MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC HÌNH ẢNH 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 10
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1
Hiện trạng ô nhiễm không khí trong nhà 3
1.2
Các thiết bị làm sạch không khí 8
1.3 Một số nghiên cứu chế tạo và ứng dụng nano trong nước và thế giới 13
1.3.1 Tính năng khử trùng của nano bạc 13
3.1. Kết quả điều chế dung dịch nano bạc bằng phương pháp hóa học 42
dung dịch nước 42
3.2 Kết quả nghiên cứu chế tạo bộ tiền lọc phủ nano bạc 43
3.3 Kết quả đánh giá khả năng kháng khuẩn của màng lọc tinh phủ nano bạc 45
3.3.1. Màng lọc tẩm nano bạc tiếp xúc trực tiếp với dịch vi khuẩn 45
3.2.2 Kết quả đánh giá khả năng kháng khuẩn của màng lọc khi tiếp xúc với
không khí 46
3.4 Đánh giá hiệu quả xử lý không khí của bộ tiền lọc 50
3.4.1. Khả năng giữ bụi của bộ tiền lọc phủ nano bạc 51
3.4.2. Đánh giá khử khuẩn không khí của bộ tiền lọc phủ nano bạc 52
3.5 Đánh giá hiệu quả làm việc của thiết bị LSKK bằng XTQ sử dụng bộ tiền lọc
phủ nano bạc 53
3.5.1. Đánh giá hiệu quả làm việc của thiết bị trong box thí nghiệm 53
3.5.2. Đánh giá khả năng khử trùng của thiết bị LSKK sử dụng bộ tiền lọc phủ
nano bạc khi tiến hành chạy trong bệnh viện 55
3.5.3. Đánh giá khả năng ức chế sự phát triển vi khuẩn và nấm trên màng lọc tinh
phủ nano bạc ứng dụng trong thiết bị LSKK 60
Hình 3. 9: Kết quả thí nghiệm vi sinh đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn, nấm của
màng lọc tinh phủ nano bạc (dung môi nước RO) ……………………………… 55
Hình 3. 10: Kết quả thí nghiệm vi sinh đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn, nấm của
màng lọc tinh phủ nano bạc (dung môi nước muối sinh lý) …………………… 56
Hình 3.11: Biểu đồ khả năng ức chế vi khuẩn và nấm của màng lọc tinh phủ nano
bạc……………………………………………… ……….…………………… 60
Hình 3.12 : Biểu đồ tỷ lệ phần trăm hiệu quả xử lý bụi của bộ tiền lọc phủ nano
bạc……………………………………………………………………… …… 63
Hình 3. 1. Ảnh thiết bị LSKK sử dụng bộ tiền lọc phủ nano bạc của Viện CNMT đặt
trong phòng điều trị tích cực của bệnh viện E …………………………….55
Hình 3. 2. Sự phân bố mật độ VKHK trong buồng điều trị tích cực của bệnh viện E
Trung ương sử dụng thiết bị LSKK của Viện CNMT……………………………. 56
Hình 3. 3. Sự phân bố mật độ nấm trong buồng điều trị tích cực của bệnh viện E
Trung ương sử dụng thiết bị LSKK của Viện CNMT 57
Hình 3.16: Kết quả thí nghiệm đánh giá khả năng khử khuẩn của màng lọc tinh phủ
nano bạc sau thời gian chạy thử nghiệm trong thiết bị Thanh Phong 250 tại phòng
Hồi sức tích cực Bệnh viện E(dung môi nước RO) ………………………… ….59 DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3. 1. Khả năng diệt khuẩn của các màng lọc không khí…………. …….… 44
Bảng 3. 2. Kết quả đếm số lạc khuẩn và hiệu suất xử lý trên các đĩa nuôi
LSKK Làm sạch không khí
NKBV Nhiễm khuẩn bệnh viện
PP Polypropilen
Nhựa Polypropilen
SEM Scanning Electron Microscope
Kính hiển vi điện tử quét
TEM Transmission Electron Microscopy\
Kính hiển vi điện tử truyền qua
UV-VIS Ultraviolet-visible
Quang phổ UV-VIS
VOCs Volatile organic compounds
Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
VKHK Vi khuẩn hiếu khí
XTQ Xúc tác quang
WHO World health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
1
MỞ ĐẦU
Việc kiểm soát tình trạng ô nhiễm không khí trong các phòng kín như các
phòng chuyên môn của bệnh viện, văn phòng, tòa nhà công cộng và nhà ở… do các
tác nhân bụi, hóa chất, vi sinh vật ngày càng trở nên cấp thiết để đảm bảo chất
lượng cuộc sống con người và nâng cao điều kiện làm việc. Tập trung nghiên cứu
phát triển, hoàn thiện các công nghệ làm sạch không khí trong phòng kín là vấn đề
đang được quan tâm trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong đó, sự ô nhiễm
sạch không khí của thiết bị LSKK bằng XTQ.
