MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 3
1.1.1. Trên thế giới 3
1.1.2. Ở Việt Nam 6
1.1.3. Các nghiên cứu về huyện M’Đrắk: 8
1.2. Những vấn đề lí luận nghiên cứu cảnh quan: 9
1.2.1. Quan niệm cảnh quan: 9
1.2.2. Hệ thống phân loại cảnh quan trên thế giới và Việt Nam 10
1.2.3. Đánh giá cảnh quan 16
1.3. Những vấn đề lý luận về sinh thái cảnh quan: 20
1.4. Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên gắn liền với phát triển bền vững 21
1.4.1. Các khái niệm 21
1.4.2. Mối quan hệ giữa cảnh quan và sản xuất lãnh thổ 22
1.4.3. Khai thác, sử dụng hợp lý nguồn TNTN gắn liền với vấn đề phát triển bền vững. 24
1.5. Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên, kinh tế - xã hội - các nhân tố thành tạo cảnh
quan huyện M’Đrăk. 25
1.5.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội: 34
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu: 42
2.2. Phạm vi nghiên cứu: 42
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 42
2.3.1. Phương pháp luận: 42
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu: 44
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1. Đặc điểm cảnh quan huyện M’Đrăk: 48
3.1.1. Hệ thống phân loại cảnh quan huyện M’Đrăk 48
3.1.2. Đặc điểm các đơn vị cảnh quan huyện M’Đrăk 49
3.2. Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông – lâm nghiệp huyện
M’Đrăk 54
Bảng 3.1. Hệ thống các chỉ tiêu phân loại cảnh quan áp dụng cho bản đồ cảnh quan
huyện M‟Đrắk, tỉ lệ 1 : 50.000 48
Bảng 3.2. Bảng chú giải cảnh quan huyện M‟Đrăk Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.3. Loại cảnh quan huyện M‟Đrăk 52
Bảng 3.4. Thang điểm và bậc trọng số của chỉ tiêu đánh giá 56
Bảng 3.5. Chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển rừng phòng hộ đầu
nguồn 57
Bảng 3.6. Bảng chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển rừng sản xuất 58
Bảng 3.7. Bảng chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển cây trồng hàng
năm 60
Bảng 3.8. Bảng chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích trồng Lúa 61
Bảng 3.9. Bảng chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích trồng cây công nghiệp dài
ngày và cây ăn quả 62
Bảng 3.10. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá cho mục đích phát triển rừng phòng hộ (P)
63
Bảng 3.11. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá cho mục đích phát triển rừng sản xuất (S)
65
Bảng 3.12. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá cho mục đích phát triển cây hàng năm (H)
66
Bảng 3.13. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá cho mục đích phát triển cây lúa (L) 68
Bảng 3.14. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá cho mục đích phát triển cây công nghiệp
dài ngày và cây ăn quả (C) 69
Bảng 3.15. Định hướng sử dụng không gian theo hướng phát triển bền vững 75
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- FAO
:
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
(Food and Agriculture Organization of the United
Ô nhiễm môi trường
- VACR
:
Vườn ao chuồng rừng
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Để phát triển kinh tế xã hội của một lãnh thổ lâu dài và bền vững thì vấn đề sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và khai thác các nguồn
lực, sử dụng có hiệu quả là những vấn đề hết sức quan trọng.
Cảnh quan của một lãnh thổ luôn có những thay đổi và phân hoá phức tạp. Các
thành phần cấu tạo cảnh quan có tính độc lập tương đối, song giữa chúng có mối quan
hệ chặt chẽ tạo thành một hệ thống động lực. Hệ thống đó tồn tại trong trạng thái cân
bằng động, một thành phần nào đó trong hệ thống thay đổi có thể sẽ dẫn đến sự thay
đổi của các thành phần khác và phá vỡ hệ thống cũ tạo nên một hệ thống mới. Nếu
khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tức là tác động vào hệ thống tự nhiên
một cách phù hợp với đặc điểm, quy luật phát sinh, phát triển của chúng thì sẽ bảo vệ,
tái tạo được nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo được sự phát triển bền vững của
lãnh thổ. Ngược lại, nếu con người khai thác, sử dụng tự nhiên không tuân theo những
quy luật thì sẽ mang lại những hậu quả lâu dài và không lường trước được. Vì thế, việc
nghiên cứu để tìm ra những đặc trưng, quy luật phát sinh, phát triển của một lãnh thổ
tự nhiên là rất quan trọng, giúp cho việc sử dụng lãnh thổ một cách hợp lý, bảo vệ
nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội một
cách bền vững.
