Phát triển kinh tế trang trại nông nghiệp trong công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta - Pdf 51

Phát triển kinh tế trang trại nông nghiệp
trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước
ta hiện nay
1
MỞ ĐẦU
Kinh tế trang trại ở nước ta đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ phát triển
mạnh mẽ trong vài năm gần đây. Có thể nói việc thực hiện chỉ thị 100 của
Ban Bí thư TW Đảng (Khoá 4), Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị
(Tháng 4/1988) về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt
nền móng cho sự ra đời của kinh tế trang trại với những thành tựu của
công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp có bước phát triển vượt bậc,
nhiều hộ nông dân có tích luỹ, đã tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát
triển. Đặc biệt là sau khi luật đất đai ra đời năm 1993, thì kinh tế trang
trại mới có bước phát triển khá nhanh và đa dạng. Việc phát triển kinh tế
trang trại đã đem lại lợi ích to lớn về nhiều mặt, làm thay đổi đáng kể bộ
mặt kinh tế - xã hội của các vùng nông thôn.
Trong những năm đổi mới nhờ chủ trương của Đảng khuyến khích
các thành phần kinh tế trong nông nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
và việc trang trại trả lại cho hộ nông dân quyền tự chủ về kinh tế mà kinh
tế hộ cũng như kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể trong nông nghiệp đã có
bước phát triển mạnh mẽ, tạo động lực thúc đẩy kinh tế nông nghiệp và
nông thôn nước ta phát triển, khai thác đầy đủ hơn các tiềm năng và
nguồn lực về đất đai, vốn và lao động.
Từ những thực tế đó, em đã chọn đề tài: “Phát triển kinh tế trang
trại nông nghiệp trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện
nay“.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, với vốn kiến thức của bản thân còn
hạn chế, nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
được sự góp ý kiến của các thầy cô, để đề tài được tốt hơn.
2
PHẦN I

quá trình tái sản xuất sản phẩm của trang trại.
Trên đây là một số quan điểm của các nhà khoa học trên thế giới,
còn các nhà khoa học trong nước nhận xét về kinh tế trang trại như thế
nào? Sau đây em xin được đề cập đến một số nhà khoa học trong nước đã
đưa ra như sau:
Quan điểm 1:“Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư
trại ,...) là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa
trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người
lao động nhất định được chủ trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị
trường và được nhà nước bảo hộ”.
Quan điểm trên đã khẳng định kinh tế trang trại là một đơn vị sản
xuất hàng hoá, cơ sở cho nền kinh tế thị trường và vai trò của người chủ
trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa thấy được vai
trò của hộ gia đình trong các hoạt động kinh tế và sự phân biệt giữa người
chủ với người lao động khác.
Quan điểm 2: “Kinh tế trang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất
hàng hoá ở mức độ cao”.
Quan điểm trên cho thấy cơ bản quyết định của kinh tế trang trại là
sản xuất hàng hoá ở trình độ cao nhưng chưa thấy được vị trí, vai trò của
nền kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường và chưa thấy được vai
trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quan điểm 3 cho rằng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản
xuất hàng hoá lớn trong Nông- Lâm - Ngư nghiệp của các thành phần kinh
tế khác ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá
trình phát triển sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh
lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa thành tựu
4
khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao
trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao”.

họ là để tiêu dùng, sản xuất nhắm đáp ứng nhu cầu đa dạng về lương thực,
thực phẩm và các nhu cầu khác của họ. Ngược lại, mục tiêu sản xuất của
kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị
trường về các loại Nông-Lâm-Thuỷ sản, sản phẩm sản xuất ra là để bán.
C. Mác đã nhấn mạnh “Kinh tế trang trại bán đại bộ phận nông sản được
sản xuất ra thị trường, cán hộ nông dân thì bán ra mua càng ít bao nhiêu
càng tốt bấy nhiêu. Như vậy trình độ phát triển của kinh tế hộ nông dân
chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hoá phải tự cung tự cấp. Để có nền nông
nghiệp sản xuất hàng hoá lớn phải chuyển kinh tế hộ nông dân sang phát
triển kinh tế trang trại.
2. Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại.
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong vấn đề
nông nghiệp thế giới, ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại
chủ yếu trong nền nông nghiệp các nước ở các nước đang phát triển trang
trại gia đình có vai trò to lớn quyết định trong sản xuất nông nghiệp, ở
đây tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cung cấp cho xã hội được sản xuất
ra từ các trang trại gia đình.
Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm
gần đây. Song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể
hiện khá rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường.
- Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc
phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao
mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc
đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ sản
xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở
những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng
6
một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nông
thôn so với kinh tế nông hộ.

