MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Một số vấn đề lý luận chung về nhà nước:
1.1. Nguồn gốc của Nhà nước:
Nhà nước là một hiện tượng chính trị - xã hội rất phức tạp, có liên quan đến
lợi ích của giai cấp, các dân tộc, các quốc gia và tác động trức tiếp đến đời sống
mọi mặt của con người trong xã hội.
Nhà nước ra đời từ bao giờ và do nguyên nhân gì? Đây là vấn đề đã được đặt ra
từ xa xưa và đã có rất nhiều cách giải thích khác nhau. Trước C.Mác, đã có nhiều
nhà triết học giải thích vấn đề này, nhưng do những hạn chế có tính chất lịch sử
và thế giới quan nên họ đã giải thích không đúng về nguồn gốc nhà nước, không
nhìn thấy điều kiện kinh tế - xã hội của quá trình hình thành nhà nước. Theo họ,
nhà nước là một hiện tượng vốn có của xã hội và tồn tại vĩnh viễn cùng với sự
phát triển của xã hội loài người, là một tổ chức quyền lực của mọi thành viên
trong xã hội.
Cho đến khi xuất hiện học thuyết Mác – Lênin về Nhà nước thì những vấn đề
về Nhà nước, trong đó có vấn đề về nguồn gốc nhà nước mới được giải đáp đúng
đắn có căn cứ khoa học. trên cơ sở hương háp luận duy vật biện chứng và lịch sử,
các nhà sáng lập chủ nghĩ Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: nhà nước không phải là
một hiện tượng xã hội vốn có và bất biến trong lịch sử, mà là một phạm trù lịch
sử, có quá trình hình thành , phát triển và diệt vong. nhà nước chỉ xuất hiện khi
xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nó luôn luôn vận
động, hát triển và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của
nó không còn.
Lịch sử đã chứng minh rằng, có một thời kỳ dài trong lịch sử xã hội loài
người không có nhà nước. Đó là thời kỳ xã hội công xã nguyên thủy – thời kỳ xã
hội chưa có sự phân chia giai cấp. Trong tác phẩm “Nguồn gốc cảu gia đình, của
chế độ tư hữu và của Nhà nước”, F.Ăngghen đã viết: “ Như vậy, nhà nước tồn tại
không phải là mãi mãi từ ngàn xưa. Đã từng đã có những xã hội không cần đến
nhà nước, không có một khái niệm nào về nhà nước và chính quyền của nhà
nước cả. Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, giai đoạn tất nhiên phải
Từ những phân tích trên đây ta có thể định nghĩa về bản chất của nhà nước
như sau: nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống
trị, đồng thời đó cũng là tổ chức quyền lực công. Xét về bản chất giai cấp, Nhà
nước mang bản chất giai cấp của giai cấp thống trị.
Nghiên cứu về bản chất của Nhà nước, chúng ta cần lưu ý các điểm sau:
- Một là, trong xã hội bóc lột, Nhà nước đều có một thuộc tính chung: là bộ
máy cưỡng chế và đàn áp đặ biệt của giai cấp thống trị, là công cụ sắc bén để duy
trì sự thống trị của thiểu số đối với đa số là nhân dân lao động.
2
- Hai là, vai trò xã hội của nhà nước là một thược tính khách quan, phổ biến,
nhưng biểu hiện cụ thể và mức độ thực hiện vai trò này không giống nhau ở
những kiểu nhà nước khác nhau.
2. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam:
2.1. Nguyên tắc nhân dân tham gia vào công việc Nhà nước, quản lý xã hội:
Khi chế độ phong kiến bị xóa bỏ, các chế độ cộng hòa, dân chủ lần lượt
xuất hiện làm thay đổi căn bản chủ thể của quyền lực Nhà nước. Từ chổ mọi
quyền lực trong tay một người được thay bằng quyền lực trong tay nhân dân.
Khẩu hiệu mang tính bản chất của mọi nền dân chủ, tuy chất lượng tính
hiện thực có khác nhau nhưng nó có một cái chung, bắt nguồn từ bản chất của
một thể chế, đó là: quyền lực thuộc về nhân dân. Đây là quan điểm cách mạng,
làm thay đổi “chủ sở hữu” của quyền lực.Từ chỗ quyền lực xuất phát từ ý chí của
một người, đến chỗ quyền lực là ý chí của đa số nhân dân.
Sự thay đổi chủ thể của quyền lực Nhà nước ở nước ta có tính cách mạng.
