Lời bình 1: Nhà thơ Xuân Diệu và cuộc bình thơ độc đáo
Những năm tháng học trường cấp 3,
tôi rất thích thơ Xuân Diệu qua lời
giảng và một vài câu thơ viện dẫn
trong phần minh họa "thơ ca lãng mạn
thời kỳ 1930 - 1945" của thầy giáo.
Thầy Lương Duy Cán, đồng thời là nhà thơ, có bút danh là Mai Liêm, Hà Nhật ở gần nhà
tôi. Thầy có cô em gái là bạn học với tôi, tên là Lương Thị Mỹ Phước. Mỗi lần đến nhà Mỹ
Phước chơi, thú vị nhất là được bạn cho phép ngồi đọc những cuốn sách trong tủ sách của
thầy, lúc thầy đi vắng. Ngọn gió "Thơ thơ", "Gửi hương cho gió" của Xuân Diệu trong
những lần đọc tại nhà Phước ấy đã thổi bồng thêm tâm hồn lãng mạn của tôi.
Tháng 2 năm 1965, đế quốc Mỹ đánh vào Đồng Hới, Quảng Bình, mở màn cho chiến tranh
leo thang phá hoại miền Bắc. Cái thị xã nhỏ bên sông Nhật Lệ oằn mình bởi hàng trăm ngàn
quả bom dữ dội của không lực Hoa Kỳ ném xuống.
Bao anh hùng ở Quảng Bình xuất hiện. Trong đó có mẹ Suốt, 60 tuổi, phơ phơ mái tóc bạc,
ngày ngày dũng cảm chèo đò chở cán bộ, bộ đội qua sông Nhật Lệ, giữa trùng vây bom đạn
quân thù.
Vài tuần sau, đúng ngày chủ nhật, từ chỗ trường cấp 3 sơ tán, cách Đồng Hới hơn 20km về
phía Nam, tôi về nhà để lấy thêm gạo. Vừa đến nơi thì thấy bên kia hàng rào, đường vào nhà
Mẹ Suốt xôn xao tiếng người. Tôi liền chạy sang. Chú dân quân dẫn đường cho tôi biết, đây
là đoàn khách văn nghệ sĩ từ Hà Nội vào, đi thực tế Đồng Hới, Quảng Bình.
Trong đoàn văn nghệ sĩ hơn mười mấy người ấy, tôi nhận được ngay nhà thơ Xuân Diệu, bởi
khuôn mặt chữ điền và "mái đầu dỡn sóng Quy Nhơn" của ông. Bởi hình ảnh ông, tôi đã cắt
từ một tờ báo, dán vào sổ tay của mình từ lâu. Tôi chào ông. Ông thân mật bắt tay tôi và hỏi:
"Cậu là người trong nhà à?". Tôi vẫn để yên hai tay mình trong tay nhà thơ và nói: "Dạ,
không phải, cháu là người hàng xóm sang chơi thôi ạ!".
Cuộc thăm hỏi nhà mẹ Suốt của đoàn văn nghệ sĩ Hà Nội sôi nổi diễn ra trong khoảng nửa
tiếng. Cái bắt tay đầu tiên của nhà thơ Xuân Diệu với tôi là một kỷ niệm khó quên. Sau đó,
kể lại với bạn bè cùng lớp, tôi không giấu nổi sự sung sướng và kiêu hãnh của mình.
Tháng 10 năm đó, sau những ngày làm xã viên HTX đánh cá Thống Nhất Bảo Ninh, tôi
được Trường Đại học Sư phạm Vinh gọi nhập học. Trường có mật danh là "Trường Văn hoá
Ông bước đến chỗ bàn đan bằng nứa, được phủ lên một chiếc ni lông đi mưa, vốn là bàn của
thầy giáo ngồi giảng bài, ở giữa được đặt một lọ hoa mà các bạn gái lớp tôi đi hái từ chiều.
Xuân Diệu phát hiện ra là bình hoa không có nước.
Ông nhấc cao, đưa lên cho mọi người thấy và đọc câu thơ: "Yêu hoa sao nỡ phũ phàng với
hoa", và nói: "Các bạn ăn cơm, uống nước, thở khí trời để sống, thế những bông hoa này sao
không nuôi nó, để cho nó sẽ chết héo, phũ phàng làm sao!".
Cô lớp phó lại phải vội vàng đi múc một ca nước đầy, đổ vào lọ, với một nụ cười rất cầu thị.
Những chi tiết có vẻ "nhiêu khê" như thế, vừa bộc lộ tính cách nghệ sĩ của nhà thơ, vừa là lời
dạy về nếp sống văn hóa đối với một sinh viên, thầy giáo tương lai của chúng tôi, không thể
nào quên được.
