LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
Đầu tư xây dựng cơ bản chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư hàng năm, nước ta chi phí trên dưới 150.000 tỷ đồng vốn đầu tư
xây dựng, chiếm khoảng 3% GDP. Trên bước đường công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước, đầu tư xây dựng sẽ còn tiếp tục là sự nghiệp lâu dài được
thực hiện ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế và trong xã hội. Chỉ cần tiết kiệm
được 1% thông qua đấu thầu, hàng năm nước ta đã có thêm hàng ngàn tỷ
đồng.
Ban quản lý dự án 5 - PMU5 với vai trò là đại diện chủ đầu tư, là cơ
quan điều hành thực thi các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông do
Bộ Giao thông vận tải giao. Do vậy, đấu thầu là một công tác đóng vai trò rất
quan trọng trong quá trình quản lý dự án tại Ban, đặc biệt là các dự án sử
dụng vốn từ ngân sách Nhà nước và vốn Trái phiếu Chính phủ.
Chính vì vai trò và sự cần thiết của công tác đấu thầu trong đầu tư xây
dựng hiện nay nên dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của cô giáo-Thạc sỹ Nguyễn
Thu Hà và các cán bộ tại cơ quan thực tế em đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu
quả công tác tổ chức đấu thầu các dự án sử dụng vốn trong nước tại Ban
Quản lý dự án 5 - Bộ Giao thông vận tải” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn cô và các cán bộ trong phòng dự án 2 - PMU5 nơi
em thực tập đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập và thực hiện luận văn.
Kết cấu luận văn của em gồm 2 chương:
- Chương I: Thực trạng công tác tổ chức đấu thầu các dự án sử dụng
vốn trong nước tại Ban quản lý dự án 5-Bộ GTVT.
- Chương II: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu các
dự án sử dụng vốn trong nước tại Ban 5.
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN
SỬ DỤNG VỐN TRONG NƯỚC TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN 5 -
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
- Giải quyết các thủ tục về đất đai, đền bù thực hiện giải phóng mặt
bằng của dự án.
- Tổ chức đấu thầu xây dựng và ký kết hợp đồng xây dựng
Một số thành tích đạt được trong những năm gần đây :
- Thực hiện giải ngân cho các dự án trong từng năm kế hoạch:
+ Năm 2002 hơn 200 tỷ VNĐ
+ Năm 2003 hơn 700 tỷ VNĐ
+ Năm 2004 đạt hơn 1.024 tỷ VNĐ vượt 104,8% kế hoạch năm
- Các danh hiệu khen thưởng hàng năm:
+ Năm 1998 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động
hạng Ba;
+ Năm 2002 Bộ GTVT tặng cờ thi đua xuất sắc;
+ Năm 2003 được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Hai;
+ Năm 2004 Bộ GTVT tặng cờ thi đua xuất sắc.
3. Cơ cấu tổ chức tại Ban quản lý dự án 5:
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC
Tổng số: 112 cán bộ công nhân viên
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
3.1. Lãnh đạo ban:
a. Tổng Giám Đốc: là đại diện cao nhất, điều hành mọi hoạt động của
PMU5 theo chế độ một thủ trưởng .
- Chịu trách nhiệm về hoạt động của PMU5 trước Bộ Trưởng Bộ GTVT
- Giúp việc trực tiếp hàng ngày cho Tổng Giám Đốc có một chức danh
trợ lý Tổng Giám Đốc (biên chế ở phòng Tổng hợp)
Tổng giám đốc
Phó
Tổng giám đốc
Phó
Tổng giám đốc
Phó
CNV
Tổ trợ
lý
12 CB
CNV
Phòng
giải
phóng
mặt
bằng
13 CB
CNV
Văn
phòng
20 CB
CNV
b. Các Phó Tổng Giám Đốc:
- Phụ trách từng lĩnh vực công tác theo sự phân công của Tổng Giám
Đốc
- Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc về lĩnh vực công tác được
phân công, về những nhiệm vụ đột xuất khác khi được giao.