Trong những năm gần đây, để giải quyết những vấn đề thực tế mang tính tổng
hợp cao, hướng nghiên cứu cảnh quan, đánh giá cảnh quan đã trở thành hướng nghiên
huyện M‟Đrăk. Phân tích tính đa dạng trong cấu trúc, chức năng và động lực cảnh
quan huyện M‟Đrăk.
4. Thực hiện đánh giá cảnh quan, xác định mức độ thích nghi của các đơn vị
cảnh quan đối với mục đích phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp M‟Đrăk.
5. Đề xuất một số định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế xã hội nhằm sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững huyện M‟Đrăk, tỉnh
Đăk Lăk.
3. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm những nội dung chính sau:
Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chƣơng 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Các công trình nghiên cứu về cảnh quan:
Đối với lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan và phân tích, đánh giá cảnh quan để phục
vụ cho mục đích phát triển kinh tế – xã hội thì từ trước đến nay đã có rất nhiều công
trình của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau. Trước hết phải nói đến những
công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây.
Học thuyết về cảnh quan được sáng lập ra bởi nhà bác học Nga L.S. Berg với tiền đề là
học thuyết của V.V. Dokutsaev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên. Năm 1913, L.S.
Berg đã đưa khái niệm cảnh quan vào trong địa lí học và ông cho rằng chính cảnh
quan là đối tượng nghiên cứu của địa lí học. Đến năm 1931, L.S. Berg công bố công
trình “Các đới cảnh quan địa lí Liên Xô” (tập 1) – công trình nổi tiếng là cơ sở để hoàn
công bố với I.P. Geraximov làm chủ biên.
Tiếp sau các tác giả của Nga và Liên Xô là một số tác giả theo trường phái cảnh
quan của Anh, Mĩ, Pháp, Đức với một vài khác biệt trong hướng nghiên cứu. Trong đó
đáng chú ý có hướng nghiên cứu địa sinh thái cảnh quan. Đây là sự kết hợp lí thuyết
địa sinh thái với cảnh quan học mà vào năm 1973, Gunter Haase và Raft Schmidt - hai
nhà cảnh quan học của Đức đã sử dụng để nghiên cứu cảnh quan và thành lập bản đồ
nông nghiệp ở Cộng hoà dân chủ Đức (cũ). Tuy vậy, hướng nghiên cứu này xuất hiện
trước tiên ở Pháp với đại diện tiêu biểu là G. Bertran qua công trình “Phong cảnh địa lí
tự nhiên toàn cầu” (1968). Theo Bertran, địa lí học tiến triển theo hướng sinh quần học,
còn phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy được của cảnh quan. Chính
vì thế mà ở Pháp, thuật ngữ “phong cảnh” được sử dụng thay cho thuật ngữ “cảnh
quan”.
Các công trình nghiên cứu về sinh thái cảnh quan:
Thuật ngữ về sinh thái cảnh quan được Carl Troll nhà địa lý học người Đức đưa
ra năm 1939 [64], trong công trình nghiên cứu của mình ông đã phát hiện nhiều khái
niệm cơ sở cho ngành khoa học sinh thái cảnh quan từ việc phân tích ảnh hàng không
để nghiên cứu tương tác giữa môi trường và thảm thức vật.
Từ những năm 1939 đến 1970 thì việc nghiên cứu STCQ đã bắt đầu phát triển
mạnh mẽ ở các nước Đông Âu, Canada và Úc trên cơ sở nghiên cứ các thành phần địa
lý, được ứng dụng trong việc thành lâp bản đồ hệ sinh thái, xây dựng các hệ thống CQ
ở Nga. Tuy nhiên, phải đến những năm 1980 thì STCQ mới phát triển như một ngành 5
nghiên cứu khoa học thực sự và được đánh dấu bởi sự ra đời của Hiệp hội quốc tế về
sinh thái cảnh quan (IALE - the International Assosiation of Landscape Ecology) vào
năm 1982. Từ năm 1985 trở lại đây STCQ phát triển nhanh chóng và có tầm ảnh
hưởng đến sự phát triển KT-XH với một số lượng lớn các công trình nghiên cứu cả về
lý thuyết và ứng dụng trong các ngành sản xuất.
