Chuyªn ®Ò thùc tËp
Đánh giá thực trạng tín dụng cho phát triển kinh tế Hộ của NHNN&PTNT khu công
nghiệp Minh Đức giai đoạn 2004-2006.
I) Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã Hội có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Hộ ở
khu công nghiệp Minh Đức.
1)Đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Hộ.
Hưng yên là một tỉnh đồng bằng sông Hồng-Miền Bắc Việt Nam:
-Phía Đông giáp thủ đô Hà Nội.
-Phía Nam giáp Thái Bình, Hà Nam.
-Phía Bắc giáp Bắc Ninh.
-Phía Tây giáp Hải Dương.
Hưng Yên là vùng đất nối liền giữa các tỉnh đồng bằng sông hồng, tỉnh Hưng Yên có đồng
bằng rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp- nông thôn, công nghiệp, dịch vụ, du lịch, thực
tế tỉnh Hưng Yên nằm ở trung gian vùng tam giác kinh tế trọng điểm( Hà Nội-Hải Phòng-
Quảng Ninh)
Ở Hưng Yên khí hậu cũng chụi ảnh hưởng hoàn toàn khí hậu Miền Bắc nên hình thành 4
mùa rõ rệt( Xuân-Hạ-Thu- Đông) nhiệt độ bình quân năm là 22,3%, nhiệt độ trung bình
tháng cao nhất là 28,3
0
C, thấp nhất là 12,9
0
C, số giờ nắng dao động từ 1163-1867 giờ,
lượng mưa phân bố không đồng đều mưa tập trung vào các tháng 5-9 và trung bình là
1900mm.
Đất nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên vừa có thế mạnh sản xuất cây lương thực, trồng cây
công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và kinh tế lâm nghiệp, diện tích đất nông
nghiệp ở vùng đồng bằng bao gồm đất bãi ven sông hồng là nơi giàu tiềm năng sản xuất
lương thực trồng cây ăn quả phát triển chăn nuôi thuỷ sản và đại gia súc cung cấp nhiều
sinh vật, hàng hoá cho xã Hội.
Các Hộ nông dân ngoài sản xuất nông nghiệp còn có thể hoạt động trong một số lĩnh vực
kinh doanh khác,tại khu công nghiệp Minh Đức do sản xuất nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc
22,8%. Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 83 triệu USD tăng 17%. Tổng thu ngân sách
nhà nước đạt 1.076.182 tỷ đồng, tạo việc làm cho 30 nghìn lao động đồng thời giảm tỷ lệ
sunh 0,6 phần nghìn và giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 1 phần nghìn còn 22,7% và giảm
tỷ lệ Hộ nghèo 5,15%.
Đặc điểm kinh tế xã Hội cũng ảnh hưởng lớn tới phát triển kinh tế Hộ nông dân chẳng hạn
như xã Minh Đức do kinh tế- xã Hội thuận lợi lên kinh tế Hộ nông dân phát triển mạnh hơn
có làng nghề làm giấy tiền và hàng mã, có Hộ nông dân làm giấy tiền hàng mã số vốn lên
tới hàng tỷ đồng thuê hàng trăm lao động góp phần giải quyết lao động nhàn rỗi trong nông
thôn tại khu công nghiệp Minh Đức đồng thời làm tăng thêm thu nhập của người dân góp
phần vào phát triển kinh tế nông thôn, xã hoà phong có làng nghề gỗ truyền thống từ xưa
góp phần giải quyết công ăn việc làm của người dân làm tăng thu nhập của người dân còn
xã ngọc lâm nông nghiệp thuần tuý lên phát triển kinh tế Hộ nông dân ở đây còn chậm còn
có nhiều Hộ nghèo so với 3 xã tại khu công nghiệp Minh Đức.