3.2. Các phòng nghiệp vụ:
3.2.1. Phòng dự án:
Có chức năng thực hiện các công việc về thủ tục, về kỹ thuật từ giai
đoạn lập dự án, lập thiết kế kỹ thuật, tổ chức đấu thầu, chấm thầu và công bố
thực hiện các dự án. Đồng thời, phối hợp với các phòng ban khác giải quyết
các vấn đề khác phát sinh.Cụ thể:
a) Chủ trì với sự giúp đỡ của Tư vấn (trong nước và nước ngoài) trong
các phần việc:
- Thẩm định các hồ sơ về dự án:
Thực hiện các công việc quản lý khối lượng, chất lượng, tiến độ thi công
các công tác xây lắp của Nhà thầu theo hợp đồng giao nhận thầu,thiết kế bản
vẽ thi công được phê duyệt và các Quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng được áp
dụng.
- Tổ chức theo dõi tiến độ thi công công trình theo từng hạng mục, từng
hợp đồng, đáp ứng đầy đủ và kịp thời sự chỉ đạo của Tổng Giám Đốc và của
Bộ GTVT;
- Nắm bắt các vấn đề nảy sinh tại hiện trường, đề xuất các giải pháp xử
lý để Tổng Giám Đốc xem xét giải quyết;
- Lập báo cáo tổng hợp về tình hình thi công trên công trình về các mặt:
tiến độ thi công; chất lượng công trình; khối lượng thực hiện và giá trị; thanh
toán.
- Phối hợp với phòng dự án (phòng dự án chỉ trì) trong việc tham mưu
xử lý những vấn đề kỹ thuật nảy sinh tại hiện trường;
- Các nhiệm vụ công tác khác được Tổng Giám Đốc giao.
3.2.4. Phòng giải phóng mặt bằng:
- Chủ trì tổ chức bàn giao các hồ sơ tài liệu hệ thống cọc tìm mốc cho
các Ban giải phóng mặt bằng địa phương;
- Tham gia với các Ban giải phóng mặt bằng địa phương trong việc:
+ Lập các phương án đền bù, phương án quy hoạch các khu tái định cư;
+ Lập kế hoạch và tiến độ giải phóng mặt bằng;
- Thẩm định để trình Bộ duyệt:
+ Phương án đền bù do các địa phương trình;
+ Thiết kế kỹ thuật và dự toán các hạng mục đền bù có tính chất xây lắp,
các khu tái định cư.
- Tổ chức nhận và bàn giao mặt bằng đã được đền bù giải toả cho các
Nhà thầu;
- Chủ trì quyết toán các hạng mục đền bù giải phóng mặt bằng.
3.2.5. Văn phòng:
Thực hiện các công tác liên quan đến các thể chế chính sách của Nhà
Bộ GTVT. Điều đáng nói là những dự án mà PMU5 quản lý thường xuyên
gặp phải không ít khó khăn trong quá trình thực hiện, các công trình đều đi
Giai
đoạn
chuẩn bị
đầu tư
Giai đoạn
thực hiện
đầu tư
(công bố
thắng
thầu)
Giai
đoạn
thi công
Công
trình
Giai
đoạn
nghiệm
thu
quyết
toán
Phòng dự án và
Phòng kế hoạch
Tổ trợ lý và
Phòng kỹ thuật
Phòng tài chính
kế toán
qua nhiều địa phương khác nhau, mỗi nơi lại có những đề nghị trái ngược
Ban quản lý Dự án Quốc lộ 5 được Bộ GTVT tin tưởng giao cho dự án khác
ngoài Quốc lộ 5 nên tháng 4/1997 Ban được đổi tên là Ban quản lý Dự án 5.
*Công trình dự án cải tạo nút Nam Chương Dương:
Đây là dự án đặc biệt có vị trí xây dựng ngay tại cửa ngõ phía đông của
thủ đô. Chỉ trong thời gian ngắn, Ban đã hoàn thành công tác quản lý dự án từ
khâu tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu chuẩn xác có đủ năng lực, đến tổ
chức thi công, nhất là công tác giải phóng mặt bằng di dân, di dời hệ thống
điện 110KV, phá vỡ đê, xây dựng hoàn thành trước mùa lũ, thời gian thi công
công trình theo kế hoạch là 165 ngày, rút ngắn còn 105 ngày đã thông xe, giải
quyết được ách tắc giao thông đầu cầu Chương Dương - Hà Nội, tạo được
niềm tin và uy tín của ngành với Thủ đô Hà Nội. Kết quả được Nhà nước
công nhận là công trình chất lượng cao. Tổng mức đầu tư là 78 tỷ đồng.
