ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
HOÀNG LÊ NGÂN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH THÁI CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG
•
• •
HUYỆN M’DRẮC, TỈNH ĐĂK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
•
• •
HOÀNG LÊ NGÂN
Hà Nội - 2014
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH THÁI CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
NÔNG - LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG • • •
Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các bác và các anh chị
công tác tại Phòng Thống kê huyện M’Đrăk, UBND huyện M’Đrăk, Viện Địa lí đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi thu thập và nghiên cứu những tài liệu cần thiết phục vụ cho đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã nhiệt tình ủng hộ
tôi trong chặng đường đã qua.
MỤC LỤC
Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2014 Tác giả
Hoàng Lê Ngân
DANH MỤC HÌNH
PHỤ LỤCHình 1. Sơ đồ nội
dung đánh giá cảnh quan 19
Hình 2. Bản đồ hành chính huyện M’Đrắk...............................Error! Bookmark not defined.
Hình 3. Bản đồ cảnh quan huyện M’Đrăk.................................Error! Bookmark not defined.
Hình 4. Bản đồ định hướng sử dụng không gian phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp
theo hướng phát triển bền vững huyện M’Đrăk
7
9
Bảng 3.10. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá cho mục đích phát triển rừng phòng hộ
KT - XH
-
UBND
-
CQ
-
STCQ
-
TNTN
-
PTBV
-
ONMT
-
VACR
thành một hệ thống động lực. Hệ thống đó tồn tại trong trạng thái cân bằng động, một thành phần
nào đó trong hệ thống thay đổi có thể sẽ dẫn đến sự thay đổi của các thành phần khác và phá vỡ
hệ thống cũ tạo nên một hệ thống mới. Nếu khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tức là
tác động vào hệ thống tự nhiên một cách phù hợp với đặc điểm, quy luật phát sinh, phát triển của
chúng thì sẽ bảo vệ, tái tạo được nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo được sự phát triển bền
vững của lãnh thổ. Ngược lại, nếu con người khai thác, sử dụng tự nhiên không tuân theo những
quy luật thì sẽ mang lại những hậu quả lâu dài và không lường trước được. Vì thế, việc nghiên
cứu để tìm ra những đặc trưng, quy luật phát sinh, phát triển của một lãnh thổ tự nhiên là rất quan
trọng, giúp cho việc sử dụng lãnh thổ một cách hợp lý, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và
môi trường, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững.
Trong những năm gần đây, để giải quyết những vấn đề thực tế mang tính tổng hợp cao,
hướng nghiên cứu cảnh quan, đánh giá cảnh quan đã trở thành hướng nghiên cứu quan trọng, đáp
ứng được nhiều vấn đề thực tế đặt ra và là cơ sở khoa học của việc lựa chọn các mục tiêu sử dụng
thích hợp lãnh thổ. Dựa vào kết quả nghiên cứu, đánh giá đặc điểm các thành phần tự nhiên, tài
10
10
nguyên thiên nhiên; phân tích tính đa dạng của cảnh quan trên cơ sở làm rõ cấu trúc, chức năng
và động lực phát triển cảnh quan có xem xét đến yếu tố nhân tác là những cơ sở khoa học đầy đủ
và đáng tin cậy để hoạch định phát triển kinh tế của mỗi một vùng lãnh thổ.
Vị trí của huyện nằm trên cao nguyên M’Đrăk, nối liền thành phố Buôn Mê Thuột với
thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa bằng quốc lộ 26, hiện nay vấn đề khai thác, sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực mang tính bền vững lâu dài và đồng bộ trên toàn lãnh thổ M’Đrăk vẫn
đang là vấn đề cấp bách, cần được quan tâm.
Xuất phát từ những nhìn nhận trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá sinh
M’Đrăk. Phân tích tính đa dạng trong cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan huyện M’Đrăk.
4. Thực hiện đánh giá cảnh quan, xác định mức độ thích nghi của các đơn vị cảnh quan
đối với mục đích phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp M’Đrăk.