Nhân dân từ chổ vừa ở vị trí thần dân, vừa ở vị trí nô lệ phụ thuộc bởi chế độ
thuộc địa nửa phong kiến, trở thành người chủ của đất nước trong xã hội dân chủ
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ sau thắng lợi của Cách mạng dân tộc, dân chủ, Nhà nước ta ban hành
bản Hiến pháp đầu tiên, sự đảm bảo bằng pháp luật khả năng tham gia quản lý
nhà nước và quản lý xã hội của nhân dân ta có đặc trưng: nó luôn thay đổi bằng
Những khái niệm đảng phái, đảng chính trị chỉ xuất hiện từ khi chủ nghĩa
tư bản ra đời và nó được khẳng định ở giai đoạn chính muồi của cuộc đấu tranh
giữa các đảng phái chính trị giành quyền lực nhà nước.Giai đoạn chính muồi là
giai đoạn khẳng định tinh phổ biến vai trò cầm quyền của một đảng phái chính trị
đối với Nhà nước. Đồng thời cũng có nghĩa là: trong nền dân chủ hiện đại đã chín
muồi, nguyên tắc “Đảng cầm quyền” tồn tại ở hầu hết các quốc gia thực hành chế
độ dân chủ cũng là hiện tượng phổ biến mang tính quy luật. Định thức này có thể
sử dụng để nhìn nhận hai hiện tượng trong lịch sử chính trị.
Thứ nhất, khi còn tồn tại chiến tranh lạnh, sự giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia,
về mặt kinh tế, văn hóa, ngoại giao và chính trị xã hội còn hạn chế, và lý luận
phương tây thường có quan điểm: các nước có chế độ dân chủ tư sản thường là
các nước phi Đảng phái, tập trung về mặt chính trị trong cương lĩnh tổ chức Nhà
nước.
Thứ hai, những năm cuối của cuộc “cải tổ” chuẩn bị cho sự tan rã của Liên Xô
cũ và các nước Đông Âu, lực lượng đối lập bắt đầu tuyên truyền tư tưởng đa
nguyên chính trị, rằng sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là nguyên nhân trì trệ xã
hội toàn diện ở các nước này; Đảng cộng sản trở thành đồng nghĩa vói tình trạng
trì trệ, bảo thủ, lạc hậu.
Ở Việt Nam, tư tưởng về tổ chức Nhà nước căn cứ vào hai luận điểm: thứ
nhất, về bản chất Nhà nước ta phải là nhà nước của dân, tổ chức, xây dựng trên
4
nền tảng xã hội rộng rãi (Điều 2, Điều 6 Hiến pháp 1992).Thứ hai, về chính trị và
thực tiễn, sự lựa chọn của nhân dân cũng như lập trường trước sau như một Đảng
Cộng Sản Việt Nam trong sự lãnh đạo chính trị của mÌnh đối với Nhà nước. Nhà
nước Việt Nam luôn có một lực lượng chính trị lãnh đạo, đó là Đảng Cộng Sản
Việt Nam. Vai trò đó được ghi nhận ở hai bản Hiến pháp gần nhất: đó là Hiến
pháp 1980 (Điều 4) và Hiến pháp 1992 (cũng Điều 4).
* Về nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có một số đặc
điểm:
- Thứ nhất, Đảng lãnh đạo Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ chiếm lược lâu
được ghi nhận từ Hiến pháp 1959 (Điều 4) và tiếp tục được ghi nhận ở Điều 4
của Hiến pháp 1992.
Các nhà nghiên cứu pháp lý hành chính phương Tây khi nghiên cứu các
phương diện tổ chức và hoạt động của nhà nước thường chỉ nhấn mạnh các khía
cạnh tổ chức, kỹ thuật.
Chẳng hạn, họ cho rằng nhà nước muốn hoạt động tốt, muốn trở thành nhà
nước hiệu quả thì nó tổ chức sao cho nó trở thành nhà nước gần dân. Hoặc đề cặp
đến vai trò của Nhà nước tác động tới kinh tế. Như vậy, Nhà nước được nhìn
nhận từ góc độ hoạt động, chứ không chú ý đến khá cạnh tổ chức.
Khi nhận xét các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, những nhà nghiên cứu này thường cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ
được “du nhập” từ nguyên tắc hoạt động của Đảng Cộng sản do Lênin sáng tạo.
Chúng ta nhìn nhận nguyên tắc tập trung dân chủ là sự nhận thức khía cạnh
cơ bản, chi phối hoạt động của các nhà nước hình thành theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Một nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân lao động tổ chức
thì nền tảng xã hội của nó là một đa số từ phương diện tổ chức đến phương diện
mục đích.
Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1992 (và cả Hiến pháp 1980, 1959) bao
gồm ba cơ quan thực hiện ba chức năng khác nhau: Quốc hội thực hiện quyền lập
pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và tòa án thực hiện quyền tư pháp.