*Tóm lại đặc điểm tự nhiên- kinh tế- xã Hội của tỉnh có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử
dụng vốn tín dụng của ngân hàng, nó quyết định đến doanh số vay của ngân hàng. Khối
lượng tín dụng tăng trưởng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh. Trên cơ sở đó các
cấp ngân hàng bám sát mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương, chủ động xây dựng và tổ
chức thực hiện chiến lược thị phần, chiến lược khách hàng, từ đó tăng cường cho vay khu
vực thành thị, các doanh nghiệp, làng nghề và Hộ, mở rộng đối tượng cho vay theo quyết
định 72 đối với vác thành phần kinh tế, thực hiện có hiệu quả việc cho người đi lao động
hợp tác có thời hạn ở nước ngoài, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và từng
bước nâng cao.
II)Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn khu công nghiệp Minh Đức cho phát triển kinh tế Hộ.
1)Tình hình về nguồn vốn cho vay Hộ.
Ngân hàng có nhiệm vụ khai thác và huy động vốn của các tầng lớp dân cư và các tổ chức
kinh tế xã Hội, bao gồm các loại tiền gửi có kỳ hạn và không có kỳ hạn. Ngân hàng còn
thực thi việc phát hành chứng chỉ(tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu…) ngắn hạn, dài
hạn do ngân hàng nông nghiệp trung ương uỷ thác, mặt khác ngân hàng cũng tiếp nhận vốn
tài trợ và vốn uỷ thác đầu tư ngân sách nhà nước từ các tổ chức quốc tế, quốc gia và các cá
446,6669
1526,62343
1440,8584
211,1128
220,1837
89,62
97,2
1079,956
994,1915
241,78
222,58
Tổng tiền gửi của khách hàng 132163,298750 183429,830709 266959,757997 51266,53 38,8 83529,92 45,5
Tổng hoạt động tín dụng.
Trong đó: cho Hộ sản xuất vay
28968,574412
23369
46955,272241
28922
1052999,740987
28371
17986,7
5553
62,09
23,76
58344,47
-551
124,25
-1,905
Tổng TS cố đinh và TS có khác
Trong đó: TSCĐ
17667,763630
41,075230
164,497233
40750,181626
39664,628002
39664,628002
101,724039
295,713457
49604,923776
47735,381875
47735,284825
259,906295
482,373845
21693,8
21955,8
21997,8
60,65
131,21
113,8
123,9
124,5
147,6
79,7
8854,74
8070,75
8069,65
158,2
186,66
46,5
45,6
68,86
79,86
560
335,2
130,8
166,7
0,82
372,7
32,7.
31,2
12265,4
10300,6
7524,6
34
588,4
208,7
41,2
43,9
88,5
33,5
25,9
14,8
4 4
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Nhận xét:
Vốn khả dụng và các khoản đầu tư năm 2005 tăng so với năm 2004 là 211,1128 triệu
đồng hay tăng 89,62%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 1079,956 triệu đồng hay
tăng 241,78% nghĩa là vốn khả dụng và các khoản đầu tư đã tăng lên do ngân hàng
nông nghiệp đã có nhiều nguồn huy động vốn.
Tiền mặt và chứng từ năm 2005 tăng so với năm 2004 là 220,187 triệu đồng hay tăng
Trong đó thu nhập về hoạt động tín dụng năm 2005 tăng so với năm 2004 là 21955,8
triệu đồng hay tăng 123,9%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 8070,75 triệu đồng hay
tăng 45,6%. Thu từ lãi năm 2005 tăng so với năm 2004 là 21997,8 triệu đồng, năm
2006 tăng so với năm 2005 là 8069,65 triệu đồng hay tăng 20,3%.Thu từ bảo lãnh năm
2005 tăng so với năm 2004 là 60,65 triệu đồng hay tăng 147,6%, năm 2006 tăng so với
năm 2005 là 158,2 triệu đồng hay tăng 156%.Thu từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
năm 2005 tăng so với năm 2004 là 131,21 triệu đồng hay tăng 79,7%, năm 2006 tăng so
với năm 2005 là 186,66 triệu đồng hay tăng 63,1%.
5 5
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Chi phí năm 2005 tăng so với năm 2004 là 16869 triệu đồng hay tăng 130,8%, năm
2006 tăng so với năm 2005 là 12265,4 triệu đồng hay tăng 41,2% chứng tỏ sự lớn
,mạnh của ngân hàng nông nghiệp khu công nghiệp Minh Đức.