*Dự án đường nối từ quốc lộ 32 qua trung tâm thể dục thể thao Quốc
gia (Đường Seagames):
Đây là công trình thực hiện đúng tiến độ, có chất lượng tốt nhất, mỹ
quan được lãnh đạo UBND Thành phố Hà Nội đánh giá cao, công tác quản lý
chỉ đạo của Ban quản lý dự án 5 được Bộ GTVT khen ngợi. Mặc dù công
trình ban đầu gặp nhiều khó khăn là khâu giải phóng mặt bằng, nhưng công
trình đã được thi công hoàn thành đúng tiến độ của dự án. Ngày 17/6/2003
công trình đã được bàn giao đưa vào khai thác, phục vụ Seagames 22 tổ chức
tại Việt Nam. Dự án có tổng mức vốn đầu tư 150 tỷ đồng.
* Tiếp theo các dự án trên, Bộ GTVT giao cho Ban quản lý 5 quản lý
nhiều dự án khác:
- Dự án nâng cấp tỉnh lộ 18 tỉnh khu vực phía Bắc vốn ADB đã được
khởi công tháng 6/2003. Với tổng mức vốn đầu tư 100 triệu USD,các tỉnh
đang triển khai thi công.
- Dự án nâng cấp,cải tạo quốc lộ 3 đoạn Bờ đậu- Thuỷ Khẩu dài 257km
với đầu tư 544 tỷ đồng có 13 gói thầu đang thi công. Hai đoạn tránh thị xã
Cao Bằng và thị xã Bắc Kạn được lập dự án tách riêng với tổng mức đầu tư
gần 400 tỷ đồng.
kinh phí theo khối lượng trình.
1.5. Căn cứ vào khối lượng đề cương được Bộ GTVT duyệt, tư vấn tiến
hành khảo sát lập b/c NCKT.
1.6. Tư vấn trình b/c NCKT (gồm: hồ sơ khảo sát và hồ sơ thiết kế).
1.7. Ban 5 chuyển báo cáo nghiên cứu khả thi tới Tư vấn thẩm định,
đồng thời chuyển đến các Cục và Vụ trong Bộ GTVT để xem xét, cho ý kiến.
1.8. Ban 5 trình b/c NCKT đến Vụ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ GTVT:
phòng dự án xem xét về sự phù hợp của báo cáo (bao gồm cả khối lượng) và
phòng kế hoạch xét tổng mức đầu tư (sự phù hợp về đơn giá).
1.9. Vụ Kế hoạch đầu tư chủ trì họp thẩm định b/c NCKT
1.10. Bộ GTVT ra quyết định phê duyệt dự án (quy mô và tổng mức đầu
tư).
5.2. Giai đoạn thực hiện đầu tư:
♦ Giai đoạn duyệt thiết kế kỹ thuật:
2.1.Ban (phòng Kế hoạch) ký hợp đồng với tư vấn thiết kế kỹ thuật và tư
vấn thẩm định thiết kế kỹ thuật.
2.2. Tư vấn trình đề cương khảo sát (khối lượng và chi phí) giai đoạn
thiết kế kỹ thuật.
2.3. Ban 5 (phòng dự án xét khối lượng và phòng kế hoạch xét kinh phí)
trình đề cương tới Cục giám định và quản lý chất lượng công trình giao thông.
2.4. Căn cứ vào khối lượng đề cương thiết kế kỹ thuật được duyệt, tư vấn
tiến hành khảo sát lập thiết kế kỹ thuật.
2.5. Tư vấn trình hồ sơ thiết kế kỹ thuật (gồm: hồ sơ khảo sát và hồ sơ
thiết kế).
2.6. Ban chuyển hồ sơ thiết kế tới Tư vấn thẩm định dể xem xét cho ý
kiến.