Có thể điểm qua một vài cột mốc đáng nhớ của STCQ thế giới như sau:
thập kỉ gần đây nhưng cũng đã có các tác giả để lại nhiều công trình giá trị. Đi tiên
phong trong lĩnh vực này là Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập. Năm 1963, các ông
công bố tác phẩm “Địa lí tự nhiên Việt Nam” [31], trong đó trình bày rõ về các nguyên
tắc cơ bản của phân vùng cảnh quan và áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam. Cũng trong
năm đó, đã có nhiều bài báo nghiên cứu về vấn đề phân vùng địa lí tự nhiên, ví dụ như :
“Cơ sở lí luận của phân vùng địa lí tự nhiên” (Nguyễn Đức Chính, V.G. Zavrie) ; “Về
vấn đề xác định nội dung các danh từ dùng để chỉ các đơn vị phân vị cơ bản trong
phân vùng địa lí tự nhiên tổng hợp các tỉ lệ khác nhau” (V.G. Zavrie, Nguyễn Đức
Chính, Vũ Tự Lập) ; “Phương pháp luận và phương pháp phân vùng địa lí tổng hợp tỉ
lệ trung bình (V.G. Zavrie, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Văn Nhưng). Đến năm 1976,
Vũ Tự Lập với sự giúp đỡ của E.M. Murzaev và V.G. Zavriev đã hoàn thành công
trình nghiên cứu “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” - được xem là một công trình
tổng hợp hết sức công phu có giá trị học thuật lớn lao đối với khoa học địa lí Việt Nam
hiện đại [32].
Ngoài ra, công tác phân vùng còn được tiến hành bởi Tổ phân vùng địa lí tự
nhiên thuộc Uỷ ban Khoa học và kĩ thuật Nhà nước, với tác phẩm “Phân vùng địa lí tự
nhiên lãnh thổ Việt Nam” (1970) [46]. Đến 1998, Nguyễn Văn Nhưng và Nguyễn Văn
Vinh công bố cuốn “Phân vùng địa lí tự nhiên đất liền, đảo – biển Việt Nam và lân
cận”. Mặc dù có khá nhiều quan điểm phân vùng khác nhau nhưng các tài liệu này đã
cung cấp cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp của các
thế hệ sau được tiến hành thuận lợi hơn.
Đối với hướng nghiên cứu địa hoá và sinh thái cảnh quan thì ở Việt Nam, tuy ra
đời muộn hơn các nước phương Tây nhưng đã đạt được những thành tựu đáng kể, tiêu
biểu là Nguyễn Văn Vinh. Năm 1983, ông có bài “Những yếu tố chính cấu thành cảnh
quan địa hoá Việt Nam” – chứng tỏ sự có mặt của hướng nghiên cứu địa hoá trong
cảnh quan tại Việt Nam. Tiếp đó, tại Hội thảo về cảnh quan sinh thái (Hà Nội – 1992),
ông và Nguyễn Thành Long đánh dấu sự mở đầu hướng nghiên cứu sinh thái trong
cảnh quan học Việt Nam với bài “Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan” [37].
Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung hoàn thành “Quan niệm về cảnh quan, hệ sinh thái,
biệt ; đồng thời công trình cũng đề cập một cách khá đầy đủ, sâu sắc những biến đổi
của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dưới tác động của con người, từ đó đưa 8
ra các giải pháp, các hướng tiếp cận khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên,
bảo vệ môi trường [16].
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình khác được thực hiện ở các vùng,
miền của đất nước và có những đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của cảnh
quan học, như : Nguyễn Thế Thôn với “Tổng luận phân tích nghiên cứu và đánh giá
cảnh quan cho việc quy hoạch và phát triển kinh tế” (1993) và “Tổng luận phân tích
những vấn đề cảnh quan sinh thái ứng dụng trong quy hoạch và quản lí môi trường”
(1995) ; Trần Văn Thành với “Phân vùng địa sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp
Mười” (1993); Nguyễn Cao Huần với Đánh giá cảnh quan theo quan điểm tiếp cận
kinh tế sinh thái (2005) [23]; Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Thúy
Hằng với “Mô hình sinh thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam và ứng dụng
nghiên cứu đa dạng cảnh quan” (2008) [20].