Trong đó chi phí hoạt động huy động vốn năm 2005 tăng so với năm 2004 là 14668,2
triệu đồng hay tăng 166,7%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 10300,6 triệu đồng hay
tăng 43,9%. Trả lãi tiền gửi năm 2006 tăng so với năm 2005 là 68,86 triệu đồng hay
tăng 0,82%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 7524,6 triệu đồng hay tăng 88,5%.Chi
phí thanh toán và ngân quỹ năm 2005 tăng so với năm 2004 là 79,86 triệu đồng hay
tăng 372,7%, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 34 triệu đồng hay tăng 33,5%.Chi phí
nhân viên năm 2005 tăng so với năm 2004 là 560 triệu đồng hay tăng 32,7%, năm 2006
tăng so với năm 2005 là 588,4 triệu đồng hay tăng 25,9%.Chi phí hoạt động quản lý và
công cụ năm 2005 tăng so với năm 2004 là 335,2 triệu đồng hay tăng 31,2%, năm 2006
tăng so với năm 2005 là 208,7 triệu đồng hay tăng 14,8%.
*Dấu hiệu này cho thấy công tác huy động vốn luôn được ngân hàng xác định là nhiệm
vụ trọng tâm, ngân hàng nông nghiệp tỉnh và toàn tỉnh đã tập trung chỉ đạo và có nhiều
giải pháp huy động vốn thiết thực đạt kết quả. Nguồn vốn tăng trưởng cao ở hầu hết các
loại tiền gửi, cơ cấu tiền gửi có sự chuyển dịch tích cực có lợi cho kinh doanh, tiền gửi
lãi suất thấp( tiền gửi không kỳ hạn) tăng trưởng cao tạo cơ Hội giảm lãi suất đầu vào.
Đạt được kết quả trên là do ngân hàng thường xuyên quan tâm chỉ đạo triển khai thực
hiện những giải pháp đúng có hiệu quả.
khi còn chưa thống nhất với nhau về quan điểm. Ví dụ nguồn vốn cho vay xoá đói giảm
nghèo có hai quan điểm trái ngược nhau về xác định đối tượng cho vay, quan điểm thứ
nhất cho rằng, nguồn vốn cho vay xoá đói giảm nghèo đối tượng cho vay phải là những
người thuộc diện đói, nghèo. Bởi vì đối tượng tác động trực tiếp của chính sách.Quan
điểm thứ hai cho rằng, mục đích của chính sách là xoá đói, giảm nghèo.Vì vậy phải tìm
đối tượng cho vay phù hợp để sử dụng có hiệu quả vốn vay. Không nhất thiết phải cho
Hộ đói, nghèo vay vì chưa chắc họ đã dùng vào sản xuất mà lại tiêu dùng cho đời sống.
Hơn nữa, nếu có dùng cho sản xuất chưa chắc đã có hiệu quả, vì đa số Hộ đói, nghèo
là những Hộ không có kinh nghiệm và trình độ tổ chức sản xuất. Mặt khác vốn là điều
kiện quan trọng cho sản xuất, nhưng tăng thu nhập là phương thức trực tiếp xoá đói,
giảm nghèo. Với lập luận này, có thể cho người giàu vay để họ mở rộng sản xuất, tạo
việc làm thu hút các Hộ đói nghèo lao động. Hiệu quả sử dụng vốn cao, mục tiêu xoá
đói, giảm nghèo vẫn được thực hiện. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam vừa
qua đã chứng minh điều này rất rõ.
Như vậy, việc xác định đối tượng và hình thức cho vay cần dựa trên hai căn cứ cơ bản
sau:
-Mục đích của việc cho vay.
-Tính an toàn trong bảo toàn và phát triển nguồn vốn vay.
-Hiệu quả của việc sử dụng vốn vay.