2.7. Ban (phòng dự án xem xét về sự phù hợp của thiết kế kỹ thuật, bao
gồm cả khối lượng và phòng kế hoạch xét tổng mức đầu tư) trình b/c NCKT
tới Cục Giám định và Bộ GTVT.
2.8. Bộ GTVT ra quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật (quy mô và dự
4.3. Ban xem xét, thẩm tra và phê duyệt Bản vẽ thi công.
4.4. Nhà thầu có thể xin tạm ứng 20% giá trị hợp đồng trước (theo quy
định của Nhà nước).
4.5. Nhà thầu huy động máy móc, vật tư, vật liệu tới công trường.
4.6. Ban và tư vấn giám sát kiểm tra đối chiếu với hồ sơ dự thầu.
4.7. Nhà thầu tiến hành thi công các hạng mục công trình:
- Trước khi thi công nhà thầu phải tiến hành đệ trình các biện pháp thi
công chi tiết, biện pháp đảm bảo an toàn giao thông, an toàn lao động, vệ sinh
môi trường , an toàn cháy nổ,.. tới tư vấn giám sát để được chấp nhận các biện
pháp trên.
- Nhà thầu thi công với sự giám sát của tư vấn giám sát.
4.8. Ban và tư vấn giám sát nghiệm thu các hạng mục công trình trước
khi tiến hành thi công các hạng mục công trình tiếp theo.
4.9. Nhà thầu lập biểu thanh toán các phần khối lượng công việc đã thực
hiện có chứng nhận của tư vấn giám sát.
4.10. Ban kiểm tra đối chiếu các khối lượng công việc đã thực hiện, nếu
đúng sẽ lập biểu thanh toán và chuyển ra kho bạc Nhà nước để thanh toán.
4.11. Sau khi thi công hoàn thiện công trình, Ban và tư vấn sẽ tiến hành
nghiệm thu công trình.
4.12. Ban thuê tư vấn kiểm định để tiến hành đánh giá kiểm định công
trình.
4.13. Nhà thầu thực hiện công tác bảo hành công trình.
4.14. Nhà thầu lập bản vẽ hoàn công. Ban chấp thuận bản vẽ hoàn công.
4.15. Hết thời hạn bảo hành mà không có sự cố sai sót, ban kết hợp với
nhà thầu, đơn vị khai thác công trình tiến hành bàn giao công trình để đưa vào
khai thác sử dụng.
4.16. Ban tiến hành công tác kiểm toán và quyết toán công trình.
Tiến trình thực hiện dự án tại Ban 5 có thể tóm tắt thành sơ đồ như sau:
- Ký hợp đồng với
tư vấn
- Bộ GTVT phê
duyệt TKKT
- Bộ GTVT phê
duyệt KHĐT và
HSMT
- Thông báo mời
thầu
- Bán HSMT
- Tổ chức đi thăm
tuyến
- Mở thầu
- Chấm thầu
- Trình kết quả xét
thầu tới Cục GĐ,
Bộ GTVT
- Bộ GTVT công
nhận nhà thầu
thắng thầu
- Công bố thắng
thầu
- Thương thảo hợp
đồng
- Ký kết hợp đồng
- Công bố thực
hiện
- Bàn giao
mặt bằng
- Thẩm tra,
phê duỵêt
Bản vẽ thi
động, am hiểu về đấu thầu trong ngành giao thông vận tải. Các cán bộ trong
phòng đều tốt nghiệp các trường đại học như: Xây dựng, Giao thông vận tải,
Kinh tế quốc dân…và một số cán bộ là nghiên cứu sinh ở nước ngoài về. Một
số cán bộ tuy trẻ tuổi nhưng rất có kinh nghiệm, làm việc rất hiệu quả. Tuy
nhiên, một số cán bộ do mới tiếp xúc với công việc nên vẫn còn hơi bỡ ngỡ
và thiếu kinh nghiệm cần phải đào tạo, bồi dưỡng nhiều.
2. Đặc điểm các gói thầu của các dự án mà Ban đã và đang quản lý:
PMU5 đựơc coi là một trong những Ban quản lý dự án làm việc có tính
chuyên nghiệp và bài bản của Bộ GTVT. Có thể nói như vậy vì những dự án
mà PMU5 quản lý thường xuyên gặp phải không ít khó khăn trong quá trình
triển khai thực hiện, các công trình đều đi qua nhiều địa phương khác nhau.
