MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ SINH THÁI CẢNH QUAN VÀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 3
1.1. Sự phát triển của Sinh thái cảnh quan trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.1.1. Sự phát triển của Sinh thái cảnh quan trên thế giới 3
1.1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở Việt Nam 5
1.1.3. Những vấn đề lý luận trong phân tích sinh thái cảnh quan cho các mục
đích thực tiễn 8
1.1.4. Những nghiên cứu trên địa bàn huyện Krông Bông 9
1.2. Tình hình nghiên cứu du lịch bền vững 10
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam. 10
1.2.2 Khái niệm và nguyên tắc về phát triển du lịch bền vững 11
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Krông Bông 18
1.3.1. Vị trí địa lý 18
1.3.2. Điều kiện tự nhiên 19
1.3.3. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Krông Bông 29
1.4. Hiện trạng phát triển du lịch ở Krông Bông 32
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
34
2.1. Đối tượng nghiên cứu 34
2.2. Phạm vi nghiên cứu 34
2.3. Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu 34
2.3.2. Phương pháp khảo sát thực địa 35
2.3.3. Phương pháp bản đồ và GIS 35
2.3.4. Hệ thống phân loại cảnh quan 35
2.3.5. Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp 45
CHƢƠNG 3: KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1. Đặc điểm cảnh quan của huyện Krông Bông 50
Bảng 13: Đề xuất loại hình du lịch tiềm năng tại địa phương 75
Bảng 14 : Đánh giá cảnh quan phù hợp với từng loại hình du lịch 76
Bảng 15: Định hướng thị trường khách du lịch 78
Bảng 16: Đinh hướng sử dụng cảnh quan du lịch theo hướng phát triển bền vững . 81 DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Krông Bông 18
Hình 2: Thác Krông Kmar 25
Hình 3: Hang Đăk Tuar 26
Hình 4: Vườn quốc gia Chư Yang Sin 27
Hình 5 : Sơ đồ khái quát nội dung quá trình đánh giá tổng hợp 46
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- FAO
:
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
(Food and Agriculture Organization of the United Nations)
- UNESCO
:
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp
quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization)
- IALE
:
Hiệp hội quốc tế về sinh thái cảnh quan (The International
Assosiation of Landscape Ecology)
- KT - XH
Vườn quốc gia
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong nhiều thập kỷ vừa qua, đặc biệt là từ những năm 1950 trở lại đây, du
lịch toàn cầu đã phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân về lượng
khách là 6,9%/năm; về doanh thu là 11,8%/năm và đã trở thành một trong những
ngành kinh tế hàng đầu trên thế giới (Nguồn: báo cáo tổng hơp: Du lịch Bền Vững -
Tổng cục du lịch).
Du lịch nói chung và du lịch bền vững (DLBV) nói riêng đã và đang phát
triển nhanh chóng không những ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt
trong những năm gần đây, sự phát triển du lịch theo xu thế phát triển bền vững như
là một hiện tượng và một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của
nhiều người, bởi đó là loại hình du lịch có trách nhiệm, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo
tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời
đem lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch
nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh của Tây Nguyên và là một tỉnh có nhiều tiềm
năng phát triển kinh tế – xã hội và du lịch; là một hạt nhân kinh tế quan trọng của
Tây Nguyên. Nằm trong tỉnh Đắk Lắk, huyện Krông Bông là một huyện có nhiều
khu cảnh quan tự nhiên hấp dẫn như: VQG Chư Yang Sin, thác Krông Kmar, Hang
đá Đắk Tuar… , đang ngày càng được quan tâm trong sử dụng để đầu tư cho phát
triển du lịch vì sự phong phú của tự nhiên, sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan
đẹp. Chúng được coi là nền tảng cho sự phát triển du lịch nói chung và nhất là phát
Bông - Tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi khoa học: luận văn tập trung nghiên cứu cấu trúc sinh thái cảnh
quan của huyện từ đó đề xuất định hướng phát triển du lịch bền vững.
4. Các Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu
4.2. Phương pháp khảo sát thực địa
4.3. Phương pháp bản đồ và GIS
4.4. Hệ thống phân loại cảnh quan
4.5. Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ SINH THÁI CẢNH QUAN VÀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Sự phát triển của Sinh thái cảnh quan trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Sự phát triển của Sinh thái cảnh quan trên thế giới
Sinh thái học cảnh quan là một khoa học liên ngành nghiên cứu về CQ, đặc
biệt là về thành phần, cấu trúc, chức năng của CQ. Sinh thái học cảnh quan nghiên
cứu các mô hình CQ, mối quan hệ tác động giữa các yếu tố trong mô hình đó, và
cách thức thay đổi của mô hình CQ theo thời gian, cũng như các nguyên tắc ứng
dụng trong quá trình con người cải biến CQ.