Đối với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng chuyên doanh, tính an toàn và hiệu quả của
việc sử dụng vốn vay được coi trọng trong việc xác định đối tượng và hình thức cho
vay. Đối với các ngân hàng, tổ chức tín dụng, các tổ chức xã Hội thực hiện chính sách
hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn như ngân hàng người nghèo, chương trình 120….Mục
đích vay lại được ưu tiên khi xác định đối tượng và hình thức cho vay.Vì vậy, chính
sách tín dụng nên tập trung vào các hoạt động tín dụng mang tính chất hỗ trợ. Nếu
muốn can thiệp vào các hoạt động tín dụng của các tổ chức chuyên doanh cần có sự hỗ
trợ các tổ chức này, để họ thực hiện chức năng hỗ trợ nhưng không gây khó khăn cho
hoạt động của các tổ chức tín dụng.
Ở nước ta, việc ngân hàng chủ trương cho vay vốn đến Hộ nông dân như là một đơn vị
kinh tế tự chủ là đã xác định đúng đối tượng vay. Bởi vì nông nghiệp, nông thôn nước
nghiệp.
Tóm lại đối tượng cho vay và hình thức cho vay cần phải được tập trung chú ý trong
hoạt động tín dụng của ngân hàng nông nghiệp, lưa chọn đối tượng và hình thức sao
cho phù hợp với địa phương mà ngân hàng nông nghiệp đóng ở đó.
*Thời hạn vay.
Thời hạn cho vay vốn là khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận
giữa hai bên( ngân hàng là người cho vay khách hàng là người đi vay) mà ở cuối mỗi
thời hạn đó khách hàng phải thanh toán một phần nào đó hay toàn bộ số tiền được vay
cho ngân hàng.
-Thời hạn cấp tín dụng được chia thành 2 kỳ là: thời gian ấn hạn và thời gian thu nợ.
+Thời gian ấn hạn: là khoảng thời gian từ khi ngân hàng phát tiền vay đến khi người
vay hoàn thành công trình xây dựng lắp đặt và đi vào sử dụng đây là khoảng thời gian
công trình chưa tạo ra sản phẩm, trong khoảng thời gian này ngân hàng chưa thu nợ
tiền.
+Thời gian thu nợ: là khoảng thời gian từ khi công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng
đến khi thu hết nợ vay( cả gốc và lãi).
-Có ba thời hạn cho vay: Vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong đó nợ trung và dài
hạn được hoàn trả theo phương thức phân kỳ. Ở mỗi kỳ tuỳ thuộc vào chu kỳ sản xuất
kinh doanh. Độ hao mòn của tài sản vay vốn và các nguồn thu khác mà người vay vốn
có thể có đến thời hạn trả nợ.
Do tính chất của sản xuất Hộ vẫn mang tính thời vụ, các hoạt động sản xuất phụ thuộc
rất nhiều vào thị trường tiêu thụ, nguyên vật liệu sản xuất nên doanh số cho vay ngắn
hạn chiếm đa số trong tổng số doanh số cho vay.Doanh số cho vay trung và dài hạn
chiếm tỷ trọng thấp( dưới 10%) đây cũng là một hạn chế đối với ngân hàng trong việc
thẩm định các dự án có quy mô lớn cần nhiều nguồn vốn sản xuất.
*Lãi suất vay.
Về nguyên tắc, nông nghiệp- nông thôn có những điểm đặc thù so với các ngành các
lĩnh vực khác, vì vậy đầu tư cho nông nghiệp- nông thôn qua các hình thức tín dụng
phải được áp dụng mức lãi suất thấp. Trên thực tế, hầu hết các nguyên tắc này được
tuân thủ. Tuy nhiên với tư cách là ngành kinh tế, ngân hàng một mặt phải đáp ứng yêu
thống tín dụng, giảm bớt chi phí giao dịch. Tỷ lệ lãi suất thưc tế có thể xác định theo thị
trường để các tổ chức tín dụng tồn tại và hoạt động.
Vì những vấn đề trên, chính sách lãi suất thấp chỉ phát huy tác dụng trong các trường
hợp sau:
-Các chính sách như trợ cấp giá, trợ cấp thuế…tỏ ra kém hiệu lực trong việc hỗ trợ
nông nghiệp, nông thôn.
-Nền kinh tế có tính kỷ luật cao, các tiêu cực của chính sách tín dụng lãi suất thấp sẽ
được hạn chế.
