai đoạn này đa số
các em sẽ có sự thay đổi về tính cách tâm sinh lý trong cơ thể và đây được
xem là giai đoạn mà bản thân các em luôn tự phấn đấu để đi tới mục đích cao
nhất là tự hoàn thiện bản thân mình. Trong thời kỳ này, các em có một cơ thể
cân đối và dồi dào sức khỏe. Hay nói cách khác đây là thời kỳ phát triển rực
rở nhất của sức mạnh tinh thần và thể chất.
14
1.5.1. Đặc điểm về mặt tâm lý
Trong tâm lý học người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát
triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bắt đầu vào tuổi người lớn từ 14 – 25 tuổi.
hiện tại mà còn nhận thức được địa vị của mình trong xã hội, trong tương lai.
Các em có được phẩm chất nhân cách bộc lộ trong lao động, biết yêu lao
động, tính cần cù, dũng cảm, tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, ý chí cao,
biết khắc phục những khó khăn để đạt được mục đích đã định. Đây chính là
đặc điểm ổn định thuận lợi cho ta rèn luyện các tố chất thể lực, huấn luyện kỹ
chiến thuật. Không những thế các em còn biết đánh giá hành vi của mình và
còn biết đánh giá những phẩm chất mạnh yếu của người khác.
1.5.2. Đặc điểm về mặt sinh lý
Thời kỳ này là sự tăng trưởng của cơ thể đạt đến trình độ hoàn thiện,
các tố chất và chức năng căn bản đã được hoàn thiện trong quá trình phát
triển. Đây là giai đoạn mà các em phát triển nhất về sức mạnh tinh thần và thể
chất.
- Hệ xương: Vẫn phát triển cho tới 24 – 25 tuổi bộ xương mới hoàn
thiện, các cơ tăng khối lượng và đạt 43 – 44% trọng lượng toàn thân. Sự cốt
hóa bộ xương điều đó có ý nghĩa chấm dứt sự phát triển chiều dài. Quá trình
đó xảy ra do các màng xương được phát triển dày lên bao bọc xung quanh
sụn.
- Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy,
phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi tạo điều kiện
tốt cho việc hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra, do hoạt động mạnh
của hệ thần kinh chiếm ưu thế. Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã
có ảnh hưởng đến hoạt động có thể lực, cho nên phải sử dụng các bài tập sao
cho phù hợp.
16
- Hệ cơ: Thành phần quan trọng của bộ máy vận động là cơ. Sự phát
triển của cơ phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của xương. Khối lượng của
cơ cũng tăng dần theo độ tuổi. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này xảy ra không
đều (cơ chân phát triển nhanh hơn cơ tay). Riêng các bắp cơ lớn phát triển
nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay), các cơ co phát triển nhanh hơn cơ duỗi. Trên cơ
sở nắm vững các đặc điểm phát triển của hệ xương, hệ cơ chúng ta cần phải
18
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích tổng hợp từ các tài liệu chung và
chuyên môn có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Để có cơ sở cho
việc giải quyết các nhiệm vụ, chúng tôi đã đọc và tham khảo một số tài liệu và
một số sách báo giúp xác định những cơ sở lý luận của kỹ thuật và lấy số liệu
chính xác, phân tích đánh giá thực trạng và lựa chọn các bài tập phù hợp có
cơ sở khoa học vận dụng vào thực tiễn. Phương pháp này được sử dụng xuyên
suốt trong quá trình nghiên cứu.
Các tài liệu về khoa học cơ bản như: Triết học, Chính trị, Kinh tế, Giải
phẫu, Sinh lý, Sinh cơ, Sinh hóa, Toán tin
Các tài liệu về khoa học cơ sở và chuyên ngành như: Giáo trình Bóng
rổ, Lý luận và phương pháp giáo dục thể dục thể thao, Tâm lý học thể dục thể
thao, Sinh lý học thể dục thể thao, Học thuyết huấn luyện Ngoài ra đề tài
còn tìm hiểu các thông tin trên mạng Internet, báo, tạp chí.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Để đảm bảo đề tài mang tính khoa học và thực tiễn, chúng tôi sử dụng
phương pháp phỏng vấn gián tiếp thông qua phiếu hỏi đối với các thầy giáo
trong bộ môn bóng rổ của nhà trường, huấn luyện viên bóng rổ có kinh
nghiệm. Bên cạnh đó còn tiến hành tọa đàm trực tiếp, việc sử dụng phương
pháp này nhằm thu nhập thêm thông tin cần thiết.
2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này nhằm thu thập và xử lý những thông tin ban đầu từ
các giảng viên, HLV, các chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm trong giảng
dạy huấn luyện môn bóng rổ. Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi
19
trong các công trình nghiên cứu khoa hoc. Từ những thông tin chúng tôi gửi
2.1.6. Phương pháp toán thống kê
Để xử lý số liệu thu được trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi đã sử
dụng phương pháp toán học thống kê. Từ đó có cơ sở để đánh giá hiệu quả
của việc áp dụng các bài tập.