Cuộc nói chuyện thơ bắt đầu, khi Xuân Diệu giới thiệu về xuất xứ của mình:
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm
Chả là cụ thân sinh của Xuân Diệu là ông đồ, quê Hà Tĩnh, đi dạy học ở Bình Định, cảm
thương bà bán nước mắm. Họ lấy nhau, đẻ ra Xuân Diệu nên nhà thơ đã nói về mình như
thế. Rồi ông chỉ tay ra phía Bắc, giọng sang sảng: "Nhà tôi hai bốn cột cờ/ Ai thương thì tới,
ai lờ thì đi".
Hôm đó, nhà thơ Xuân Diệu bình vẻ đẹp trong thơ cổ điển Việt Nam và một phần của thơ
hiện đại. Chưa bao giờ tôi được nghe những lời bình sâu sắc, ý vị đầy rung cảm, nhiệt tình
như thế. Trong tôi, Xuân Diệu là nhà thơ nhưng còn là nhà văn hóa, nhà diễn thuyết hùng
biện.
Xuyên suốt buổi nói chuyện, chủ đề nổi bật ông nhấn mạnh với chúng tôi là: "Thi trung hữu
nhạc". Ông nói: "Không có nhạc thì không thành thơ. Thơ và nhạc quyến luyến như đôi vợ
chồng làm nên một tổ ấm". Ông làm chúng tôi sáng mắt lên trước những câu: "Đùng đùng
gió giục mây vần", "Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi, "Bất bình nổi trận đùng đùng
sấm vang" trong "Truyện Kiều". "Đùng đùng", "ầm ầm", bản thân nó chứa âm thanh, lại
được đặt đầu câu, làm âm thanh đó vang lên, bùng lên dữ dội, diễn tả nội tâm nhân vật sâu
sắc biết bao. Xuân Diệu bình thơ không những bằng lời vàng sang sảng của mình mà còn
bằng động tác phụ hoạ để diễn tả chiều sâu của ngôn từ.
Bình câu "Bố cu lổm ngổm bò trên bụng/ Thằng bé hu hơ khóc dưới hông" của Hồ Xuân
Với sương lá rụng trên đầu gần gũi
Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi!
(Được giận hờn nhau sung sướng bao nhiêu!)
Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm
Gió bao lần, từng trận nhớ thương đi,
Mà kỷ niệm ơi, còn gọi ta chi
Nhà thơ Huy Cận trong lời tựa một tập thơ tình Xuân Diệu đã cho biết Xuân Diệu "muốn làm một
quyển từ điển tình yêu bằng thơ của mình". Thế giới tình yêu muôn màu sắc có bao nhiêu trạng
thái, cảm xúc phong phú thì cũng bấy nhiêu phen nhà thơ say sưa khám phá và thể hiện bằng sự
nhạy cảm rất riêng tư của một người "say đắm tình yêu". Tương tư là một trạng thái khó cắt nghĩa
của trái tim, đã được nhà thơ diễn tả bằng sự hoà điệu của hai nguồn tình cảm: Tình yêu với cuộc
sống trần thế và tình yêu lứa đôi, trong bài thơ Tương tư, chiều. Không gian chiều - sự xa cách đã
làm nên những tiếng thơ gấp gáp rất đặc trưng của hồn thơ Xuân Diệu - có một chút duyên dáng
và nôn nả trong lời đầu:
Bữa nay lạnh , mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, em hỡi, anh nhớ em
Chiều đến mang theo hơi lạnh cũng là lúc nhà thơ nghe được những vang động của trái tim khát
yêu, khát sống của chính mình, bày tỏ khát khao tìm về hơi ấm tình người trong sự gần gũi lứa đôi.
"Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ" nên nhà thơ rất hay có những dự cảm mong manh khi bộc
bạch tình yêu. Thi nhân bao đời đã từng than thở: "Tương tư không biết cái làm sao - Muốn vẽ mà
chơi vẽ được nào". Từ buổi xa xưa của nhân loại, đã có những vần thơ diễn tả cảm giác tương tư
mênh mông như nước Tương giang: "Chàng ở đầu sông Tương - Thiếp ở cuối sông Tương - Nhớ
nhau chẳng thấy nhau - Cùng uống nước sông Tương" (Kinh Thi). Còn Xuân Diệu không ngần ngại
mà thốt lên say đắm và mãnh liệt nỗi nhớ của mình gửi vào không gian chiều vang động, xôn xao.
còn nhớ chính mình: "Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi". Đó là lúc con người được sống trong
phần người tốt đẹp nhất, với bao khát vọng sống mãnh liệt, tự tin ở chính mình, tin tưởng ở tình
yêu, ở cuộc đời. Có lẽ bức thông điệp tình yêu trong Tương tư, chiều sẽ phần nào giúp người đọc
hiểu hơn về Tình Yêu, hiểu hơn tấm lòng tha thiết với cuộc đời của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu.