- Nội dung nghiên cứu: .
i) Điều chế dung dịch nano bạc bằng phương pháp hóa học dung dịch
nước;
ii) Nghiên cứu phương pháp phủ nano bạc lên các màng lọc bụi để chế tạo
bộ lọc tiền lọc phủ nano bạc.
iii) Đánh giá hiệu quả diệt khuẩn của màng lọc phủ nano bạc và hiệu quả
khử trùng của thiết bị làm sạch không khí bằng công nghệ xúc tác quang
sau khi lắp bộ tiền phủ nano bạc.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 Hiện trạng ô nhiễm không khí trong nhà
Trước đây, khi nhắc đến ô nhiễm không khí, chúng ta chỉ nghĩ đến sự ô nhiễm
khói bụi bên ngoài do các giao thông, khai khoáng, xây dựng, các quá trình thiên
nhiên … Tuy nhiên, từ những năm 90 của thế kỷ XX, các nghiên cứu đã quan tâm
đến sự ô nhiệm không khí trong các phòng kín. Không khí trong nhà có khả năng
lưu thông kém giữa các khu vực trong nhà, hạn chế về mặt đối lưu và hạn chế sự
trao đổi không khí giữa trong và ngoài nhà , thời gian lưu của không khí kéo dài,
mật độ người tập trung cao, nhiều đồ đạc, có các hoạt động, sinh hoạt đặc thù nên
dẫn đến sự tích lũy của các chất gây ô nhiễm với thời gian dài và mật độ cao.
Chất lượng không khí ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của con người. Theo
nghiên cứu của Cục bảo vệ môi trường Mỹ, ngày nay con người dùng khoảng 89-
90% thời gian sống trong nhà, những người càng lớn tuổi càng có xu hướng dành
gồm có bụi vô cơ, bụi hữu cơ, bụi kim loại, bụi sợi, bụi có chứa thành phần vi sinh
vật…, mỗi loại bụi kể trên lại có những tác động khác nhau đến sức khỏe con người
[2]. Khảo sát chất lượng không khí tại 30 cao ốc, văn phòng trên địa bàn Hà Nội
cho kết quả về lượng bụi tổng dao động từ 0,086 – 1,175 mg/m
3
không khí và trung
bình là 0.333 mg/m
3
không khí, trong khi đó bụi hô hấp dao động từ 0.067 mg/m
3
-
0.506 mg/m
3
không khí, giá trị trung bình khoảng 0.208 mg/m
3
không khí. Từ kết
quả trên có thể thấy tỷ lệ bụi mịn hay bụi hô hấp chiếm khoảng 62% (tính theo các
giá trị trung bình).