Đã có rất nhiều những nghiên cứu sinh thái cảnh quan nhưng trước hết phải
kể đến các nghiên cứu của Wu.J và R.Hobbs từ cuối thế kỷ XIX. Sinh thái học cảnh
quan là khoa học nghiên cứu và cải thiện các mối quan hệ giữa quá trình phát triển
đô thị và hệ sinh thái trong môi trường với các hệ sinh thái đặc trưng. Hai ông cũng
chỉ rõ đặc điểm nổi bật nhất của hệ STCQ là sự nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa
các quá trình, mô hình và quy mô, cũng như tập trung vào các vấn đề sinh thái và
môi trường trên quy mô rộng. Các chủ đề nghiên cứu quan trọng trong hệ STCQ
bao gồm sự thay đổi của hệ sinh thái trong cảnh quan, sử dụng đất và thay đổi độ
che phủ đất, nhân rộng mô hình phân tích CQ có liên quan với quá trình sinh thái,
Đến những năm 1980, STCQ mới phát triển như một khoa học thực sự và
được đánh dấu bởi sự ra đời của Hiệp hội quốc tế về Sinh thái cảnh quan (IALE-
The International Assosiation of Landscape Ecology) năm 1982. Từ những năm
1985 trở lại đây STCQ phát triển một cách nhanh chóng, có tầm ảnh hưởng đến sự
phát triển KT-XH với một số lượng lớn các công trình nghiên cứu cả lý thuyết và
ứng dụng trong các ngành sản xuất. Lý thuyết STCQ nhấn mạnh vai trò của các tác
động của con người trong cấu trúc và chức năng CQ. Đồng thời cũng đề xuất các
phương pháp để khôi phục lại CQ bị suy thoái và nhận thức một cách rõ ràng STCQ
bao gồm cả con người như những thực thể gây ra sự thay đổi trong CQ [9,12,26].
Từ việc nghiên cứu các đặc trưng quan trọng của STCQ là cấu trúc và chức
năng (Forman và Godron năm 1986), đến nghiên cứu xây dựng các cách phân loại
chức năng CQ (De Groot năm 1992)[28], xây dựng bản đồ các vùng sinh thái ở các
nước Hà Lan, Hoa Kỳ, Mêxicô, Canađa,… đến nay Sinh thái học cảnh quan đi sâu 5
vào nghiên cứu ĐGCQ, tìm ra các mối liên hệ trong cấu trúc và chức năng CQ,
phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử dụng của các đơn vị CQ (Troy và
Wilson năm 2006, Meyer và Grabaum năm 2008), Sinh thái cảnh quan ngày nay
gắn liền nghiên cứu với ứng dụng thực tiễn [25,26,28,30].
Từ những năm 1990 trở lại đây: Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng của
STCQ tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo xu hướng ứng dụng cảnh quan vào bảo vệ
môi trường dựa trên công nghệ nghiên cứu tiên tiến và hiện đại như Viễn thám,
GIS, các mô hình không gian để thành lập bản đồ CQ, bản đồ ĐGCQ. Sử dụng các
phương pháp nghiên cứu định lượng trong phân tích, ĐGCQ mang lại các kết quả
chính xác về các dữ liệu đất, các yếu tố khí hậu, thảm thực vật và có giá trị thực tiễn
lớn
1.1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu CQ chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận
khoa học Cảnh quan của các nhà địa lý Xô Viết, tùy vào từng giai đoạn phát triển
điểm và phương pháp luận nghiên cứu STCQ như:
- Năm 1991, Trương Quang Hải Phân kiểu cảnh quan Miền Nam Việt Nam;
- Năm 1992, Nguyễn Trần Cầu với Cảnh quan học- Sinh thái học và việc
nghiên cứu thành lập bản đồ Cảnh quan sinh thái;
- Năm 1993, Nguyễn Thế Thôn Bàn về Sinh thái cảnh quan và Cảnh quan
sinh thái. Sau đó năm 2000, Ông đã tiếp tục nghiên cứu “Về lý thuyết cảnh quan
sinh thái”, năm 2001 đưa ra “Nguyên tắc và phương pháp thiết kế mô hình kinh tế -
môi trường trên cơ sở lý thuyết cảnh quan sinh thái và cảnh quan sinh thái ứng
dụng”;
- Năm 1993, tập thể tác giả thuộc Trung tâm Địa lý tự nhiên đã Nghiên cứu
xây dựng bản đồ cảnh quan lãnh thổ Việt Nam
- Năm 1996, Nguyễn Cao Huần, Nguyễn Ngọc Khánh, Phạm Hoàng Hải đã
nghiên cứu Các đơn vị phân loại cảnh quan Việt Nam. Tiếp đó Nguyễn Cao Huần
và Trần Anh Tuấn đã nghiên cứu Phân loại cảnh quan nhân sinh Việt Nam vào