Trần Hà Nam
Địa chỉ: Tổ bộ môn Văn - trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định
Lời bình 3 : Bình thơ bài “ Tình Qua ”
TÌNH QUA
XUÂN DIỆU
Tôi dạo thanh bình giữa phố đông
Tự cười sao chở núi và thông
Về đây áng trở người qua lại
Bỗng lướt ngang tôi một thoáng hồng.
Tâm trí còn kinh trận gió người !
Bốn bề không khí bỗng reo tươi
Một luồng ánh sáng xô qua mặt
Thắm cả đường đi rực cả đời.
Tôi trải yêu thương dưới gót giày,
Ôm chừng bóng lạ giữa mê say.
Lòng buồn lững thững vương sau áo
Bước đẹp mà sao khéo tỏa đây.
Thiên hạ về đâu ? Sao vội đi ?
Bao giờ gặp nữa ?Có tình chi ?
Lòng tôi theo bước người qua ấy,
Cho đến hôm nay vẫn chẳng về
Lời bình của Vũ Nho
Trong bài thơ "đa tình" Xuân Diệu tự giới thiệu mình đã yêu từ khi chưa có tuổi và cả khi chết
rồi thi sĩ vẫn còn yêu. Đó chẳng qua là một cách nói để khẳng định cái tôi đa tình cuồng nhiệt.
Giở những trang thơ "Mênh mông như vũ trụ - Đầy khói hương xưa tràn ân ái cũ" ta bắt gặp
một Xuân Diệu khao khát tình ái, yêu si mê, yêu điên cuồng, yêu hối hả, yêu vội vã, yêu đến
Thắm cả đường đi cả cuộc đời
Còn đang mơ màng thì thấy "một bóng hồng". Tỉnh táo hoàn toàn lại thấy bao điều lạ lung
"không khí reo tươi" một luồng ánh sang xô qua mặt", "thắm đường", "rực đời". Từ cõi mơ
mộng trở về cõi thực. Nhưng cõi thực lại rực rỡ và kỳ diệu đến mức còn thần tiên hơn cả cõi
mộng mơ. Người đẹp không được nhìn cặn kẽ, không được tả cụ thể vì nàng hiện ra chói ngời
hào quang. Cảnh vật gợi nhớ câu thơ "một vùng như thế cây quỳnh cành giao" của thi hào
Nguyễn Du ngày trước.
Thế là một tình yêu rất thi sĩ, rất là Xuân Diệu. Nào đã biết gì "thoáng hồng" làm tươi không
khí làm rực đường đi ấy đâu. Và cũng rõ ánh mắt, nụ cười hay ít ra là giọng nói của nàng thế
nào ? Nhưng cần chi. Xuân Diệu yêu mới trân trọng làm sao :
Tôi trải yêu thương dưới gót giày
So với người xưa đúc hoa sen bằng vàng lót xuống nền nhà cho tình nương bước lên nào có
kém đâu. Hơn thế nữa, đây không phải là đồ vật, mà là trái tim là tấm lòng đem trải dưới gót
giày. Dâng hiến đến như thế ở trong thơ Việt Nam thời bấy giờ cũng chỉ có Xuân Diệu mới
dám làm. Nhưng sau cái phút mê say cuồng nhiệt đơn phương ấy, thi nhân vẫn còn tỉnh táo để
nhuốm ngay một sắc buồn bâng khuâng. Nhịp thơ chừng như cũng chững lại cùng với từ
"lững thững" :
Lòng buồn lững thững vương sau áo
Đây lại cũng là một nét rất Xuân Diệu trong tình yêu : Yêu đấy nhưng lại hoài nghi liền đấy,
vui đấy, nhưng buồn ngay đấy ; sung sướng đấy, nhưng khổ đau liền đấy ; gặp nhau đấy, gần
gũi đấy nhưng xa cách ly biệt cũng liền kề :
Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt.
Dâng hiến nhưng người ta vô tình. Trái tim trải dưới gót giày nhưng người ta đâu có biết. Hơn
một lần tình huống trớ trêu trong "dối trá" tái lập ở đây :
Tôi chỉ sống để hoài hoài tưởng nhớ
…
Mà người thì lơ đãng dậm trên buồn
Lòng chạnh buồn, nhưng không vì thế mà không say đắm, và cũng không vì thế mà không say
ngắm, không trầm trồ theo bước chân hết sức lạ lung :
t.
Em ngồi xích lại gần anh tức là t > a.
Gọi y là “khoảng cách trong trí tưởng tượng của anh”. Suy ra y là hàm số
của t, tức là y = f(t).
Vì “ em ngồi gần anh lại thấy xa hơn ” nên khi t >a tức là t – a càng
nhỏ thì y = f(t) càng lớn.
Do đó f(t) có thể viết dưới dạng :
(k là hằng số khác 0)
Rõ ràng :
Đúng là :
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tình chữ toán thật là hợp nhau !