Bụi ảnh hưởng toàn diện đến sức khỏe con người nhưng tác động nhiều nhất
là đến hệ hô hấp của cơ thể con người đặc biệt là trẻ em, sự ảnh hưởng của bụi lên
sức khỏe phụ thuộc nhiều vào kích thước và tính chất của nó. Các hạt bụi trong nhà
thường có kích thước nhỏ ảnh hưởng lớn hơn đối với sức khỏe con người, do khả
năng thâm nhập sâu vào hệ thống hô hấp và lắng đọng trong phổi, phế quản. Bụi
gây ra các bệnh về đường hô hấp như ho, viêm mũi, viêm xoang, viêm họng, viêm
phế quản, viêm phổi, gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, nếu trong thành phần bụi
chứa các phóng xạ thì làm tăng khả năng mắc ung thư phổi. Ngoài các tác động ở
hệ hô hấp, bụi còn gây ra nhiều bệnh viêm nhiễm và dị ứng trên da và mắt, như dị
ứng gây ngứa mắt, viêm biểu mô giác mạc, viêm kết mạc… Thời gian tiếp xúc bụi
5
VOC + ánh sáng + NO
x
+ O
2
=> NO + CO
2
+ H
2
+ O
3
Thành phần chất gây ô nhiễm có nguồn gốc sinh học bao gồm nấm mốc, vi
khuẩn, phấn hoa, lông vật nuôi… Vi khuẩn và nấm mốc phân bố rộng khắp trong
không khí, và bám trên các hạt bụi lơ lửng. Với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước
ta, là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển mạnh. Trong đó, có
những vi sinh vật có lợi, tham gia vào chu trình chuyển hóa vật chất, và có nhóm vi
sinh vật gây hại, lây bệnh cho động thực vật, đặc biệt là lây bệnh cho con người.
Ô nhiễm vi sinh vật ở môi trường không khí trong nhà đang ở mức đáng báo
động. Một nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng không khí trong nhà tại các
tòa nhà và cao ốc ở Hà Nội cho thấy chỉ tiêu về vi sinh vật trong các không gian này
cao gấp nhiều lần khuyến nghị [2]. Vi sinh vật là nguyên nhân gây các bệnh da liễu,
bệnh về mắt, các bệnh lây truyền về đường hô hấp (lao, viêm phế quản…) và bệnh
đường ruột (tả, lỵ, thương hàn…). Một số nhóm vi sinh vật có khả năng tạo bào tử
có thể tồn tại rất lâu trong không khí làm tăng khả năng gây bệnh đối với con
người, ví dụ thời gian tồn tại trong không khí của các vi khuẩn lao ở dạng bào tử là
từ 3 đến 4 tháng.
Khi nhắc đến hiện trạng nhiễm không khí trong nhà bên cạnh việc quan tâm
đến sự ô nhiễm không khí trong các nhà ở, văn phòng, thì sự ô nhiễm ở các phòng
chuyên môn cũng là vấn đề cần được chú trọng, đặc biệt là sự ô nhiễm vi sinh tại
quan tâm hàng đầu tại các bệnh viện ở Việt Nam và trên thế giới. Nhiễm khuẩn
bệnh viện (NKBV) là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian nằm viện,
nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian điều trị, thời gian
nằm viện, tăng sử dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh và kéo theo tăng chi
phí điều trị. Theo điều tra năm 1998 tại 12 bệnh viện trong toàn quốc, tỷ lệ NKBV
là 11,5% tổng số ca nhiễm khuẩn; năm 2001 tỷ lệ NKBV là 6,8% trong các ca
nhiễm khuẩn được khảo sát tại 11 bệnh viện; năm 2005 tỷ lệ NKBV là 5,7% khi
điều tra tại 19 bệnh viện, và biểu hiện thường gặp nhất là viêm phổi. Tại Việt Nam,
mỗi năm vẫn có gần 700 nghìn bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ do NKBV gây ra,
kéo dài thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân từ 9 đến 24,3 ngày, đồng thời
kéo theo tăng chi phí điều trị trung bình từ 2 - 32,3 triệu đồng/bệnh nhân. Tại Mỹ
8
hàng năm ước tính có 2 triệu bệnh nhân bị NKBV, làm 90000 người tử vong, làm
tốn thêm 4,5 tỉ đôla viện phí.
Như vậy, ô nhiễm không khí trong nhà có mức độ đe dọa nghiêm trọng đối
với sức khỏe con người, nếu không có những biện pháp cải thiện điều kiện môi
trường không khí trong nhà, sức khỏe con người ngày càng phải chịu những tác
động nghiêm trọng do các căn bệnh mãn tính, và bệnh nan y, và cả về mặt di
truyền, suy giảm chất lượng đời sống xã hội.