-Hiệu quả sử dụng vốn cao.
Việc vận dụng cơ chế lãi suất, ngân hàng nông nghiệp khu công nghiệp Minh Đức
thường xuyên nghiên cứu thị trường vốn lãi suất của các tổ chức tín dụng trên địa bàn,
để có chính sách lãi suất huy động vốn và cho vay phù hợp với địa bàn, từng thành phần
kinh tế và đúng với quy định của tổng giám đốc ngân hàng nông nghiệp Việt Nam từng
thời kỳ, đảm bảo vừa có lợi cho kinh doanh đạt hiệu quả, vừa thúc đẩy kinh tế Hộ phát
triển.
Ngân hàng nông nghiệp khu công nghiệp Minh Đức áp dụng mức lãi suất, lãi suất bình
quân đầu vào là 0,51%, lãi suất bình quân đầu ra là 0,91%, chênh lệch lãi suất đầu ra và
đầu vào là 0,41%.
9 9
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Ngân hàng nông nghiệp khu công nghiệp Minh Đức áp dụng chính sách vốn linh hoạt
hấp dẫn đối với khách hàng cạnh tranh, áp dụng lãi suất giảm dần, khuyến khích khách
hàng vay lớn sản xuất kinh doanh có hiệu quả và trả nợ ngân hàng đúng thời hạn trên cơ
sở nắm bắt kịp thời nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế, thường xuyên chỉ đạo lập
hồ sơ kinh tế địa bàn tổ chức phân loại khách hàng chủ động áp dụng các phương thức
cho vay, đảm bảo tiền vay phù hợp nhằm giữ vững khách hàng đã có và thu hút khách
hàng mới.
*Quy trình cho vay.
A-Kiểm tra trước khi cho vay.
1-Điều tra, khảo sát, xác lập hồ sơ kinh tế địa phương:
sở) phải là chủ Hộ hoặc người đại diện của chủ Hộ. Những người này phải đủ 18 tuổi
trở lên, có năng lực hành vi dân sự)
+Kiểm tra khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết( có vốn tự có, có
nguồn thu để trả nợ. Vốn tự có bao gồm vốn bằng tiền, bằng hiện vật máy móc thiết bị,
nhà xưởng...bằng sức lao động. Nếu là người hưởng lương xin vay phục vụ nhu cầu đời
10 10
Chuyªn ®Ò thùc tËp
sống phải có nguồn thu ổn định từ lương; không có nợ khó đòi hoặc nợ quá hạn trên 6
tháng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn)
+Kiểm tra mục đích xin vay, có hợp pháp không? đối tượng xin vay co bị cấm lưu
thông, cấm thực hiện hay không.
+Kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh.
*Xác định cần hay không cần thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản, nếu khách hàng
phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụng có trách nhiệm hướng dẫn
lập các thủ tục tiếp theo.
*Ngoài việc xác định nợ vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, cán bộ
tín dụng cần phải xác định các khoản vay tại NHPVNg, các ngân hàng thương mại
khác, quỹ tín dụng nhân dân và vay nặng lãi( nếu có).
*Đối với khoản vay trung, dài hạn cần phải được phân tích, đánh giá dự án trên các
phương diện:
+Đánh giá phương diện kĩ thuật (tính tiên tiến của công nghệ, công suất thiết kế, sử
dụng giá thành, quy hoạch của dự án, diện tích xây dưngj, các định mức kinh tế kĩ
thuật....)
+Đánh giá phương diện thị trường( nguồn nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra, chất
lượng thương hiệu, giá thành, khả năng tiêu thụ, cạnh tranh....)
Đánh giá phương diện đội ngũ người lao động và người quản lý ( số lượng, trình độ tay
nghề, cơ cấu, các chi phí liên quan...)
+Đánh giá phương diện tài chính của dự án( tổng vốn đầu tư, vốn tự có bằng tiền, bằng
tài sản, bằng sức lao động, vốn xin vay, chia ra vốn cố định, vốn lưu động; doanh thu,
chi phí, lợi nhuận, nguồn trả nợ....)