Tuy vậy, nhưng nhiều dự án do PMU5 quản lý thực hiện vẫn đảm bảo đúng
tiến độ và chất lượng.
a) Quy mô của các gói thầu lớn:
Các dự án mà Ban tiến hành quản lý đều có mức tổng vốn đầu tư lớn do
vậy các gói thầu được phân chia từ các dự án này cũng có quy mô rất lớn, giá
trị của các gói thầu thường khoảng vài chục tỷ đồng, thậm chí có gói thầu đến
hàng trăm tỷ đồng.Ví dụ như dự án nâng cấp quốc lộ 3 đoạn Bờ Đậu - Thuỷ
Khẩu, nguồn vốn từ ngân sách Chính phủ, dự án này có tổng mức vốn đầu tư
giai đoạn 1 là 545 tỷ đồng và được chia thành 16 gói thầu; tổng mức đầu tư
giai đoạn 2 là 1.291 tỷ đồng.
b) Yêu cầu cao về kỹ thuật:
Quy mô của các gói thầu rất lớn, do vậy các gói thầu đều có những yêu
cầu khắt khe về kỹ thuật. Với một số vốn đầu tư lớn như vậy thì chất lượng
của công trình cũng phải được đảm bảo một cách tốt nhất. Do vậy, nhà thầu
muốn nhận được các gói thầu phải đưa ra được các biện pháp tốt nhất để đáp
ứng những yêu cầu rất cao về mặt kỹ thuật xây dựng công trình. Hơn nữa, đó
là những gói thầu công trình giao thông, nên nếu không có những yêu cầu cao
về kỹ thuật thì sẽ không đảm bảo an toàn giao thông, gây nhiều nguy hiểm
cho người dân khi công trình đi vào sử dụng. Phần lớn các gói thầu là các dự
thành phố, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước, đưa nước ta dần trở thành nước công nghiệp. Ví dụ như dự
án nâng cấp cải tạo quốc lộ 3 từ km134-km199 hoàn thành đã góp phần cho
công tác vận tải phục xây dựng Nhà máy thuỷ điện Sơn La và phục vụ phát
triển kinh tế an ninh, quốc phòng cho cả miền Tây Bắc, góp phần cải thiện đời
sống cho nhân dân các dân tộc vùng cao.
d) Sự khác nhau về đấu thầu các gói thầu sử dụng vốn trong nước và gói
thầu sử dụng vốn nước ngoài :
Tại PMU5, nguồn vốn của các dự án bao gồm cả vốn trong nước và vốn
nước ngoài. Ban xây dựng 2 phòng dự án 1 và 2, phòng dự án 1 quản lý các
dự án sử dụng vốn vay nước ngoài và phòng dự án 2 quản lý các dự án sử
dụng vốn trong nước. Tuy nhiên đối với các dự án sử dụng vốn nước ngoài
thường có mục đích là đầu tư cho việc phát triển các tuyến đường giao thông
nông thôn (18 tỉnh thành) nhằm giúp xoá đói giảo nghèo, nâng cao đời sống
cho người dân ở nông thôn… nên các gói thầu thường có quy mô nhỏ, giá trị
gói thầu chỉ vào khoảng từ 7 đến 10 tỷ đồng/gói. Trong khi các dự án sử dụng
vốn trong nước (phần lớn là vốn ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính
phủ) có quy mô thường từ 10 đến 30 tỷ đồng /gói.