1.2 Các thiết bị làm sạch không khí
Để cải thiện và kiểm soát chất lượng không khí, từ lâu các công nghệ làm sạch
không khí đã được quan tâm nghiên cứu, các công nghệ LSKK hiện nay bao gồm:
các công nghệ truyền thống gồm các thiết bị LSKK dựa trên nguyên lý lọc, tiếp đến
là sự phát triển của các thiết bị LSKK bằng ion hóa và LSKK bằng nguyên lý đốt
cháy và công nghệ tiên tiến hiện nay là công nghệ LSKK ứng dụng nguyên lý xúc
tác quang.
*) Thiết bị làm sạch không khí ứng dụng công nghệ dựa trên nguyên lý lọc:
Các thiết bị LSKK dựa trên nguyên lý lọc tách thành phần bụi ra khỏi pha khí, sử
dụng các màng lọc để loại bỏ bụi và một phần vi sinh vật bám trên bụi. Các sợi lọc
Europe Air in space, Daikin
*) Thiết bị làm sạch không khí bằng công nghệ xúc tác quang
Các thiết bị LSKK theo công nghệ truyền thống còn xuất hiện khá nhiều
nhược điểm, sự xuất hiện của công nghệ LSKK bằng XTQ trong thời gian gần đây
cũng đã góp phần cải thiện được một số nhược điểm của các thiết bị truyền thống,
về hiệu quả xử lý các chất VOCs và vi sinh vật. Công nghệ LSKK bằng xúc tác
quang đã được đưa vào ứng dụng trong LSKK và đồng thời cũng đang được tiếp tục
nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ.
Từ phát hiện của Fujishima về hiệu ứng phân hủy quang hóa nước trên điện
cực TiO
2
và quá trình XTQH bắt đầu được quan tâm nghiên cứu rộng rãi, trong đó
đặc biệt là vấn đề xử lý nước và không khí bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ và
vô cơ có khả năng phân hủy bằng phản ứng quang hóa.
10
Nguyên lý của quá trình xúc tác quang là sử dụng các chất có khả năng làm
tăng tốc độ các phản ứng quang hóa, nhằm oxi hóa các chất. Khi được chiếu ánh
sáng với cường độ thích hợp chất XTQH đẩy nhanh tốc độ phản ứng quang hoá
bằng cách tương tác với chất nền ở trạng thái ổn định hay ở trạng thái bị kích thích
hoặc với các sản phẩm của phản ứng quang hoá tuỳ thuộc vào cơ chế của phản ứng.
Chất XTQH khi được chiếu bằng ánh sáng thích hợp có thể tạo ra một loạt quy trình
giống như phản ứng oxy hoá – khử và các phân tử ở dạng chuyển tiếp có khả năng
oxy hoá – khử mạnh. Hiện nay, vật liệu xúc tác quang đang được nghiên cứu và ứng
dụng trong việc xử lý chất ô nhiễm là TiO
2
.
Công nghệ LSKK bằng XTQ là công nghệ xuất phát sau nhưng đã có những
bước phát triển mạnh mẽ. Nguyên tắc làm việc chung của các thiết bị là sử dụng
một máy hút để hút không khí đi vào thiết bị và qua các lớp lọc thô, lọc HEPA để
Bộ lọc sơ cấp hay bộ tiền lọc gồm lọc thô và lọc tinh, không khí đi qua bộ
tiền lọc có thể loại bỏ được hầu hết các hạt bụi có kích thước >0,3 µm. Nguyên lý
hoạt động của lớp lọc thô và lọc tinh cũng tương tự như nguyên lý lọc cơ học trong
thiết bị LSKK bằng nguyên lý lọc. Bộ lọc thô được chế tạo từ vật liệu vải không dệt
thành phần bông PE dày 1-3mm, đường kính sợi nhỏ hơn 20µm, khoảng cách giữa
các sợi từ 200-400 µm, các sợi lọc được xử lý để tăng bám dính. Nguyên tắc bắt bụi
chủ yếu của bộ lọc thô là dựa trên quán tính của các hạt, khi dòng khí đi quanh sợi
lọc, các hạt do có quán tính nên không chuyển hướng được chạm vào bề mặt sợi
lọc và bị giữ lại. Bộ lọc thô có tác dụng loại bỏ bụi có kích thước trên 3 micromet.