5. Đề xuất một số định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế xã hội nhằm sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững huyện M’Đrăk, tỉnh Đăk Lăk.
3. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
12
12
Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
> Các công trình nghiên cứu về cảnh quan:
Đối với lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan và phân tích, đánh giá cảnh quan để phục vụ cho
mục đích phát triển kinh tế - xã hội thì từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình của các tác giả
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cảnh quan học với các ngành khoa học khác cũng có
nhiều đại diện xuất sắc. Trước hết phải kể đến B.B. Polưnov - người sáng lập môn địa hoá học
cảnh quan vào thập niên 40 của thế kỉ XX tại Liên Xô, mà sau đó, công trình cùng tên “Địa
hoá học cảnh quan” cũng được công bố bởi A.I. Perelman [34]. Trong cuốn sách này, A.I.
Perelman đã thể hiện một phương pháp nghiên cứu mới - nghiên cứu cảnh quan trên quan
điểm địa hoá. Sau đó, tiếp tục có thêm một hướng nghiên cứu cảnh quan khác trên quan điểm
địa vật lí được biết đến qua công trình “Địa vật lí cảnh quan” do tập thể các nhà khoa học
thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô công bố với I.P. Geraximov làm chủ biên.
Tiếp sau các tác giả của Nga và Liên Xô là một số tác giả theo trường phái cảnh quan
của Anh, Mĩ, Pháp, Đức với một vài khác biệt trong hướng nghiên cứu. Trong đó đáng chú ý
có hướng nghiên cứu địa sinh thái cảnh quan. Đây là sự kết hợp lí thuyết địa sinh thái với
14
14
cảnh quan học mà vào năm 1973, Gunter Haase và Raft Schmidt - hai nhà cảnh quan học của
Đức đã sử dụng để nghiên cứu cảnh quan và thành lập bản đồ nông nghiệp ở Cộng hoà dân
chủ Đức (cũ). Tuy vậy, hướng nghiên cứu này xuất hiện trước tiên ở Pháp với đại diện tiêu
biểu là G. Bertran qua công trình “Phong cảnh địa lí tự nhiên toàn cầu” (1968). Theo Bertran,
địa lí học tiến triển theo hướng sinh quần học, còn phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể
nhận thấy được của cảnh quan. Chính vì thế mà ở Pháp, thuật ngữ “phong cảnh” được sử
dụng thay cho thuật ngữ “cảnh quan”.
> Các công trình nghiên cứu về sinh thái cảnh quan:
Thuật ngữ về sinh thái cảnh quan được Carl Troll nhà địa lý học người Đức đưa ra
năm 1939 [64], trong công trình nghiên cứu của mình ông đã phát hiện nhiều khái niệm cơ sở
- Năm 1984: Ẩn phẩm đầu tiên về sinh thái cảnh quan học được xuất bản Landscape
Ecology: Theory and Application của hai tác giả Naveh và Lieberman [56].
- Cũng trong năm 1984: Phiên họp đầu tiên về sinh thái học cảnh quan được diễn ra tại Hội
nghị thường niên của Hiệp hội sinh thái học Hoa Kỳ.
16
16
- Năm 1986: Hội nghị sinh thái học cảnh quan Bắc Mỹ được diễn ra rại trường đại học
Georgia với 100 thành viên tham gia, do hai nhà khoa học Monica Turner và Frank Golley chủ
trì.
- 1986: Cuốn Landscape Ecology (Forman và Godron) được xuất bản, đây là một trong
những công trình nền tảng của lý thuyết nghiên cứu Sinh thái cảnh quan học đầu tiên trên thế
giới. Hầu hết các nghiên cứu sau đó đều vận dụng mô hình này để phát triển [53].
- 1986: Hiệp hội quốc tế về sinh thái học cảnh quan Hoa Kỳ được thành lập.
- 1987: Tạp chí Landscape Ecology được xuất bản, do Frank Golley làm tổng biên tập.