Đó là chưa nói đến một loạt các bản đồ cảnh quan và đánh giá cảnh quan đã được
các nhà cảnh quan học và các nhà địa lí tổng hợp xây dựng nên trong hơn 30 năm qua,
giúp cho lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan của nước ta ngày càng có những bước phát
triển mạnh mẽ và vững chắc.
1.1.3. Các nghiên cứu về huyện M’Đrắk:
Cho đến nay các nghiên cứu về huyện M‟Đrắk đã và đang tập trung theo hướng
nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và phát kinh tế xã hội: Đã có một số công trình
nghiên cứu về đất đai và tình hình kinh tế xã hội như “Nghiên cứu đặc điểm tài
nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất huyện M’Đrăk - tỉnh Đăk Lăk” của Phạm Thế
Trịnh, Y Ghi Niê [45], các báo cáo thường niên của huyện, báo cáo quy hoạch sử dụng
đất đai huyện M‟Đrăk - tỉnh Đăk Lăk đến năm 2020, một số đề tài nghiên cứu phát
triển cây công nghiệp có giá trị trên địa bàn như cây cà phê, hồ tiêu…
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây về huyện M‟Đrắk đều chưa thể hiện được
Quan niệm coi cảnh quan là một khái niệm có tính chất kiểu (loại hình) của
những tổng thể địa lí tự nhiên.
Cách hiểu này được phát triển trong các công trình của B.B. Polưnov, I.M.
Knasenkov và N.A. Gvozdetsky.
Nhìn chung, về cơ bản thì cả ba quan niệm trên vẫn có điểm chung, đó là việc
xem cảnh quan là một tổng thể lãnh thổ thiên nhiên. Sự khác nhau thể hiện ở chỗ cảnh
quan được dùng để chỉ những tổng thể kiểu nào và ở cấp phân vị nào, hoặc cảnh quan
được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn
giải. 10
Trong đó quan niệm kiểu loại được nhiều nhà nghiên cứu cảnh quan sử dụng phổ
biến. Trong quan niệm này cảnh quan được coi là đơn vị cơ sở, là một cấp phân vị,
đơn vị phân loại thể hiện rõ nét nhất cả hai quy luật địa đới và phi địa đới, đồng thời là
địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có cấu trúc hình thái riêng. Trong NCCQ có nhiều hướng
khác nhau, cần phải hiểu cảnh quan theo đúng bản chất của nó, không thể hiểu theo tên
gọi vì chưa có một định nghĩa cảnh quan thống nhất [27].
1.2.2. Hệ thống phân loại cảnh quan trên thế giới và Việt Nam
Một địa tổng thể bất kì luôn có đặc tính là vừa mang tính chất cá thể, vừa mang
tính chất kiểu loại, tức là giữa các cá thể địa tổng thể đồng cấp vừa có những điểm
khác nhau, vừa có những điểm giống nhau nhất định. Chính vì thế các nhà địa lí tổng
hợp thường phối hợp phân vùng với phân loại. Phân loại trên cơ sở phân vùng xuất
phát từ bản đồ các địa tổng thể, như thế vừa không cho phép có những lỗ hổng trong
khi tiến hành phân loại, vừa có thể phân loại chi tiết do không có sự trùng lặp giữa hai
đơn vị phân vị và phân loại, đồng thời phạm vi phân bố của các đơn vị phân loại được
hạn chế.
Khi phân loại, có nguyên tắc chung áp dụng cho mọi hệ thống của mọi cấp, lại có
nguyên tắc và chỉ tiêu riêng cho từng hệ thống của từng cấp. Các nguyên tắc chung có
thể đề cập đến gồm :
Bảng 1.1. Hệ thống phân loại cảnh quan của A.G. Isachenko
STT
Đơn vị
phân loại
Dấu hiệu
Ví dụ
1
Nhóm các
kiểu
Những nét tương tự tính chất địa đới
của các cảnh quan trong phạm vi của
các địa ô và đại lục khác nhau.
Cảnh quan taiga, cảnh
quan thảo nguyên của
cả hai bán cầu.
2
Kiểu
Có các điểm chung về điều kiện thuỷ
nhiệt, cấu trúc ; có sự đồng nhất về các
quá trình di động của nguyên tố hoá
học, các quá trình ngoại sinh, sự hình
thành thổ nhưỡng, thành phần và cấu
trúc các quần thể sinh vật.