theo nhu cầu của thị trường.
- Có sự tập trung tích tụ cao hơn rõ rệt so với mức bình quân của hộ
kinh tế ở từng vùng về các điều kiện sản xuất như đất đai, vốn, lao động.
- Người chủ trang trại cũng là người trực tiếp sản xuất quản lý.
- Sản xuất đi vào chuyên môn hoá cao hơn, áp dụng nhiều tiến bộ
khoa học kỹ thuật, lên giá trị sản phẩm thu nhập và giá trị sản phẩm hàng
hoá ngày càng tăng.
- Các tài sản cũng như sản phẩm thuộc quyền sở hữu gia đình và
được pháp luật bảo hộ.
4. Tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại.
Để xác định một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông
nghiệp có phải là trang trại hay không, thì phải có tiêu chí để nhận dạng
trang trại có căn cứ khoa học tiêu chí nhận dạng trang trại cần phải hàm
chứa được đặc trưng cơ bản của trang trại, nhằm đảm bảo tính chính xác
của việc nhận dạng trang trại, chúng ta đi vào xác định các tiêu chí về mặt
định tính cũng như mặt định lượng của trang trại.
Về mặt định tính, tiêu chí trang trại biểu hiện đặc trưng cơ bản của
trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá.
Về mặt định lượng, tiêu chí nhận dạng trang trại thông qua các chỉ
tiêu cụ thể nhằm để nhận dạng, phân biệt loại cơ sở sản xuất nào được coi
là trang trại, loại cơ sở nào không được coi là trang trại và để phân loại
giữa các trang trại với như về quy mô.
Các loại chỉ tiêu cụ thể chủ yếu thường dùng để xác định tiêu chí
định hướng của trang trại là tỷ suất hàng hoá, khối lượng và giá trị sản
lượng nông sản hh và các chỉ số phụ, bổ sung thường dùng là quy mô đất
trồng trọt, số đầu gia súc, gia cầm chăn nuôi, quy mô vốn đầu tư, quy mô
lao động sử dụng, thu nhập trên đơn vị đất đai, lao động, vốn đầu tư...
8
Tuy nhiên trong thực tế thường chỉ chọn 1, 2 chỉ số tiêu biểu nhất
chỉ rõ được, lượng hàng hoá được đặc trưng cơ bản nhất của trang trại và

- Đối với trang trại chăn nuôi, số đầu gia súc quy định của tiêu chí
trang trại là từ 10 con trở lên đối với trang trại chăn nuôi bò sữa, 100 con
trở lên đối với trang trại chăn nuôi lợn, nghĩa là tổng đàn lợn của trang
trại phải là 200 con trên 1 năm, vì thông thường mỗi năm nuôi 2 lứa.
5.Điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế trang trại.
Kinh tế trang trại là sản phẩm tất yếu của quá trình công nghiệp hoá
được hình thành và phát triển ở các nước công nghiệp phát triển, các nước
đang phát triển đi lên công nghiệp hoá. Nó là đội quân tự chủ sản xuất
nông sản hàng hoá ở các nước công nghiệp phát triển và là đội xung kích
trong sản xuất nông sản hàng hoá ở các nước đang phát triển. Kinh tế
trang trại ở một quốc gia được hình thành và phát triển khi hội tụ những
điều kiện cần và đủ.
- Điều kiện cần đối với trang trại (điều kiện vĩ mô)
+ Quốc gia đó phải có nền kinh tế đã chuyên môn hoá hoặc trong
quá trình công nghiệp hoá.
+ Mỗi quốc gia có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, trong đó thị
trường nông nghiệp đầu vào, đầu ra đều là hàng hoá .
+ Nhà nước công nhận và khuyến khích phát triển kinh tế trang trại.
- Điều kiện đủ đối với kinh tế trang trại.
+ Có một bộ phận dân cư có nguyện vọng, sở thích hoạt động sản
xuất nông sản hàng hoá. Hoạt động kinh doanh trang trại.
+ Người chủ phải có trình độ kiến thức quản lý kinh tế trang trại sản
xuất hàng hoá.
+ Có tiềm năng về tư liệu sản xuất kinh doanh (vốn đất đai, thiết
bị).
Vốn sản xuất bao gồm vốn tự có vốn đi vay trong đó vốn tự có phải
chiếm phần lớn phải có đủ vốn thì các ý đồ của chủ mới có khả năng thực
10
thi. Còn đất đai là điều kiện quan trọng, là tiền đề cho việc hình thành
trang trại. Không có đất đai thì không thể coi là sản xuất nông nghiệp.

