Tín dụng vốn phát triển kinh tế hộ trong nông nghiệp tại NHNo & PTNT Thị xã Hà Tĩnh - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu :
Rút ra bài học từ thực tiễn thế giới và ngay bản thân của nước ta, Đại
hôi Đảng toàn quốc lần thứ VI ( Tháng 12 /1986 ), Đảng ta quyết định
đường lối đổi mới nền kinh tế chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của
nước ta sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, chúng ta
vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Sau những năm đổi mới nền kinh tế của nước
ta đã có chuyển biến rõ rệt, cùng với đó là nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đưa kinh tế tăng trưởng , chính trị ổn định. Đặc biệt mới
đây thôi thế giới đã công nhận chúng ta là một nền kinh tế thị trường khi mà
chúng ta đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới. Cùng
với sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước thì Thị xã Hà Tĩnh với tư
cách là một trung tâm kinh tế - xã hội của Tỉnh Hà Tĩnh cũng đã có những
chuyển biến rất lớn, sự cạnh tranh trên thị trường ngày một cao, khối lượng
hàng hóa dịch vụ tăng mạnh.
Phát triển nền kinh tế với nhiều thành phần kinh tế tham gia, dười hình
thức là các doanh nghiệp, công ty. Các doanh nghiệp đóng một vai trò rất
quan trọng trong nền kinh tế là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong
nước ( GDP ), những năm gần đây hoạt động của các doanh nghiệp đã có
những bước đột biến góp phần phát triển và giải phóng sức sản xuất, huy
động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế. Sự phát triển của các doanh
nghiệp , công ty trên địa bàn thị xã thời gian qua là rất mạnh, nhiều công ty
tư nhân thành lập và hoạt động có hiệu quả.
Sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế, sự cạnh tranh ngày càng
cao ngay trên sân nhà là bài toán đặt ra cho các chủ thể kinh tế. Với Thị xã
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hà Tĩnh là một trong những vùng còn nhiều khó khăn như về vốn, kĩ thuật,...
Thì khi bước vào sản xuất hàng hóa gặp rất nhiều khó khăn để đầu tư đổi
mới, sữa chữa, ... do đó nhu cầu về vốn là rất lớn, đặc biệt đối với các hộ
nông dân họ rất cần đến nguồn vốn tín dụng.

thôn Việt Nam.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ HỘ VÀ TÍN DỤNG
VỐN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ.
I. Cơ sở lí luận chung về kinh tế hộ nông nghiệp.
1. Bản chất của kinh tế hộ.
Đối với tất cả các nước có nền nông nghiệp thì đều tồn tại loại hình kinh
tế hộ, nền nông nghiệp của nước ta cũng không ngoại lệ, tuy ở mỗi nước do
có những đặc trưng riêng nên cũng có những điểm khác biệt đối với loại
hình kinh tế hộ nhưng chỉ trên một số khía cạnh, về bản chất nó vẫn tương
đồng. Việc hiểu đúng về kinh tế hộ là vấn đề hết sức quan trọng, để làm sáng
tỏ bản chất kinh tế hộ ta tìm hiểu một số quan điểm về kinh tế hộ sau đây :
Trong một số từ điển như từ điển ngôn ngữ, từ điển chuyên ngành kinh
tế, thì Hộ “ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà “. Theo quan
điểm của các nhà thống kê học thì Hộ được hiểu “ là tất cả những người
cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân
quỹ “. Những quan điểm này nhìn chung đứng trên các góc độ khác nhau để
định nghĩa về Hộ, tuy nhiên đều đề cập đến những khía cạnh như chức năng,
sản xuất tiêu dùng,... của Hộ mà chưa đề cập đến khía cạnh nhân chủng học.
Ta có khái niệm hoàn chỉnh về Hộ như sau : Hộ là một hình thức tổ chức sản
xuất bao gồm một hoặc một nhóm người có cùng huyết tốc hoặc quan hệ
huyết tộc sống chung trong một mái nhà, có chung nguồn thu nhập và tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của
các thành viên trong hộ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cần phân biệt giữa khái niệm “ Hộ “ và “ Gia đình “, dễ nhầm tưởng là
một tuy nhiên nó được hiểu rất khác nhau, bởi gia đình nó là cơ sở của hộ
nói chung, chưa đựng các yếu tố để hình thành các loại hộ.