Bộ lọc tinh là màng PP, có khả năng loại bỏ bụi đến kích thước 0,3 micromet. Các
hạt bụi có kích thước nhỏ bay theo dòng không khí uốn cong tại các sợi lọc, lăn trên
bề mặt sợi lọc và bị giữ lại, hoặc các hạt bụi chuyển động Brown như phân tử, va
đập vào sợi lọc và bị giữ lại. Lực bám giữ của bụi lên bề mặt sợi lọc là lực Van der
Van. Khả năng loại bỏ bụi của bộ lọc phụ thuộc vào hiệu suất thiết kế của bộ lọc và
tốc độ gió đi qua bộ lọc [9]. Như vậy, với khả năng lọc bụi của bộ tiền lọc, lượng
12
bụi đã được giữ lại đáng kể, với các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn được xử lý trong
hệ thống lắng tĩnh điện phía sau.
Bộ lắng tĩnh điện (ESP – electro static precipitation), không khí đi qua các
ống có điện trường lớn và bị ion hóa, bị hút về phía cực lắng có điện tích dương. Hệ
lọc bụi tĩnh điện gồm các điện cực ống trụ rỗng D=75mm, và có biến áp để tăng
hiệu điện thế ion hóa các hạt. Bộ lọc có khả năng lọc các phần tử bụi nhỏ còn lại.
Nguyên lý lắng bụi tĩnh điện là khi dòng không khí đi qua điện trường (được tạo ra
trong ống trụ bởi một dòng điện một chiều có hiệu điện thế cao) xảy ra quá trình
điện li của các hạt bụi tạo thành ion âm và ion dương, khi các hạt bụi nhiễm điện bị
hút về các điện cực trái dấu và bám trên bề mặt điện cực. Hệ thống lọc bụi tĩnh điện
có thể loại bỏ được những hạt bụi có kích thước rất nhỏ từ 0,1µm trở lên, hiệu suất
loại bỏ bụi có thể đạt 99%, do đó đảm bảo dòng không khí đi vào bộ lọc XTQ là
không khí sạch, giảm thiểu tối đa sự bám bụi trên bề mặt các ống XTQ, làm tăng
và nấm, khi lượng vi sinh vật tích tụ với mật độ lớn, nó trở thành nguồn ô nhiễm vi
sinh thứ cấp và có khả năng phát tán ngược trở lại môi trường với nồng độ lớn.
1.3 Một số nghiên cứu chế tạo và ứng dụng nano trong nước và thế giới
1.3.1 Tính năng khử trùng của nano bạc
Bạc là một kim loại quý cổ xưa được con người biết đến như một nguyên tố
với hoạt tính kháng khuẩn tự nhiên mạnh nhất. Trong hệ thống tuần hoàn bạc có số
hiệu nguyên tử 47 phân nhóm phụ IIB, là nguyên tố chuyển tiếp nhóm d có cấu hình
e lớp ngoài cùng là 4d
10
5s
1
. Bạc có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, thậm chí cả
bạc có khả năng tiêu diệt một số loại virus trong đó có virus HIV, bạc ngăn ngừa sự
phát triển của vi khuẩn, nấm và khử mùi hôi.
Thời cổ đại người ta đã biết sử dụng bạc trong việc khử trùng nước. Theo
các tư liệu lịch sử, từ cách đây 2500 năm, người ta đã tiến hành khử độc cho nước
14
uống bằng cách nhúng vào đó một thỏi bạc nung đỏ. Thời Alexander Đại đế, bạc
được sử dụng để chế tác các dụng cụ đựng đồ ăn, thức uống như bát đĩa, ly chén với
mục đích bảo quản thức ăn, chống độc. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, người ta
sử dụng một đồng bạc cho vào bình để sữa tươi có thể bảo quản được trong một
ngày [32].
Thời La Mã cổ đại, bạc nitrat được sử dụng để điều trị các vết thương, vết
bỏng.