Taiga Đông Âu, rừng
thảo nguyên Đông Âu,
taiga Tây Siberia, rừng
thảo nguyên Tây
Siberia.
3
Kiểu phụ
mòn với rừng bách
thuộc taiga nam và đầm
lầy,…
7
Loại phụ
Có một vài điểm chung về bối cảnh,
hình thái.
8
Biến
chủng
Có những đặc điểm mang tính địa khu
của khí hậu.
Đặc điểm chung của các hệ thống phân loại cảnh quan này là các tác giả xây
dựng cho những lãnh thổ rộng lớn ở Liên Xô trước đây.
* Hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả Việt Nam
a. Hệ thống phân loại cảnh quan của Vũ Tự Lập
Các hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả Liên Xô (cũ) chỉ có thể áp dụng
cho những lãnh thổ rộng lớn nên khó có thể áp dụng vào thực tế Việt Nam. Đối với
lãnh thổ Việt Nam hẹp và nhỏ thì cần phải chia chi tiết hơn cho các bậc dưới, và để hệ
thống phân loại đỡ cồng kềnh, Vũ Tự Lập đề nghị phải bỏ bớt các bậc trên, chỉ nên
Cấp phân vị
Bậc phân loại
Miền
Khu
Cảnh
Dạng
Diện
Cấp phân vị
Các chỉ tiêu phân chia
Ví dụ
1
Hệ thống
cảnh quan
Đặc trưng trong quy mô đới tự
nhiên được quy định bởi vị trí
của lãnh thổ so với vị trí của
Mặt Trời và các hoạt động tự
quay của Trái Đất xung quanh
mình nó.
Hệ thống cảnh quan nhiệt đới,
ẩm, gió mùa.
2
Phụ hệ
thống cảnh
quan
Đặc trưng định lượng của các
điều kiện khí hậu được quy
định bởi sự hoạt động của chế
– Phụ hệ thống cảnh quan chịu
ảnh hưởng của mùa đông lạnh,
ẩm với hệ thực vật Hymalaya – 14
độ hoàn lưu khí quyển trong
mối tương tác giữa các điều
kiện nhiệt và ẩm ở quy mô á
– Lớp cảnh quan núi đặc trưng
bởi các quá trình di chuyển khe
rãnh, rừng rậm thường xanh
mưa mùa.
– Lớp cảnh quan cao nguyên.
Di chuyển bề mặt + tích tụ.
– Lớp cảnh quan đồi. Di
chuyển bề mặt + khe rãnh.
– Lớp cảnh quan đồng bằng
tích tụ vật chất.
– Lớp cảnh quan đảo ven bờ
với quá trình tích tụ và di
chuyển hỗn hợp.
4
Phụ lớp
cảnh quan
Đặc trưng trắc lượng hình thái
địa hình trong khuôn khổ lớp,
thể hiện cân bằng vật chất
giữa các đặc trưng trắc lượng
hình thái địa hình, các đặc
điểm khí hậu và đặc trưng của
quần thể thực vật : sinh khối,
mức tăng trưởng, tuần hoàn
– Phụ lớp cảnh quan trên núi
cao.
– Phụ lớp cảnh quan trên núi
trung bình.
– Phụ lớp cảnh quan trên núi
thấp.
định thành phần loài của các
kiểu thảm thực vật, quy định
các ngưỡng tới hạn phát triển
của các loài thực vật cấu
thành các kiểu thảm theo
nguồn gốc phát sinh.
– Phụ kiểu cảnh quan rừng rậm
thường xanh nhiệt đới, mưa
mùa với một mùa lạnh dài, mùa
khô ngắn hơi ẩm.
– Phụ kiểu cảnh quan rừng nửa
rụng lá nhiệt đới, mưa mùa với
một mùa khô kéo dài, không có
mùa lạnh.
7
Loại (nhóm
loại cảnh
quan)
Đặc trưng bởi mối quan hệ
tương hỗ giữa các nhóm quần
xã thực vật và các loại đất
trong chu trình sinh học nhỏ,
quyết định mối cân bằng vật
chất của cảnh quan qua các
điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng,
cộng với các tác động của các
hoạt động nhân tác.