Hiện nay, ở Tây Âu và Bắc Mỹ, sinh thái cảnh quan đang đóng vai trò là một ngành khoa
học tổng hợp liên ngành phục vụ cho quy hoạch cảnh quan. Các nghiên cứu về cấu trúc, chức
năng sinh thái cảnh quan là cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, quy hoạch phát triển một cách
bền vững.
1.1.2. Ở Việt Nam
Tiếp đó, tại Hội thảo về cảnh quan sinh thái (Hà Nội - 1992), ông và Nguyễn Thành Long
đánh dấu sự mở đầu hướng nghiên cứu sinh thái trong cảnh quan học Việt Nam với bài “Tiếp
cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan” [37]. Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung hoàn thành
“Quan niệm về cảnh quan, hệ sinh thái,
18
18
sự phát triển của cảnh quan học và sinh thái học cảnh quan” - làm rõ hơn mối quan hệ giữa cảnh quan
và sinh thái học [49]. Cũng năm này, ông và Nguyễn Văn Nhưng báo cáo về “Chu trình vật chất,
trao đổi năng lượng trong một số cảnh quan Việt Nam” - cho thấy quan điểm sinh thái được vận
dụng linh hoạt hơn trong nghiên cứu cảnh quan Việt Nam.
Ngoài các hướng nghiên cứu truyền thống, Việt Nam cũng tiếp cận rất nhanh các hướng
nghiên cứu cảnh quan có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin. Có thể kể đến là Nguyễn
Thành Long với công trình “Nghiên cứu cảnh quan Tây Nguyên trên cơ sở ảnh vệ tinh Landsat”
(1987) [36] ; Phạm Hoàng Hải và nhiều người khác với công trình “Xây dựng bản đồ cảnh quan
sinh thái tỉnh Thanh Hoá tỉ lệ 1 : 200.000 trên cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám” (1990) [13];
Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm Vân với “Thành lập bản đồ cảnh quan đồng bằng Nam Bộ tỉ
lệ 1/250.000 bằng tư liệu viễn thám” (1992).
Một trong những hướng nghiên cứu được tiến hành rất mạnh thời gian gần đây là hướng
nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển bền vững lãnh thổ, mà tiêu biểu là
các công trình của Phạm Hoàng Hải. Năm 1988, ông hoàn thành công trình “Vấn đề lí luận và
phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ - ví dụ vùng Đông Nam
Bộ”. Kế đến vào năm 1990, trong Chương trình 48B, ông cùng Nguyễn Trọng Tiến và nnk đã
tiến hành “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển Việt Nam
cho phát triển sản xuất nông
Đó là chưa nói đến một loạt các bản đồ cảnh quan và đánh giá cảnh quan đã được các
nhà cảnh quan học và các nhà địa lí tổng hợp xây dựng nên trong hơn 30 năm qua, giúp cho
lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan của nước ta ngày càng có những bước phát triển mạnh mẽ và
vững chắc.
1.1.3.
Các nghiên cứu về huyệnM’Đrắk:
20
20
Cho đến nay các nghiên cứu về huyện M’Đrắk đã và đang tập trung theo hướng
nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và phát kinh tế xã hội: Đã có một số công trình nghiên
cứu về đất đai và tình hình kinh tế xã hội như “Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên đất và hiện
trạng sử dụng đất huyện M’Đrăk - tỉnh Đăk Lăk” của Phạm Thế Trịnh, Y Ghi Niê [45], các
báo cáo thường niên của huyện, báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai huyện M’Đrăk - tỉnh Đăk
Lăk đến năm 2020, một số đề tài nghiên cứu phát triển cây công nghiệp có giá trị trên địa bàn
như cây cà phê, hồ tiêu...
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây về huyện M’Đrắk đều chưa thể hiện được nguồn
lực tổng hợp về tài nguyên thiên nhiên cũng như mối quan hệ giữa các hoạt động sử dụng tài
nguyên đối với các vấn đề môi trường nảy sinh trong khu vực, chính vì vậy trong thời gian tới
cần phải có những điều tra và nghiên cứu sâu hơn về khu vực.