. Các nhà giả kim thuât từng gọi tác dụng của bạc là một chất làm lành. Vào
khoảng cuối thế kỷ 18, bạc được ứng dụng trong y học với vai trò là một hóa chất
sát khuẩn tốt nhất và một loại kháng sinh mà vi sinh vật không có khả năng tạo
kháng thể, do đó không xuất hiện tượng kháng thuốc của vi sinh vật [32].
chục nghìn lần, trong khi đó làm giảm tỷ trọng về giá của bạc trên các vật liệu phủ
xuống mức không đáng kể. Ở dạng hạt nano, năng lượng bề mặt của bạc rất lớn, nó
dễ dàng kết hợp với nước trong trong dung dịch hoặc các phân tử nước trong không
khí, trở thành “kho chứa” để giải phóng từ từ các ion bạc, khiến các ion Ag+ trở nên
linh động và tạo ra khả năng khử khuẩn. Nồng độ bạc sử dụng cho việc kháng
khuẩn và sát trùng rất thấp, chỉ với dung dịch nano bạc có nồng độ 5ppm đạt hiệu
quả khử khuẩn Esherichia Coli 99,9% và vi khuẩn staphylococcus aureus 99%
[31].
Khả năng diệt khuẩn của ion bạc không dựa trên đặc tính gây nhiễm của vi
khuẩn như là đối với các chất kháng sinh, mà dựa trên cơ chế tác dụng lên cấu trúc
tế bào. Bất cứ tế bào nào không có màng bền hóa học bảo vệ ( vi khuẩn và virut
thuộc cấu trúc loại này) đều chịu tác động của bạc. Các tế bào động vật máu nóng
có cấu trúc màng hoàn toàn khác, không chứa các lớp peptidoglycan, nên bạc không
tác động được. Nhờ sự khác biệt đó nano bạc có thể tác động lên 650 loài vi khuẩn,
trong khi phổ tác động của bất kỳ chất kháng sinh nào cũng chỉ từ 5 – 10 loài.
Cơ chế tác dụng của các ion bạc lên vi sinh vật vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ
và đang tiếp tục được nghiên cứu. Hầu hết các nhà nghiên cứu có quan điểm thống
nhất về cơ chế khử khuẩn của nano bạc theo ba hướng tác động sau: (1) ion bạc phá
hủy chức năng hô hấp của vi sinh vật, hoặc (2) phá hủy chức năng của thành tế bào,
hoặc (3) liên kết với DNA của tế bào vi sinh vật và phá hủy chức năng của chúng.
16
Cơ chế tác động lên enzym hô hấp của vi sinh vật được đề xuất là do khả
năng kết hợp của ion bạc với nguyên tố lưu huỳnh trong nhóm sunfuahidryl (-SH)
của axit amin trong phân tử enzym chuyển hóa oxi trên màng tế bào, làm mất hoạt
tính enzym, dẫn đến oxy không còn khả năng được vận chuyển qua màng để vào
trong tế bào tham gia vào quá trình hô hấp. Cơ chế này được mô tả bởi các nhà khoa
học làm việc trong hãng ANSON của Trung Quốc [9,10].
nhân của tác dụng kháng khuẩn phổ rộng là sự ức chế quá trình vận chuyển qua
màng của các ion Na
+
và Ca
2+
bởi ion bạc. Ion bạc còn thể hiện rõ khả năng diệt
nhiều chủng vi rut và nấm.
Các ion bạc còn có khả năng ức chế quá trình phát triển của vi khuẩn bằng
cách sản sinh ra ôxy nguyên tử siêu hoạt tính trên bề mặt của hạt bạc:
2Ag
+
+ O
-2
2Ag
0
+ O
0
Khả năng diệt khuẩn của ion bạc dựa trên cơ chế tác dụng lên cấu trúc tế bào
mà không phụ thuộc đặc tính gây nhiễm của vi khuẩn như đối với cơ chế tác động
18
của các chất kháng sinh. Bất cứ tế bào nào không có màng bền hóa học bảo vệ ( vi
khuẩn và virut thuộc cấu trúc loại này) đều chịu tác động của bạc. Các tế bào động
vật máu nóng do có cấu trúc màng hoàn chỉnh, không chứa các lớp peptidoglycan,
nên không chịu tác động của ion bạc. Nhờ sự khác biệt về cơ chế tác động của bạc
so với các kháng sinh mà bạc có thể tác động lên 650 loài vi khuẩn, nấm trong khi
phổ tác động của bất kỳ chất kháng sinh nào cũng chỉ từ 5 – 10 loài.
Hay tác dụng kháng khuẩn phổ rộng của ion bạc là sự ức chế quá trình vận
chuyển qua màng của các ion Na