yếu nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng gia đình. Công cụ sản xuất thủ
công là chủ yếu, năng suất lao động thấp.
- Kinh tế hộ có ưu điểm đó là có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu,
quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản
xuất, trao đổi và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế hộ. Do xuất
phát từ đặc điểm cấu thành của hộ.
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ sản xuất diễn ra chậm : việc
chuyển sang các ngành phi nông nghiệp của các hộ sản xuất còn bị hạn chế,
hộ thuần nông vẫn chiếm một tỉ lệ lớn.
- Về nhân lực: Hộ chủ yếu sử dụng nguồn nhân lực tự có, đây là nguồn
nhân lực huy động trong gia đình để tăng gia sản xuất . Một số hộ sản xuất
hàng hóa có thể thuê thêm lao động thời vụ khi cao điểm hoặc một số lao
động thường xuyên nếu hộ có sản xuất lớn và việc thuê và sử dụng nhân lực
thế nào cho hiệu quả cao nhất là bài toán quan trọng cho chủ hộ người đại
diện cho hộ để tiến tới phát triển sản xuất hàng hóa tập trung.
- Về quy mô sản xuất : Thường sản xuất sản phẩm, dịch vụ qui mô nhỏ ở
quy mô gia đình chủ yếu do nguồn vốn, năng lực quản lý ở đây đề cập đến
trình độ của chủ hộ, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường kém.
- Trình độ quản lý : Khả năng quản lý của hộ còn nhiều hạn chế. Việc
quản lý chủ yếu dựa trên kinh nghiệm tích lũy được, chưa có trình độ quản
lý được đào tạo một cách khoa học, trong khi tham gia quản lý tất cả các
khâu từ nguyên vật liệu, sản xuất và tiêu thụ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nguồn vốn sản xuất : Chủ yếu là vốn tự có với qui mô nhỏ. Nguồn vốn
này chủ yếu do tích lũy được, do vay mượn người thân. Về nguồn vốn từ
ngân hàng thì gần đây hộ nông dân đã tiếp cận được nhiều hơn và các hộ có
ý thức vay trả tương đối sòng phẳng, tuy nhiên vấn đề nảy sinh từ việc sử
dụng vốn làm thế nào để hộ sử dụng đồng vốn tín dụng có hiệu quả cao nhất.
Như vậy có thể thấy hộ sản xuất nước ta vẫn còn hạn chế rất nhiều mặt,

nông thôn cũng là một giải pháp để thu hút được lao động dư thừa trong
nông thôn, giảm được tính thời vụ của lao động trong nông nghiệp. Bằng
cách kết hợp giữa phát triển sản xuất nông nghiệp với phát triển các ngành
nghề phi nông nghiệp, thậm chí có thể chuyển hẳn các hộ hoạt động sản xuất
không hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp,
tránh lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực ở nông thôn.
Sự phát triển của kinh tế hộ trong nông nghiệp còn góp phần làm tăng
khả năng sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả quỹ đất do nhà nước giao
cho.
3.3. Góp phần chuyển sản xuất nông nghiệp từ sản xuất tự túc tự cấp sang
sản xuất hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, từng bước phát triển thích ứng với cơ
chế thị trường để tồn tại và phát triển, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào
sản xuất làm tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, tăng giá trị hàng hóa, hàng xuất khẩu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bên cạnh đó sự tìm tòi sản xuất thêm các ngành phụ khác để tận dụng
nguồn nhân lực nhàn rỗi góp phần làm tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo,
nâng cao trình độ văn hóa cho nông nghiệp nông thôn và quan trọng hơn đó
là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang một cơ cấu
kinh tế có công nghiệp, dịch vụ ngày càng phát triển và chiếm tỷ trọng cao,
đồng thời chuyển một bộ phận lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực mang
lại hiệu quả kinh tế cao hơn là công nghiệp và dịch vụ, đồng thời góp phần
giảm các tệ nạn xã hội ở nông thôn đảm bảo an ninh trật tự cho đời sống
nhân dân và cho sự phát triển kinh tế.
3.4. Góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, khôi phục các thuần
phong mỹ tục.
Hạ tầng luôn là điều kiện hết sức quan trọng để phát triển kinh tế, đặc
biệt đối với những vùng xa như nông thôn thì vai trò của cơ sở hạ tầng lại