Việc đấu thầu các dự án sử dụng vốn nước ngoài mà chủ yếu là vốn vay
từ Ngân hàng Thế giới, vốn hỗ trợ phát triển, vốn vay ADB… thì ngoài việc
phải tuân theo các quy định về đấu thầu tại Việt Nam còn phải đáp ứng các
điều kiện, quy định của tổ chức cho vay vốn. Ví dụ như khi tham gia dự thầu
các dự án ADB tài trợ thì các doanh nghiệp và công ty sau bị xem là không có
tư cách hợp lệ khi tham gia đấu thầu (theo công văn số 1552/BKH/KTĐN
ngày 19/3/2004):
- Có các cổ đông chi phối thuộc bên đối tác của dự án (nhà nước Việt Nam);
- Được một hoặc nhiều bên đối tác của dự án bao cấp trực tiếp hoặc gián
tiếp;
- Có quan hệ với bên đối tác thông qua bên thứ 3, có thể có thông tin ảnh
hưởng tới việc dự thầu;
thầu 1 túi hồ sơ, đấu thầu 2 túi hồ sơ, và đấu thầu 2 giai đoạn. Tuy nhiên, đấu
thầu 2 túi hồ sơ chỉ áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn trong khi tại
PMU 5 tuyển chọn tư vấn lại dùng hình thúc chỉ định thầu; còn đấu thầu 2
giai đoạn thì chỉ cáp dụng đối với các gói thầu xây lắp có giá trị từ 500 tỷ
đồng trở lên, nhưng những gói thầu như thế không có tại Ban vì vậy phương
thức đấu thầu 1 túi hồ sơ là phù hợp nhất và được Ban áp dụng cho tất cả các
cuộc đấu thầu mà Ban đã tổ chức.
Phương thức thực hiện hợp đồng mà Ban 5 thường sử dụng là: hợp
đồng trọn gói đối với những gói thầu mà thời gian thực hiện ≤ 12 tháng, hợp
đồng có điều chỉnh giá đối với những gói thầu mà thời gian thực hiện > 12
tháng.
4. Quy trình đấu thầu tại Ban 5:
Sau khi được Bộ GTVT phê duyêt thiết kế kỹ thuật của dự án, Ban
QLDA5 với tư cách là chủ đầu tư sẽ tiến hành công tác đấu thầu dự án. Quy
trình đấu thầu tại Ban 5 được thực hiện theo Quy chế đấu thầu mà ban hành
kèm theo Nghị định số 88/1999/ NĐ- CP ngày 5-5-200 và Nghị định số
66/2003/NĐ – CP ngày 12-6-2003 của Chính phủ ,Thông tư 04/TT-BKH
ngày 26-5-2000, Thông tư số 01/2004/TT-BKH ngày 2-2-2004 của Bộ Kế
Hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện Quy chế đấu thầu. Cũng như các quy
định của nguồn vốn và sự vận dụng linh hoạt phù hợp với các điều kiện đặc
thù đã hình thành nên trình tự đấu thầu ở Ban QLDA5.
4.1. Bước 1: Chuẩn bị đấu thầu
Giai đoạn này bao gồm rất nhiều khâu và do bên mời thầu lập. Dựa trên
các công việc cụ thể trong dự án đã được phê duyệt, Ban sẽ căn cứ vào tình
hình thực tế của mình, vào tính chất các công việc và mối quan hệ giữa chúng
để xác định thứ tự các công việc cụ thể của dự án. Vì thế ngay từ đầu kế
hoạch thực hiện các công việc cụ thể của dự án phải được xây dựng một các
khoa học, logic. Nội dụng của giai đoạn này bao gồm:
B1.1. Lập kế hoạch đấu thầu:
Kế hoạch đấu thầu được lập và trình duyệt để làm cơ sở cho việc thực
7. Thời gian thực hiện hợp đồng.
Có thể nói trong các nội dung trên thì nội dung phân chia dự án thành
các gói thầu là nội dung quan trọng hơn cả. Bởi lẽ gói thầu chính là căn cứ tổ
chức đấu thầu và xét thầu. Việc phân chia này phải đảm bảo tính hợp lý, tính
đồng bộ của dự án và làm giảm được chi phí đấu thầu của dự án.Việc phân
chia dự án thành gói thầu căn cứ vào công nghệ, tính chất kỹ thuật hoặc trình
tự thực hiện dự án.