1.2. Những vấn đề lí luận nghiên cứu cảnh quan:
1.2.1. Quan niệm cảnh quan:
“Cảnh quan” là thuật ngữ bắt nguồn từ ngôn ngữ Đức - “landschaft”, với nghĩa là nước,
Cách hiểu này được phát triển trong các công trình của B.B. Polưnov, I.M. Knasenkov và
N.A. Gvozdetsky.
^ Nhìn chung, về cơ bản thì cả ba quan niệm trên vẫn có điểm chung, đó là việc xem cảnh
22
22
quan là một tổng thể lãnh thổ thiên nhiên. Sự khác nhau thể hiện ở chỗ cảnh quan được dùng để
chỉ những tổng thể kiểu nào và ở cấp phân vị nào, hoặc cảnh quan được xác định và thể hiện trên
bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải.
Trong đó quan niệm kiểu loại được nhiều nhà nghiên cứu cảnh quan sử dụng phổ biến.
Trong quan niệm này cảnh quan được coi là đơn vị cơ sở, là một cấp phân vị, đơn vị phân loại thể
hiện rõ nét nhất cả hai quy luật địa đới và phi địa đới, đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có
cấu trúc hình thái riêng. Trong NCCQ có nhiều hướng khác nhau, cần phải hiểu cảnh quan theo
đúng bản chất của nó, không thể hiểu theo tên gọi vì chưa có một định nghĩa cảnh quan thống
nhất [27].
1.2.2.
Hệ thống phân loại cảnh quan trên thế giới và Việt Nam
Một địa tổng thể bất kì luôn có đặc tính là vừa mang tính chất cá thể, vừa mang tính chất
kiểu loại, tức là giữa các cá thể địa tổng thể đồng cấp vừa có những điểm khác nhau, vừa có
những điểm giống nhau nhất định. Chính vì thế các nhà địa lí tổng hợp thường phối hợp phân
vùng với phân loại. Phân loại trên cơ sở phân vùng xuất phát từ bản đồ các địa tổng thể, như thế
vừa không cho phép có những lỗ hổng trong khi tiến hành phân loại, vừa có thể phân loại chi tiết
chỉ tiêu phân loại, nên chọn những tính chất quan trọng, có thể đại diện cho nhiều tính chất khác,
đó là tính chất chỉ thị hoặc là tính chất quyết định quá trình hình thành địa tổng thể. Dùng chỉ tiêu
có khả năng bao quát được nhiều cá thể làm chỉ tiêu bậc trên, còn chỉ tiêu bao gồm ít cá thể thì
dùng cho bậc dưới. Đây là nguyên tắc dễ bị các nhà địa lí vi phạm nhất, vì họ
thường vịn vào tính chất tổng hợp của địa tổng thể mà đưa nhiều chỉ tiêu vào một bậc phân loại,
làm cho dễ nhầm lẫn giữa phân loại và phân vùng.
-
Số bậc trong hệ thống phân loại phải hợp lí và phải phụ thuộc vào tính chất của đối
tượng phân loại nhưng không nên quá nhiều, đồng thời không được bỏ những bậc cần thiết. Bỏ
bậc cần thiết sẽ làm cho mối liên hệ giữa các bậc trở nên khó hiểu. Nên kí hiệu mỗi bậc bằng
một dấu hiệu, ngoài ra những bậc dưới nên có dấu vết của bậc trên qua tên gọi hoặc qua kí hiệu.
Những nguyên tắc nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, nếu vi phạm một nguyên tắc nào
24
24
đó thì thường vi phạm cả các nguyên tắc khác, vì thế phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc khi tiến
hành phân loại.
* Hệ thống phân loại cảnh quan trên thế giới
Theo đánh giá của A.E. Fedina, ở Liên Xô (cũ) có ba hệ thống phân loại cảnh quan được
các nhà địa lí chấp nhận rộng rãi nhất, đó là hệ thống phân loại của A.G. Isachenko, N.A.
Gvozdetsky và V.A. Nikolaev. Ví dụ như bảng hệ thống phân loại cảnh quan của A.G.