diện tích đất lớn. Chúng ta cũng hình thành rất nhiều mô hình sản xuất có
các trang trại cây công nghiệp , trang trại nuôi trồng thủy sản,...
Tuy nhiên để hình thành và phát triển trang trại thì một yêu cầu hết sức
quan trọng đó là qui mô ruộng đất và vốn, ngoài ra còn các điều kiện khác
nữa, mà đây lại là điều mà hầu như các hộ của chúng ta còn thiếu có những
cái thuộc về bản thân mỗi hộ phải tự giải quyết nhưng cũng có những vấn đề
cần phải sự hỗ trợ từ chính sách của nhà nước như chính sách về đất đai.
Cũng cần lưu ý là trong quá trình phát triển kinh tế hộ trong xu hướng phát
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
triển trang trại thì sẽ tồn tại nhiều loại hộ sản xuất với các trình độ khác nhau
vấn đề là cần phải khai thác được lợi thế so sánh của từng hộ sản xuất.
4.3. Phát triển hộ ngành nghề.
Cùng với sự phát triển kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chuyển một
bộ phận hộ sản xuất thuần nông sang các ngành nghề phi nông nghiệp. Xu
hướng này mang tính qui luật đặc biệt diễn ra mạnh ở những vùng đồng
bằng đất chật người đông, lao động nhàn rỗi nhiều. Để tạo thêm việc làm
tăng thu nhập cho người lao động các hộ sản xuất đã tổ chức các ngành nghề
phi nông nghiệp. Cùng với sự mở rộng ngành nghề này cũng hình thành 2
loại hộ sản xuất, đó là hộ chuyên và hộ kiêm. Các hộ có điều kiện về vốn,
phương tiện thiết bị sẽ tiến hành vừa làm nghề nông vừa kiêm các ngành phụ
khác. Các hộ không có vốn, năng lực sản xuất kinh doanh chỉ có lao động thì
họ nhận nguyên liệu về gia công .
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ.
Xem xét nhân tố tác động đến sự phát triển của kinh tế hộ là một yếu tố
hết sức quan trọng để có biện pháp tác động phát triển phù hợp, sau đây là
các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ.
5.1. Điều kiện tự nhiên.
Bao gồm các yếu tố: vị trí địa lí, địa hình, khí hậu. tài nguyên và môi
trường,... do ảnh hưởng đến nông nghiệp vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến sự

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tạm thời nhàn rỗi mà không có ý định đầu tư sản xuất kinh doanh, chính lúc
này cụm từ tín dụng xuất hiện.
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Credium có nghĩa là một sự tin
tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ
dân gian thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả
gốc và lãi.
Có nhiều quan điểm về tín dụng nhưng có thể hiểu một cách tổng quát
là : Tín dụng là một giao dich về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho
vay và bên đi vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay chịu trách
nhiệm trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho ben cho vay khi đến hạn.
Vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Qúa
trình đó được biểu hiện qua 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này
giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi va, ở đây có một bên nhận
được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị.
Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Người đi
vay sử dụng vốn tín dụng để thỏa mãn nhu cầu của mình trong khoảng thời
gian thời hạn vay.
Giai đoạn 3 : Kết thúc vòng tuần hoàn của tin dụng. Sau khi vốn tín dụng
đã kết thúc một chu kì sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng
được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay.
1.2. Phân loại tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú
với nhiều hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả
thì phải tiến hành phân loại tín dụng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368