Việc phân chia dự án thành các gói thầu tại PMU5 tuân theo các quy
định tại Quy chế đấu thầu và các quy định riêng của Bộ GTVT đối với các dự
án sử dụng vốn trong nước. Phòng dự án cùng với tư vấn thiết kế thực hiện
công việc này. Trước tiên, dựa vào tổng mức đầu tư được phê duyệt, phòng
dự án sẽ xem xét xem dự án này thuộc nhóm A, B hay C. Theo như quy định
của Bộ GTVT về công tác đấu thầu xây lắp các dự án đầu tư xây dựng bằng
nguồn vốn trong nước của quyết định số 06/2005/QĐ-BGTVT ngày 4/1/2005
việc phân chia gói thầu xây lắp cần đảm bảo giá trị mỗi gói thầu trong khoảng
như sau:
- Dự án nhóm C: đối với dự án có tổng mức đầu tư trên 15 tỷ đồng, phần
xây lắp phân thành 1 đến 2 gói thầu; dự án có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ
đồng, phần xây lắp phân thành 1 gói thầu.
- Dự án nhóm B: Các gói thầu xây lắp có giá trị khoảng từ 30 -50 tỷ tuỳ
thuộc quy mô và giá trị tổng mức đầu tư. Đối với nhóm này, dự án có giá trị
phần xây lắp nhỏ hơn 30 tỷ đồng quy định toàn bộ phần xây lắp là 1 gói thầu.
- Dự án nhóm A: Các gói thầu xây lắp có giá trị ít nhất khoảng 70 tỷ đồng.
Khuyến khích phân chia các gói thầu xây lắp có giá trị lớn hơn 100 tỷ đồng.
Sau đó, phòng dự án sẽ xác định khối lượng xây lắp của dự án tiến
hành đấu thầu là bao nhiêu, dự án có thể chia thành mấy gói thầu, mỗi gói
thầu có giá trị khoảng bao nhiêu, mỗi gói thầu cần đảm bảo những yêu cầu thế
nào về kỹ thuật…Gói thầu được phân chia phải đảm bảo tối thiểu các yếu tố:
- Gói thầu được phân chia sao cho công tác cung cấp, xây lắp được gói
gọn trong các hạng mục hoàn chỉnh.
thực hiện hợp đồng đó là :
● Hợp đồng trọn gói: là hợp đồng thực hiện theo giá khoán gọn. Phương
thức này áp dụng cho các gói thầu mà đối tượng thi công là các hạng mục
công trình có tính chất kỹ thuật không phức tạp lắm, thời gian thi công
nhanh, dưới 12 tháng.
● Hợp đồng có hiệu chỉnh giá: Là hợp đồng mà giá cả có sự điều chỉnh
giá trong quá trình thực hiện hợp đồng. Phương thức này được áp dụng đối
với các gói thầu có thời gian thực hiện trên 12 tháng nên thường có sự biến
đồng về giá đối với ba yếu tố chủ yếu là nguyên vật liệu, thiết bị và lao động.
Ngoài ra có thể cũng vì do tính chất phức tạp của nó mà ngay cả tư vấn cũng
không khẳng định được là đã dự toán chính xác được mọi công việc.
Việc điều chỉnh giá được tiến hành với các điều kiện sau:
+ Trong hồ sơ mời thầu được phê duyệt có quy định điều kiện, giới hạn
và công thức điều chỉnh giá;
+ Được các bên liên quan xác nhận là :
- Do thay đổi thiết kế không do nhà thầu gây ra
- Khi có sự thay đổi về giá do chính sách Nhà nước (tính từ tháng 13)
+ Tổng giá sau điều chỉnh < Tổng dự toán và Tổng dự toán < Tổng mức
đầu tư.
Giá trị hợp đồng được điều chỉnh trong các trường hợp sau:
a) Khi có những khối lượng, số lượng phát sinh do thay đổi thiết kế
(không phải do nhà thầu gây ra):
- Nếu những phát sinh đã có đơn giá trong hợp đồng gốc thì giá trị phần
khối lượng, số lượng phát sinh được tính theo giá của hợp đồng gốc (Khoản
6- điều 1- nghị định 66/CP);
- Nếu những phát sinh không có đơn giá trong hợp đồng gốc thì giá trị
phần khối lượng, số lượng phát sinh được tính theo đơn giá do Nhà nước quy
định tại thời điểm phát sinh được cấp có thẩm quyền phê duyệt để áp dụng
(Khoản 6- điều 1- NĐ 66/CP);
- Nếu khối lượng công việc đã có trong hợp đồng nhưng khi thực hiện