Hoạt động của các cơ quan này theo quy định của Hiến pháp, theo nguyên tắc tập
trung dân chủ. Nhưng ở mỗi cơ quan, nguyên tắc này thể hiện khác nhau.
Khi quyết định các vấn đề mà Quốc hội bàn, các đại biểu thường đứng
trước những vấn đề liên quan đến:
• Lợi ích của cả nước, các đại biểu quyết theo phương án nào trong nhiều
phương án tức là biểu quyết lựa chọn phương án tối ưu;
• Lợi ích cục bộ (lãnh thổ, thành phần…), các đại biểu cần thể hiện không
những ý chí của cả nước mà còn phù hợp với nguyện vọng của các cử tri đã bầu
họ.
Do những chi phối như vậy nên Quốc hội không có cách thức nào tốt hơn là
được công lý thông qua công bằng để nhận biết công lý.
Những điều kiện để tổ chức và hoạt động của Nhà nước bảo đảm nguyên tắc
pháp chế:
Thứ nhất, Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật một các kịp thời và
có hệ thống.
Thứ hai, yêu cầu của nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các cơ quan nhà nước lập ra
và hoạt động trong khuôn khổ luật pháp quy định về địa vị pháp lý, quy mô và
thẩm quyền.
7
Nguyên tắc này không chấp nhận hai khả năng thường xảy ra ở những nơi mà
tình trạng pháp chế bị vi phạm. Khả năng thứ nhất là, các hoạt động quản lý vượt
thẩm quyền. Khả năng này xảy ra phổ biến ở các cơ quan hành chính. Chẳng hạn
việc cấp đất khi không có thẩm quyền được giao; phạt vi phạm hành chính quá
mức quy định.v.v. Khả năng thứ hai, buôn lỏng, bỏ trống một số lĩnh vực thuộc
thẩm quyền như trong giao thông, trong quản lý đất đai, quản lý thuế… còn khá
phổ biến hiện nay.
Thứ ba, sự tôn trọng hiến pháp, và cơ quan nhà nước. Đây là đòi hỏi thể hiện
sự tôn trọng trong nguyên tắc pháp chế, đồng thời thể hiện tính dân chủ của Nhà
nước. Nhà nước thay mặt nhân dân ban hành pháp luật, nhưng nhà nước cũng bị
luật pháp điều chỉnh. Nghĩa là: cơ quan nhà nước trong hoạt động có thể phạm
phải sai lầm đó. Nếu sai lầm gây thiệt hại thì phải bồi thường. Nhà nước vì vậy
vừa là chủ thể của pháp luật vừa là đối tượng bị pháp luật điều chỉnh. Yêu cầu
này rất quan trọng trong quản lý hành chính, trong hoạt động của các cơ quan tư
pháp.
Việc xúc tiến thành lập cơ quan tòa án hành chính và phân định thẩm quyền và
xét xử của tòa án nhân dân là một yêu cầu của cải cách hành chính song song với
cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam hiện đại. sự hình thành của tòa án hành chính trong tổ chức cơ
cấu bộ máy nhà nước, mà còn thể hiện tính dân chủ cao trong quản lý nhà nước,
phù hợp với hiến pháp mới, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Bộ máy nhà nước là một cơ cấu các cơ quan nhà nước thực hành các chức
năng cơ bản khác nhau theo thẩm quyền được luật pháp quy định và có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau trong một cơ cấu thống nhất. theo hiến pháp 1992,
cơ cấu tổ chức bộ máy của nước ta bao gồm: quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc
hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Tòa án nhân dân và Viện kiểm soát nhân dân;
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
3.1. Cơ cấu bộ máy Nhà nước:
Theo Hiến pháp năm 1992, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ta gồm có:
• Quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội;
• Chủ tịch nước;
• Chính phủ;
• Tòa án nhân dân và viện kiểm soát nhân dân;
• Hội động nhân dân và ủy ban nhân dân
3.1.1. Quốc hội
• Vị trí vai trò của quốc hội:
Quốc hội là cơ quan địa biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất
của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Điều 83, hiến pháp 1992). Quốc
9
hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân trức
tiếp bầu ra thông qua chế độ bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiế bỏ phiếu kín.
là cơ quan quyền lực cao nhất, Quốc hội thống nhất mọi quyền lực ( thống nhất
ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp ).
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
- Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc
chủ yếu về tổ chức và hoạt dộng của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt
động của công dân.
- Quốc hội là cơ quan giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà
nước.