năm 2000;
- Năm 1997, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh
nghiên cứu xây dựng Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên 7
nhiên, bảo vệ lãnh thổ môi trường Việt Nam. Năm 2000, Phạm Hoàng Hải Nghiên
cứu về các nguyên tắc và hệ thống phân vị cảnh quan Việt Nam. Theo hướng
nghiên cứu này ông đã tiếp tục "Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam, phương
pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu" năm 2006 và “Phân vùng sinh
thái cảnh quan ven biển Việt Nam để sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi
trường”. Các công trình này đã đưa ra các hệ thống phân loại khác nhau phù hợp
với từng phạm vi lãnh thổ và mục đích nghiên cứu, đồng thời đã cung cấp những
vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan các vùng lãnh thổ Việt
Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu CQ phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
động giữa các kiểu phân bố không gian và các quá trình sinh thái. Đó là các lĩnh vực
nghiên cứu về những nguyên nhân, hậu quả của đa dạng không gian với các cấp độ
khác nhau trong mối liên quan với cấu trúc, chức năng của các hệ sinh thái (LOICZ.
1996, 1997, 1998). [1,6,7]. Nó đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thiết kế
các qui hoạch tổng thể trong các mối liên hệ hài hoà giữa phát triển kinh tế và bảo tồn.
Thực chất đây là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành kể cả bảo tồn thiên nhiên, xây dựng,
kiến trúc, phát triển cơ sở hạ tầngMột số đặc điểm chính của sinh thái cảnh quan bao gồm:
- Sinh thái học cảnh quan nghiên cứu các cấp độ không gian rộng lớn (một vùng, một
khu vực). nghiên cứu tác động sinh thái học của các kiểu phân bố không gian lên các
hệ sinh thái;
- Sinh thái học cảnh quan nghiên cứu các thể 'khảm' trong việc bố trí khu bảo tồn, khu
dân cư, nơi sống, thảm thực vật, nông nghiệplà bức tranh tổng thể của các mảnh nhỏ
nhiều màu sắc. Nó còn đề cập đến chiều hướng tác động của sự phân bố không gian đến
các quá trình sinh thái;
- Sinh thái cảnh quan thúc đẩy phát triển mô hình và nghiên cứu lý thuyết quan hệ
không gian, thu thập dữ liệu mô tả mới về không gian và các quá trình động thái hệ
sinh thái nói chung và cảnh quan nói riêng.
Các xu hướng nghiên cứu hiện nay cho thấy sinh thái cảnh quan tập trung trên 3 lĩnh
vực cơ bản là cấu trúc, chức năng và sự thay đổi trong không gian và thời gian: 9
- Cấu trúc: Nghiên cứu các kiểu không gian, cách bố cục, sắp xếp các hệ thống bao
gồm khu bảo tồn, vùng phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịchcho
một vùng rộng lớn;
- Chức năng: Nghiên cứu các mối tác động qua lại giữa các thành phần không gian
của cảnh quan bao gồm sự vận động của sinh vật, chu trình vật chất và năng lượng,
mối quan hệ giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn;
- Thay đổi: chấp nhận rằng cả cấu trúc và chức năng luôn thay đổi theo thời gian,
những sự thay đổi về khí hậu, địa mạo, địa chất đều tác động đến cấu trúc và chức năng
quản lý tổng hợp tài nguyên rừng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây
Nguyên”.
Nhìn chung hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tài nguyên rừng
mà chưa có những nghiên cứu một cách tổng hợp tài nguyên thiên nhiên cũng như
mối quan hệ giữa các hoạt động sử dụng tài nguyên đối với các vấn đề môi trường
nảy sinh trong huyện. Do đó, trong thời gian tới rất cần những nghiên cứu một cách
tổng thể sinh thái cảnh quan từ đó xây dựng những mô hình khai khác và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên cũng như bảo vệ môi trường.
1.2. Tình hình nghiên cứu du lịch bền vững
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam.