- Cho vay trả góp: Ngân hàng cho phép khách hàng trả lãi vốn vay công
với nợ gốc trong nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận .
Với phương thức vay này đối với khách hàng có ưu điểm là khách hàng
trả tiền theo từng kì nên không bị dồn tiền trả vào cuối kì. Phương thức này
thường áp dụng cho các món vay trung và dài hạn. Tuy nhiên nhược điểm
của phương thức này là rủi ro thường phụ thuộc vào thu nhập của khách
hàng, chính vì vậy lãi suất của trả góp thường cao nhất trong các phưong
thức cho vay.
- Cho vay gián tiếp: Ngân hàng cho vay qua một tổ chức trung gian, với
phương thức này ngân hàng cho các công ty trung gian vay, các công ty ứng
vốn cho các hộ sản xuất đến thời vụ công ty này thu mua nông sản phẩm của
nông dân, đồng thời thu khoản nợ.
2. Đặc điểm của vốn tín dụng cho phát triển kinh tế hộ trong nông
nghiệp.
- Tính chất thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây
trồng vật nuôi.
Đối tượng của ngành nông nghiệp là các cơ thể sống có quy luật sinh
trưởng và phát triển. Những tư liệu lao động này thay đổi giá trị sử dụng
theo qui luật sinh học, vì có quy luật sinh trưởng và phát triển nên chúng có
tính thời vụ , đối với mỗi loại khác nhau thì có tính thời vụ khác nhau, vì vậy
tín dụng đầu tư vào nông nghiệp phải dựa vào từng loại cây trông vật nuôi.
Chính tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp làm cho vòng tuần hoàn và
chu chuyển của vốn chậm, gây ra ứ đọng vốn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Lượng vốn đầu tư lớn : Nông nghiệp là lĩnh vực mang tính đặc thù, phụ
thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên do vậy mang tính rủi ro cao và tính sinh
lời thấp dẫn đến lượng vốn đầu tư cho nông nghiệp cần phải lớn. Nhưng một
điều nghịch lý là cần thiết phải nhiều vốn như vậy nhưng tất cả các điều trên
làm cho sự thu hút đầu tư vào nông nghiệp kém hấp dẫn, do vậy nguồn vốn