- Quyết định đại xá
- Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao
và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương và danh hiệu vinh dự
nhà nước;
- Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tinh trạng khẩn cấp, các
biện pháp đặc biệt khác đảm bảo quốc phòng an ninh quốc gia;
- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước
quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp kí kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch
nước.
- Quyết định về việc trưng cầu ý dân.
nhiệm kì của mỗi khóa Quốc hội là 5 năm. Hoạt động cơ bản nhất, quan trọng
nhất của Quốc hội là các kỳ họp quốc hội là các kỳ họp Quốc hội. Quốc hội họp
mỗi năm 2 kì, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập. Ủy ban Thường vụ Quốc
hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, do Quốc hội bầu ra. Theo Điều 91 hiến
pháp 1992, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau
đây:
+ Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội.
+ Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kì họp Quốc hội;
+ Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
+ Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao.
+ Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi
hành các văn bản của Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm soát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật nghi quyết của Quốc hội
và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ các văn bản đó; hủy bỏ các văn bản
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,Viện kiểm soát nhân
dân tối cao trái với pháp lệnh, nghi quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội;
11
+ Giám sát và hướng dẫn hoạt động của hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghi
viên hoặc động viên cục bộ, công bố tính trạng khẩn cấp; trong trường hợp Ủy
ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả
nước hoặc ở từng địa phương;
12
+ Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn 10
ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó được Ủy ban
thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì
Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thi Chủ tịch nước trình quốc hội quyết định tịa
kỳ họp gần nhất;
+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phàn Tòa án nhân
dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
+ Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang
nhân dân , hàm, cấp đại sứ, những hàm, cấp nhà nước trong các lĩnh vực khác;
quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, giải thưởng nhà nước và danh
hiệu vinh dự nhà nước;
+ Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ
đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán; kí kết điều ước quốc
tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với người đứng
đầu Nhà nước khác; trình Quốc hội hê chuẩn điều ước quốc tế đã trực tiếp kí;
quyết định hê chuẩn hoặc gia nhập điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình
Quốc hội quyết định;
+ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt nam, cho thôi quyết định Việt Nam
hoặc tước quốc tịch Việt nam;
+ Quyết định đặc xá.
3.1.3. Chính phủ
• Vị trí pháp lí của chính phủ
- Chính phủ là cơ quan chấ hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước
cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
- Chính phủ thống nhất quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước.
dân; thi hành lệnh động viên, ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần
thiết khác để bảo vệ đất nước;
+ Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác
thanh tra và kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà
nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
+ Thống nhất quản lý công tác đối ngoại, đàm phán, kí kết điều ước quốc tế
nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp quy
định tại điểm 10 điều 103; đàm, phán, kí , hê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế
nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc gia nhập; bảo vệ lợi ích của nhà nước ,
lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
+ Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;
+ Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương;
14
+ Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trogn khi
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức hoạt động
có hiệu quả.
• Về cơ cấu tổ chức và chế độ làm việc của Chính phủ.
- Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và thủ tướng
cơ quan ngang bộ. về cơ cấu tổ chức của chính phủ gồm có: các bộ, cơ quan
ngang bộ.
- Chính phủ làm việc theo chế độ kết hợp trách nhiệm của tập thể với việc đề cao
quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng và của mỗi thành viên Chính
phủ. Hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ là phiên họp chính phủ.
3.1.4. Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
• Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương , đại diện ở
ý chí, nguyện vọng và quền làm chủ của nhân dân địa phương bầu ra , chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên ( Hiến pháp
quyết những vụ việc khác theo quy đinh của pháp luật.
trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập
thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân (Điều
126, Hiến pháp 1992).
Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dan tham gia . Khi xét
xử, Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật. Tòa án xét xử công khai ( trừ trường hợp do luật quy định),
xét sử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 131, Hiến pháp 1992)
• Viện kiếm soát nhân dân
Viện kiếm soát nhân dânlà cơ quan nhà nước thực hiện quyền công tố và
kiểm soát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định, bảo đảm
cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất ( Điều 137, Hiến pháp
1992)
Trong phạm vi chức năng của mình, Viện Kiểm soát nhân dân nhiệm vụ bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội của chủ nghĩa và quyền làm
chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài
sản, tự do , danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm để mọi hành vi xâm
phạm lợi ích của Nhà nước,tập thể, quyên và lợi ích hợp pháp của công dân đều
được xử lí theo pháp luật (Điều 2, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân).
Khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiếm soát nhân dân
có quyền ra quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về các văn bản đó. Các quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của
Viện kiếm soát nhân dân phải được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có
16
liên quan thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật (Điều 6, Tổ chức
Viện Kiểm soát nhân dân).
3.2. Các đơn vị hành chính của nước ta được phân định như sau:
- Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị tương
đương.