– Loại cảnh quan rừng rậm
thường xanh cây lá rộng trên
đất feralit vàng đỏ trên phiến
thập kỷ gần đây để đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội các vùng lãnh thổ,
công tác đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN cho các mục đích cụ thể ngày càng phổ
biến và đạt được nhiều kết quả to lớn. Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu
của các nhà địa lý tổng hợp tham gia vào quy hoạch các cùng lãnh thổ Liên Xô (cũ)
như Cộng hoà Ucraina, Liên bang Nga, các nước Tây Âu, Bắc Mỹ. Các công trình
có ý nghĩa thực tiễn lớn và đồng thời đã xây dựng phương pháp luận, nguyên tắc,
phương pháp đánh giá cảnh quan thiết lập nên một khoa học độc lập có đối tượng,
chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu riêng đó là Đánh giá tổng hợp ĐKTN và TNTN
cho các mục đích thực tiễn [38].
Phương pháp đánh giá mức độ thuận lợi hay còn gọi là đánh giá tiềm năng sản
xuất các địa tổng thể của Mukhina (1973) là phương pháp đánh giá truyền thống, đặc
trưng của địa lý tự nhiên ứng dụng. Hiện nay ngoài các phương pháp đánh giá cảnh 17
quan truyền thống còn có các phương pháp hỗ trợ như: Phương pháp đánh giá đất của
FAO (1976, 1981), đánh giá đất tự động (sử dụng phần mềm ALES), hệ thống thông
tin địa lý (Công nghệ GIS), phân tích các nhân tố
Ở nước ta từ những năm 80, 90 trở lại đây các công trình nghiên cứu cảnh quan
cũng đã tập trung vào những vấn đề đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, TNTN ở
các vùng và các địa phương nhằm mục đích tìm ra các giải pháp để sử dụng hợp lý
nguồn TNTN và bảo vệ môi trường phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Có
thể kể đến các công trình đánh giá đất FAO (1993), Trần An Phong (1993), Nguyễn
Đình Kỳ, Nguyễn Anh Hoành (2004); Các công trình nghiên cứu về phương pháp luận
và đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN của các nhà khoa học: Phạm Hoàng Hải, Nguyễn
Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997); Nguyễn Thị Kim Chương (2001),
Nguyễn Viết Thịnh (2002), Lại Vĩnh Cẩm, Trần Văn Ý, Nguyễn Xuân Độ (2003);
Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh, Phạm Quang Tuấn (2004), Trương Quang Hải
(2004) và rất nhiều luận án, luận văn đã thực hiện nghiên cứu, đánh giá cảnh quan ở
từng lãnh thổ cụ thể [13, 16, 20, 23, 24, 40, 50].
chủ thể (các ngành sản xuất dự định bố trí, phát triển trên từng cảnh quan) và tương
ứng là các đặc tính thành phần của khách thể (đặc điểm cảnh quan luôn thay đổi theo
không gian và thời gian) để xác định mức độ thích hợp của các cảnh quan cho từng
ngành sản xuất kinh tế riêng biệt.
Phương pháp đánh giá cảnh quan gồm hệ thống các phương pháp đa dạng, phức
tạp. Tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của việc đánh giá đối với từng lãnh thổ để lựa chọn
phương pháp thích hợp. Trên quan điểm tiếp cận địa lý tổng hợp trong đánh giá cảnh
quan có thể sử dụng các phương pháp mô hình hoá, phương pháp bản đồ, phân tích
tổng hợp, so sánh định tính, thang điểm có trọng số. Trong quá trình đánh giá có thể sử
dụng riêng lẻ các phương pháp hoặc kết hợp với nhau tuỳ theo từng giai đoạn và mục
tiêu cụ thể.
Do độ phức tạp của công tác đánh giá nên không thể tồn tại một kiểu đánh giá
chung mà các giai đoạn đánh giá theo yêu cầu với cấp độ từ thấp đến cao. Giai đoạn
đầu tiên là giai đoạn đánh giá chung hay đánh giá sơ bộ, còn gọi là đánh giá thích nghi,
là đánh giá dựa trên kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên theo các
vùng lãnh thổ mang tính định hướng chung cho các mục đích thực tiễn khác nhau,
đánh giá mức độ “thuận lợi” hay mức độ “thích hợp” của cảnh quan hoặc các hợp
phần của chúng đối với một dạng hoạt động kinh tế nào đó. Ở mức độ cao hơn là đánh
giá kinh tế, đây là hình thức đánh giá sâu hơn về giá trị và hiệu quả kinh tế của các
ngành sản xuất. Mỗi kiểu đánh giá có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi lựa chọn các