Ban đầu việc cung ứng các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách còn
mang tính sơ khai và chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà không quan tâm đến sự tác
động xấu của du lịch đến môi trường. Từ đó xuất hiện hình thức du lịch đầu tiên
trong lịch sử và còn tồn tại cho tới ngày nay là “du lịch thương mại” hay “du lịch ồ
ạt”[5]
Đầu năm 1980, xuất hiện những thuật ngữ “các loại hình du lịch thay thế”,
để chỉ các hoạt động du lịch có quan tâm đến môi trường bao gồm: “du lịch xanh”,
“du lịch mềm”, “du lịch có trách nhiệm”
Từ năm 1975 đến 1980, Krippendorf và Jungk là những nhà khoa học đầu
tiên cảnh báo về những suy thoái sinh thái do hoạt động du lịch gây ra. Họ đã đưa ra
khái niệm “du lịch rắn” để chỉ những hoạt động du lịch ồ ạt và “du lịch mềm” để chỉ
một chiến lược mới tôn trọng môi trương. 11
Năm 1996, xuất hiện một khái niệm mới là “du lịch bền vững” ủng hộ chủ
trương phát triển du lịch mà ít ảnh hưởng xấu tới môi trường trên cơ sở cải tiến và
nâng cấp từ khái niệm “du lịch mềm” của Kippedorf và Jungk. [5,10]
Giáo sư Bemeber – một chuyên gia hàng dầu về du lịch trên thế giới đã nhận
đinh: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả thì có bấy nhiêu định nghĩa”.
nhu cầu về du lịch của tương lai;
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới - WTO đưa ra tại Hội nghị về
Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992 thì “Du
lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu
hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc
bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong
tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa
mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì
được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái
và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”. [10,13,16]
Mặc dù còn những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm Phát
triển du lịch bền vững, tuy nhiên cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh
vực du lịch và các lĩnh vực có liên quan khác ở Việt Nam đều cho rằng:
“Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự
nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan
tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn
và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển
hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần
nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”.
1.2.2.2 Những nguyên tắc cơ bản đảm bảo phát triển du lịch bền vững
[5,10],13,14]
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt và có
nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Chính vì
vậy sự phát triển du lịch bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực chung và đồng bộ của toàn 13
xã hội. Phát triển du lịch bền vững cần hướng tới việc đảm bảo đạt được 3 mục tiêu
cơ bản sau:
Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: đảm bảo sự tăng trưởng, phát
tâm lý, xã hội và quản lý. Trên quan điểm bảo vệ tài nguyên, môi trường đảm bảo
cho phát triển bền vững, khái niệm "sức chứa" cần được hiểu từ khía cạnh sinh học
và xã hội.
b. Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra MT
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng
chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu
quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội
nói chung.
Đối với một số loại tài nguyên như nước, rừng hoạt động du lịch đòi hỏi
nhu cầu cao. Ví dụ nhu cầu nước sinh hoạt cho một người dân trung bình là 50
lít/ngày, song nhu cầu này đối với khách du lịch trung bình gấp 4 lần, thậm chí là 10
lần. Mỗi sân golf trung bình tiêu thụ 1 lượng nước ngầm để tưới cỏ là 3000m
3
/ngày.
Chính vì vậy ở nhiều khu du lịch ở Gam bia, Thái Lan v.v Tình trạng thiếu nước
sinh hoạt là nghiêm trọng, trong khi nguồn nước thải từ các khu du lịch đó lại rất
lớn gây ô nhiễm đất và nguồn nước.
c. Phát triển phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hóa và xã hội là nhân tố đặc biệt quan
trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du
lịch, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch. Nơi nào có tính đa dạng cao về
tự nhiên, văn hóa và xã hội, nơi đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao về du lịch và có
sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sự phát triển. Chính vì vậy việc duy trì và tăng cường
tính đa dạng thiên nhiên, văn hóa và xã hội là hết sức quan trọng cho sự phát triển
bền vững lâu dài của du lịch và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành du lịch.
Du lịch cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa bằng việc khích lệ các hoạt
động văn hóa dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyền thống, chia sẻ lợi ích
từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa Du lịch còn tạo
thêm công ăn việc làm, góp phần làm đa dạng hóa xã hội.
một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình không có sự hỗ 16
trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ quyền lợi với cộng đồng địa phương thì
sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém
phát triển. Điều này buộc cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng
tài nguyên của mình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và tổn hại đến môi
trường sinh thái. Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến sự
phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung. Chính
vì vậy việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng
trong phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương còn được thể
hiện thông qua những chi phí cần thiết từ nguồn thu du lịch cho việc bảo tồn tài
nguyên và duy trì môi trường. Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương nói riêng và sự phát triển bền vững nói chung của lãnh
thổ.
f. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động phát
triển du lịch.
Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ giúp họ
tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn với
tài nguyên, môi trường du lịch, cùng ngành du lịch chăm lo đến việc nâng cao chất
lượng sản phẩm du lịch. Điều này rất có ý nghĩa, góp phần quan trọng đối với sự
phát triển bền vững của du lịch.
Kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch ở nhiều nước cho thấy sự tham gia
của địa phương là cần thiết bởi bản thân người dân địa phương, nền văn hóa, môi
trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách
du lịch.
g. Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường
Đối với bất kỳ sự phát triển nào, con người luôn đóng vai trò quyết định. Một
i. Coi trọng việc thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu
Công tác nghiên cứu là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của
bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là những ngành có nhiều mối quan hệ trong phát 18
triển và phụ thuộc vào nhiều điều kiện về tự nhiên, môi trường, văn hóa - xã hội
như ngành du lịch.
Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc
dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan. Hơn thế nữa, trong quá trình phát
triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảy sinh sẽ có những tác động cần phải
nghiên cứu để có những giải pháp phù hợp điều chỉnh sự phát triển. Như vậy việc
thường xuyên cập nhật các thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là cần thiết,
không chỉ đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho sự
phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài
nguyên và môi trường
Những nguyên tắc cơ bản trên đây nếu được thực hiện đầy đủ sẽ là đảm bảo
chắc chắn cho sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch, phát triển bền vững
chính là chìa khóa cho sự thành công lâu dài của ngành du lịch.
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Krông Bông
1.3.1. Vị trí địa lý
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Krông Bông 19
Huyện thành lập từ ngày 19 tháng 9 năm 1981, trên cơ sở chia tách 10 xã
phía Nam của huyện Krông Pắc. Nằm ở phía Đông Nam của tỉnh cách thành phố
Buôn Ma Thuột khoảng 50 km, ranh giới hành chính của huyện như sau [20,23]:
- Phía Bắc giáp 3 huyện Krông Pắc, Ea Kar, M’Đrăk.
- Phía Nam giáp huyện Lắk.
này thích hợp cho phát triển nông nghiệp, 20
Dạng địa hình thung lũng ven sông: Phân bố ven các sông lớn như sông
Krông ANa, sông Krông Bông, Krông Pắc; địa hình tương đối bằng, độ cao trung
bình dưới 500m, độ dốc dưới 8
0
. Do hạ lưu các con sông hẹp nên nhiều khu vực bị
ngập nước sau các trận mưa lớn, nhưng sau đó nước rút nhanh; thổ nhưỡng chủ yếu
là phù sa và đất xám, khá thích hợp với canh tác lúa và các cây công nghiệp ngắn
ngày.
1.3.2.2. Đất đai
Tổng diện tích tự nhiên huyện Krông Bông là 125.923 ha, trong đó: sử dụng
vào mục đích nông nghiệp là 107.726,98 ha, chiếm 85,59%; sử dụng vào mục đích
phi nông nghiệp là 4.542,35 ha, chiếm 3,61%; đất chưa sử dụng 13.653,8 ha chiếm
10,86% diện tích tự nhiên. Toàn huyện có 4 nhóm đất chính với 15 loại đất sau:
[20,23]
* Nhóm đất phù sa: Diện tích 12.890 ha, phân bố tập trung ở khu vực thung
lũng ven sông thuộc các xã phía Tây và phía Bắc huyện. Đất được bồi đắp phù sa
hàng năm do ngập lụt nên khá phì nhiêu. Thành phần cơ giới đất từ trung bình đến
nặng, tương đối giàu mùn và đạm, hàm lượng lân tổng số từ trung bình đến nghèo.
Nhóm đất này thích hợp với cây lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Theo
nguồn gốc phát sinh được chia thành 4 đơn vị chú giải bản đồ:
- Đất phù sa được bồi (Pb): phân bố tập trung ven sông suối thuộc các xã
Hòa Phong, Cư Kty, Hòa Thành và Hòa Tân. Đất có tầng dày lớn (>100cm), khá
phì nhiêu, hơi chua, thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ, một số ngập vào mùa
mưa, phân bố ven sông suối, thích hợp cho trồng lúa nước, các cây hàng năm như
ngô, đậu đỗ và các cây công nghiệp ngắn ngày như bông, thuốc lá…
- Đất phù sa glây (Pg): phân bố chủ yếu ở các xã Hòa Lễ, Hòa Phong,, thuộc