Nông - Lâm nghiệp đến hộ sản xuất. Quyết định 327 - ct...rồi quyết định
Trung Ương V khoá 7, nghị quyết trung ương I khoá VIII đã vạch ra
đường lối chiến lược, tạo ra bước ngoặt cơ bản cho sự đổi mới và phát
triển nông nghiệp, nông thôn như phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn như phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, gắn tăng trưởng kinh tế
với phát triển bền vững và toàn diện kinh tế xã hội ở địa phương. Đường
lối chiến lược trên đã giải phóng và phát huy triệt để mọi tiềm năng kinh
tế hộ gia đình nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường, chuẩn bị những
điều kiện chín muồi cho sự ra đời của một hình thức kinh tế mới: kinh tế
trang trại.
Đến nay kinh tế trang trại đã được hình thành và phát triển trên
khắp các vùng của cả nước, đặc biệt phát triển mạnh ở miền nam, trung du
và miền núi, ven biển. Đã xuất hiện mô hình trang trại như: trang trại
thuần nông, trang trại thuần lâm nghiệp, trang trại chuyên chăn nuôi, trang
trại chuyên nuôi trồng thuỷ sản, trang trại phát triển tổng hợp nông lâm
nghiệp, nông ngư nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, kết hợp với công nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp hoặc dịch vụ...
12
PHẦN II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở NƯỚC TA
1. VÀI NÉT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI.
Trên thế giới kinh tế trang trại xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XVII
đầu thế kỷ XVIII, trải qua vài thế kỷ tồn tại và phát triển kinh tế trang trại
được khẳng định là mô hình kinh tế phù hợp đath hiệu quả cao trong sản
xuất nông ngư nghiệp ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều có điều kiện tự
nhiên khác nhau, phong tục tập quán khác nhau cho nên có các mô hình
trang trại khác nhau.

kỷ thứ XX sự xâm nhập của tư bản phương tây vào các nước Châu Á,
cùng việc thu nhập phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa đã
làm nẩy sinh hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp. Trong quá
trình phát triển kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới đã có sự biến
động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu trang trại. Nước Mỹ là nơi có
kinh tế trang trại rất phát triển. Năm 1950 ở Mỹ có 5648000 trang trại và
giảm dần số lượng đến năm 1960 còn 3962000 trang trại. Trong khi đó
diện tích bình quân của trang trại tăng lên, năm 1950 là 56 ha, năm 1960
là 120 ha năm 1970 là 151 ha năm 1992 là 198,7 ha.
Nước Anh năm 1950 là 543000 trang trại, đến năm 1957 còn
254000 trang trại. Tốc độ giảm bình quân trang trại hàng năm là 2,1%.
Nước Pháp năm 1955 có 2285000 trang trại, đến năm 1993 chỉ còn
801400 trang trại. Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,7%. Diện tích
bình quân của các trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên ở Anh năm
1950 diện tích bình quân 1 trang trại là 36 ha, năm 1987 là 71 ha. Ở pháp
năm 1955 diện tích bình quân 1 trang trại là 14 ha đến năm 1993 là 35ha.
Cộng hoà liên bang Đức năm 1949 là 11 ha năm 1985 là 15 ha, Hà Lan
năm 1960 là 7 ha đến năm 1987 là 16 ha.
14
Như vậy ở các nước Tây Âu và Mỹ số lượng các trang trại đều có
xu hướng giảm còn quy mô của trang trại lại tăng ở Châu Á, kinh tế trang
trại có những đặc điểm khác với trang trại ở các nước Tây Âu và Mỹ. Do
đất canh tác trên đầu người thấp, bình quân 0,15 ha/người. Đặc biệt là các
nước vùng Đông Á như: Đài Loan 0,047 ha/người, Malaixia là 0,25
ha/người, Hàn quốc 0,053 ha/người, Nhật bản là 0,035 ha/người trong khi
đó ở các quốc gia và vùng lãnh thổ này dân số đông lên có ảnh hưởng đến
quy mô trang trại. Ở các nước Châu Á có nền kinh tế phát triển như Nhật
Bản, Đài Loan. Hàn Quốc, sự phát triển trang trại diễn ra theo quy luật số
lượng trang trại giảm, quy mô trang trại tăng. Nhật Bản: năm 1950 số
trang trại là 6176000 đến năm 1993 số trang trại còn 3691000. Số lượng

trại ( 1000 cơ sở)
2314 4018 4464 5245
2. Diện tích bình
quân( ha/ trang trại)
3,5 3,72 3,56 4,52
BIỂU SỐ 4: SỰ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI Ở PHILIPIN.
1948 1960 1971 1980
1. Số lượng trang
trại ( 1000 cơ sở)
1639 2177 2354 3420
2. Diện tích bình
quân( ha/ trang trại)
3,40 3,53 3,61 2,62
BIỂU SỐ 5: SỰ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI ẤN ĐỘ.
1953 1961 1971 1985
1. Số lượng trang
trại ( 1000 cơ sở)
44354 50765 57070 97720
2. Diện tích bình
quân( ha/ trang trại)
3,01 2,6 2,18 1,68
16

Trích đoạn các chỉ tiêu phản ánh kết quả, chi phí hiệu quả và tình hình sản xuất hàng hoá của trang trại. Phương hướng chung về phát triển kinh tế trang trại.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status