Các công thức được sử dụng trong đề tài:
- Công thức 1 : Tính giá trị trung bình
n
x
X
i
∑
=
(n = 1, 2, 3 )
- Công thức 2 : Tính phương sai
1
)(
2
2
−
−∑
=
n
XX
i
σ
)30(
≤
=
BA
B
iB
A
iA
n
i
nn
XXXX
σ
- Công thức 5: Tính hệ số tương quan
∑ ∑
∑
−−
−−
=
22
)()(
))((
yyxx
yyxx
r
(n < 30)
- Công thức 6: Chỉ số để tính nhịp độ tăng trưởng
%100
5,0).(
)(V
ném rổ một tay trên cao.
+ Khách thể nghiên cứu: Nữ sinh viên phổ tu khóa Đại học 6 trường
Đại học TDTT Đà Nẵng.
2.2.3. Địa điểm nghiên cứu
Trường Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng
2.2.4. Thiết bị dụng cụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài để có số liệu cụ thể chính xác, chúng
tôi đã sử dụng các thiết bị sau:
- Sân tập bóng rổ.
- Đồng hồ bấm giây.
- Bóng rổ, bóng nhồi và các dụng cụ chuyên dùng dành cho bóng rổ.
23
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đánh giá thực trạng việc sử dụng kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay
trên cao của sinh viên phổ tu trường Đại học TDTT Đà Nẵng
3.1.1. Thực trạng chương trình và giáo trình môn học Bóng rổ
Mục tiêu của môn học là góp phần thực hiện mục tiêu Đào tạo sinh
viên theo chuyên ngành GDTC, trở thành cán bộ có năng lực giảng dạy –
huấn luyện các kỹ thuật động tác, biết vận dụng phương pháp trọng tài và tổ
chức thi đấu. Có năng lực tổ chức tập luyện trong các trường học các cấp và
làm cán bộ chuyên môn ở các sở, ngành. Nguồn cán bộ phải là người giỏi về
kiến thức chuyên môn, đáp ứng khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản
xuất của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi ra
trường, sinh viên sẽ nắm vững cơ sở lý luận, khả năng thực hành phương
pháp giảng dạy, huấn luyện, tổ chức thi đấu, trọng tài bóng rổ và khả năng
xây dựng, quản lý câu lạc bộ.
- Về tri thức: Trang bị cho người học nắm vững những cơ sở lý luận
của môn bóng rổ, năng lực thực hành kỹ - chiến thuật động tác; phương pháp
tổ chức thi đấu và trọng tài; đảm nhiệm được nhiệm vụ giảng dạy ở các
Phương
pháp
Kiểm
tra, thi
1 Bài giảng lý thuyết 06 06
2 Bài giảng thực hành 33 33
3 Thi, kiểm tra 06 06
TỔNG CỘNG 45
Qua bảng 3.1 cho thấy: Chương trình được phân bổ dưới 3 hình thức
lên lớp: Lý thuyết, thực hành và thời gian thi kiểm tra. Các phần được thiết kế
tương đối hợp lý về mặt thời lượng cũng như nội dung, theo đó chương trình
được bám sát với mục tiêu đào tạo, với việc chú trọng trang bị kỹ năng thực
hành của chuyên môn và những kiến thức về cơ sở lý luận trong dạy học động
25
tác cho sinh viên. Để đáp ứng được yêu cầu học tập và nâng cao hiệu quả thực
hiện các kỹ thuật ném rổ nói riêng và kết quả học tập môn Bóng rổ nói chung,
cần lựa chọn bài tập chuyên môn trong quá trình giảng dạy các kỹ thuật ném
rổ nhằm giúp người học nắm chắc kỹ thuật, tránh được những sai lầm đồng
thời bổ sung và hoàn thiện các tố chất thể lực. Từ đó rút ngắn quá trình hình
thành kỹ năng – kỹ xảo vận động cho người học. Nâng cao hiệu quả thực hiện
kỹ thuật tại chỗ ném rổ một tay trên cao cho sinh viên.
3.1.2. Thực trạng việc sử dụng các bài tập bổ trợ kỹ thuật tại chỗ
ném rổ một tay trên cao của bộ môn Bóng rổ
Theo chương trình của nhà trường, sinh viên phổ tu học môn Bóng rổ
được học kỹ thuật chuyền bóng bằng hai tay trước ngực, hai người di
chuyển chuyền bóng ném rổ, hai bước ném rổ và tại chỗ ném rổ một tay trên
cao.
Thời gian quy định cho từng loại kỹ thuật, phương pháp giảng dạy rõ
ràng. Song vẫn còn tồn tại một số vấn đề như tỷ lệ thời gian tập các kỹ thuật
chưa đảm bảo. Vì vậy phải bố trí xen kẽ những bài tập bổ trợ kỹ thuật tại