tư mua sắm trang thiết bị, con giống,... nhằm đem lại năng suất cao nhất, tỉ
suất hàng hóa lớn, sức cạnh tranh của sản phẩm tăng.
Cùng với sự đa dạng cảu nhu cầu thì việc đa dạng hóa sản phấm đáp ứng
nhu cầu là việc hết sức cần thiết, muốn vậy thì người sản xuất lại phải nghĩ
đến sự mở rộng qui mô sản xuất mà điều này lại rất cần thiết sự hỗ trợ từ
phía ngân hàng để hộ có thể tiêp cận với vốn tín dụng.
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện duy trì các ngành nghề truyền thống,
ngành nghề mới, thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm, giúp hộ tăng
thu nhập, cải thiện đời sống.
- Tín dụng ngân hàng giúp cho hộ sản xuất làm quen và từng bước thực
hiện chế độ hạch toán kinh tế, sử dụng vốn vay có hiệu quả. Trong sản xuất
hàng hóa thì bất cứ một đơn vị sản xuất nào cũng phải thực hiện hạch toán
và hạch toán đủ,nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình. Với
ngân hàng khi hộ vay vốn thì đến thời hạn theo hợp đồng thì phải trả cho
ngân hàng cả gốc và lãi, do vậy hộ phải tính toán thế nao để sử dụng vốn vay
một cách có hiệu quả nhất, để khi trả nợ cho ngân hàng thì họ vẫn còn lãi.
Chính quá trình này đã giúp cho hộ tự hạch toán kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Vai trò trung gian thu hút vốn và tài trợ vốn: Trung gian tài chính có
chức năng thu hút vốn và sử dụng vốn đó để cho vay. Khi người nông dân
thu hoạch sau một chu kỳ sản xuất thì tạm thời lượng tiền nhàn rỗi không sử
dụng đến họ có thể gửi khoản tiền đó vào ngân hàng để có thể thu được một
khoản lợi tức và khoản tiền đó được giữ một cách an toàn. Và khi nếu hộ
nông dân cần vốn cho sản xuất như mua tư liệu sản xuất, trả công lao động
thời vụ thì ngân hàng sẵn sàng cấp vốn cho họ, tránh việc sản xuất bị gián
đoạn.
- Góp phần giải quyết các vấn đề xã hội: Một vấn đề dễ thấy ở nông thôn
đó là lượng lao động dư thừa, khi lao động không có viêc làm như cha ông
vẫn nói “nhàn cư vi bất thiện” kéo theo rất nhiều tệ nạn xã hội, ngoài ra còn

từng địa phương quản lý, về cơ khí ưu tiên cho vay vốn các hộ nông dân có
khả năng và kinh nghiệm để kinh doanh và phục vụ sản xuất như làm đất
bằng cơ khí. Như vậy có thể thấy Trung Quốc đã quan tâm đầu tư rất mạnh
cho cơ sở hạ tầng phục vụ công cuộc CNH – HĐH nông thôn.
- Thái Lan : Như ta đã biết hiện tại Thái lan là một quốc gia có nền nông
nghiệp phát triển, biểu hiện là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới.
Để có được kết quả này Thái lan đã có nhiều chính sách cho đầu tư phát
triển nông thôn như từ thập niên 60 đến thập niên 70 bằng chính sách công
nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu chuyển nền nông nghiệp từ phương
thức độc canh sang đa dạng hóa các sản phẩm, đặc biệt là nông sản xuất
khẩu. Cùng với nó là các chính sách đầu tư vốn cho phát triển kinh tế hộ.
- Philippin : Là một quốc gia quần đảo, với khí hậu nóng ẩm và mưa
nhiều, vượt qua khủng hoảng hiện nay Philippin là một quốc gia có nền kinh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế khá mạnh trong khu vực, xuất khẩu thủy sản khá cao, đặc biệt có một số
mặt hàng thủy sản riêng có của Philippin. Tuy chịu cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực nhưng sản lượng nông nghiệp vẫn ổn định là do nhà
nước philippin đã có chính sách quan tâm tới sự phát triển của nông nghiệp,
các đơn vị kinh tế ở nông thôn như chính sách cấm việc chuyển đất nông
nghiệp sang sử dụng vào mục đích công nghiệp hay xây dựng nhà ở, giao
đất lâu dài cho hộ để sản xuất cùng với các chính sách ưu đãi về thuế, chính
sách ưu đãi tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời chính phủ
philippin cũng dành tỉ lệ ngân sách rất lớn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng
trong đó có hạ tầng nông thôn.
2. Kinh nghiệm hoạt động tín dụng ở Việt Nam.
Nông nghiệp nông thôn nước ta hàng năm đều được dành sự quan tâm
đặc biệt thông qua nhiều chủ trương chính sách phát triển nền nông nghiệp
nông thôn. Trong hệ thống chính sách này không thể không nói đến chính
sách về tài chính, tín dụng nó đóng một vị trí rất quan trọng nhất là đối với

Thị xã Hà Tĩnh giáp với huyện Cẩm Xuyên, Huyện mới Lộc Hà và Huyện
Thạch Hà, Thạch Hà có rất nhiều tiềm năng về khoáng sản có trữ lượng
quặng sắt ước tính đạt 544 triệu tấn, khi khu kinh tế Vũng Áng đi vào hoạt
động thì Thị xã Hà Tĩnh cũng chiếm một vai trò quan trọng như một vệ tinh,
có rất nhiều cơ hội phát triển, Thị xã hà tĩnh có rất nhiều cơ hội để giao lưu
kinh tế và văn hóa. Với địa hình là đồng bằng không có đồi núi, nên thuận
lợi cho việc áp dụng các kĩ thuật cơ giới vào sản xuất nông thôn.
Với tổng diện tích đất tự nhiên như trên thì Thị xã Hà tĩnh có cơ cấu diện
tích đất nông nghiệp và đất chuyên dùng như sau :

Bảng 1:Diện tích đất nông nghiệp và đất chuyên dùng.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đơn vị tính : Ha
Số
TT
Tổng DT
đất TN
Chia ra
Đất NN
Đất chưa
sử dung
Đất phi
NN
Trong
đó: đất ở
Tổng số 5632,64 3337,64 405,76 1889,24 423,07
I Thành thị 1102,96 441,2 57,3 604,46 202,69
1 P. Bắc Hà 115,32 12,46 102,86 57,83

Nguồn : Sở thống kê thị xã hà tĩnh
1.2. Đặc điểm khí hậu, thủy văn.
Nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí
hậu miền bắc có mùa đông lạnh. Tuy nhiên do ảnh hưởng của gió mùa đông
bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông bớt lạnh hơn và
ngắn hơn so với các tỉnh miền bắc và chia làm 2 mùa rõ rệt một mùa nóng
và một mùa lạnh.
Nhiệt độ bình quân ở Thị xã Hà Tĩnh thường cao. Nhiệt độ không khí vào
mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè. Nhiệt độ đất mùa đông thường từ 18
o
– 22
o
C, ở mùa hè nhiệt độ đất từ 25,5 – 33
o
C. Tuy nhiên nhiệt độ đất thường
thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất.
Có lượng mưa nhiều, bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, là điều
kiện thuận lợi cho trồng trọt.
2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thị xã Hà tĩnh.
1.1. Dân số, lao động của Thị xã.
Dân số của Thị xã qua các năm biến động như sau:
Bảng 3: Dân số thị xã qua các năm.
Đơn vị tính: Người.
Số TT Địa bàn Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Tổng số 58175 77382 78173
I Thành thị 37406 38819 39322
1 P.Bắc Hà 11429 11757 12102
2 P.Nam Hà 5929 6016 6066
3 P.Tân Giang 6106 6044 6092
4 P.Trần Phú 4683 5234 5330

7 TNDV 4052 5123 6045
8 Các nghành khác
II Khu vực không sxvc 1159 1383 1614
1 Giáo dục 768 917 1040
2 Văn hóa nghệ thuật 15 12 13
3 Quản lý NN 195 259 327
4 Ytế- TD – TT 119 130 148
5 Các ngành khác 62 65 86
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn : Sở thống kê thị xã hà tĩnh.
Qua bảng ta thấy lao động trong ngành sản xuất vật chất cao hơn rất
nhiều so với trong các ngành không sản xuất vật chất, đây cũng là thực trạng
chung ở nước ta khi mà nền kinh tế còn đang phát triển, đời sống người dân
còn chưa cao.
2.2. Cơ sở hạ tầng.
Giao thông những năm gần đây khá tốt đáp ứng được nhu cầu phát triển
kinh tế và nhu cầu đi lại của nhân dân Thị xã.

Bảng 5 :Về tình hình đường giao thông địa bàn Thị xã.
Số
TT
Địa Bàn Năm 2004 Năm 2005
Đường
nhựa(k
m)
Đ. Bê
tông(k
m)
Gía


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status